Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp

- trang 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, do sự tác động của quy luật kinh tế trong đó
có quy luật cạnh tranh nên đã làm nảy sinh các mối quan hệ mới mà bản thân
kinh tế kế hoạch hoá không hàm chứa được. Đó là hiện tượng phá sản.
Tuy nhiên phá sản là một vấn đề từ lý luận đến thực tiễn là một quá trình
tìm hiểu và nghiên cứu bởi khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản nó sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến nền kinh tế và đặc biệt là quyền lợi của người lao động ít
nhiều sẽ bị xáo trộn như tiền lương, các chế độ, việc làm và các vấn đề tiêu cực
phát sinh và các khoản nợ của doanh nghiệp và hợp tác xã.
Khi một doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản đã làm
nảy sinh nhiều mối quan hệ phức tạp cần được giải quyết. Chẳng những quan hệ
nợ nần giữa các chủ nợ với doanh nghiệp mắc nợ, quan hệ giữa doanh nghiệp
mắc nợ với người lao động do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ gây ra. Vì
vậy việc giải quyết kịp thời các vấn đề đó có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thiết
lập một trật tự cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo
quyền chủ thể của các mối quan hệ hay các bên liên quan.
Đối với nước ta việc phá sản vẫn là một vấn đề mới mẻ. Cho nên thực tiễn
giải quyết phá sản của nước ta trong thời gian qua còn gặp không ít khó khăn
vướng mắc. Chính vì vậy mà việc nắm bắt, hiểu biết đầy đủ về thủ tục giải quyết
yêu cầu tuyên bố phá sản của doanh nghiệp là sự cần thiết và cấp bách. Vì
những lý do trên nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Một số vấn đề về phá
sản doanh nghiệp” nhằm để tìm hiểu thêm một phần nào đó về luật phá sản của
nước ta hiện nay. Vì vậy mà việc tìm hiểu về những việc làm của doanh nghiệp,
hợp tác xã trước khi lâm vào tình trạng phá sản là một vấn đề quá sâu rộng mà
trong thời gian ngắn ngủi nhóm của chúng em không thể nào tìm hiểu được hết,
mà chúng em chỉ cố gắng nắm bắt được một phần nào đó về luật phá sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã. Trong thời kỳ kinh tế hiện nay của nước ta thì càng
phải biết rõ thêm về luật kinh doanh mà luật phá sản là một phần rất nhỏ trong
hệ thống luật pháp nhà nước ta khi mới vừa gia nhập WTO.
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 2 -
THỰC TRẠNG – VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT VIỆC PHÁ SẢN
THEO PHÁP LUẬT
A. Nhận thức chung về phá sản
So với Luật phá sản 1993 luật phá sản 2004 đã có bổ sung nhiều quy định
mới về thủ tục phá sản của Doanh nghiệp, Hợp tác xã về thủ tục phá sản. Trong
phạm vi bài làm dưới đây chúng em chỉ tiếp cận một số nội dung mới trong sự
đổi mới bổ sung giữa Luật 2004 và 1993.
Theo Điều 5 LPS 2004:Thủ tục phá sản
1. Thủ tục phá sản được áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản bao gồm:
a) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;
b) Phục hồi hoạt động kinh doanh;
c) Thanh lý tài sản, các khoản nợ;
d) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.
Như vậy ta có thể hiểu thủ tục phá sản là một thủ tục lớn bao gồm nhiều
thủ tục cấu thành (thủ tục nhỏ) và giữa những thủ tục cấu thành đó có mối liên
hệ với nhau theo những nguyên tắc khác nhau. Tính thứ tự, nối tiếp nhau không
phải là yếu tố bắt buộc giữa các thủ tục cấu thành. Đây là bước phát triển về lý
luận của pháp luật phá sản nước ta.
Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 tuy cũng có những quy định về phục hồi
hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp nhưng Luật chưa thừa
nhận những nội dung đó là những thủ tục cấu thành độc lập, chưa nhìn nhận
được tính đặc thù về mối quan hệ giữa các thủ tục đó. Trong Luật Phá sản doanh
nghiệp 1993, phục hồi hoạt động kinh doanh gần như là một hoạt động bắt buộc
trước hoạt động thanh lý. Chỉ sau khi phục hồi không thành công – thực hiện kế
hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh không đem lại kết quả, con nợ vi phạm
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 3 -
cam kết hoặc Hội nghị chủ nợ không chấp nhận kế hoạch phục hồi hoặc con nợ
không có kế hoạch thì lúc đó Tòa án mới có thể quyết định chuyển sang tuyên
bố phá sản với con nợ và thanh lý tài sản của nó. Giải quyết mối quan hệ giữa
hai thủ tục phục hồi và thanh lý như vậy là cứng nhắc và máy móc.
Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu
giải quyết tuyên bố phá sản đã có nhiều con nợ ngừng hoạt động, hoàn toàn
không còn khả năng phục hồi nhưng do Luật quy định, thẩm phán vẫn phải tuần
tự thực hiện các quy định của thủ tục phục hồi. Điều này chỉ làm kéo dài thời
gian vô ích, không có ý nghĩa gì cả.
Điểm tiến bộ được khá nổi bật trong Luật phá sản 2004 chính là những
quy định về mối quan hệ đặc thù giữa các thủ tục cấu thành trong thủ tục phá
sản. Điều này cho phép Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản một cách
uyển chuyển tùy thuộc vào những tình huống cụ thể. Tòa án có thể quyết định
tuyên bố phá sản với con nợ ngay mà không cần thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố
phá sản (khoản 1 Điều 87 Luật phá sản 2004: Trong thời hạn ba mươi ngày, kể
từ ngày hết thời hạn nộp tiền tạm ứng phí phá sản do Tòa án ấn định, chủ doanh
nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản không còn tiền và tài sản khác để nộp tiền tạm ứng phí phá
sản thì Toà án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản).
Hoặc sau khi thụ lý (khoản 2 Điều 87: Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản và nhận các tài liệu, giấy tờ do các bên có liên quan gửi đến, Toà án
ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, nếu doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không còn tài sản hoặc còn nhưng không
đủ để thanh toán phí phá sản.) hoặc khi đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều
86: Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đồng
thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản). Thủ tục phục hồi
không còn là một thủ tục bắt buộc trước thủ tục thanh lý tài sản trong tiến trình
giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Không những thế, khi mà nhiệm vụ của thủ
tục này không thể thực hiện được hoặc thực hiện không thành công thì có thể
chuyển đổi sang thủ tục thanh lý tài sản ngay (Điều 79, 80).
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 4 -
Khi xem xét về phá sản cũng cần phân biệt sự giống và khác nhau
giữa phá sản và giải thể :
* Giống nhau:
-Doanh nghiệp ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh
-Bị thu hồi con dấu và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
-Phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản
* Khác nhau:


Phá sản doanh nghiệp
- Phá sản khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các khoản
nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.
- Phá sản theo quyết định của Tòa án (Nói cách khác giải thể doanh nghiệp
thực hiện theo trình tự thủ tục của luật doanh nghiệp, phá sản thực hiện theo
trình tự thủ tục của luật phá sản).
- Phá sản sẽ chuyển quyền điều hành cho một ủy ban tạm thời quản lý để
giải quyết tình trạng công nợ trên cơ sở phân chia toàn bộ tài sản của doanh
nghiệp sau khi thanh lý một cách hợp lý cho tất cả các chủ nợ liên quan trong
giới hạn của số tài sản đó.
- Chủ doanh nghiệp sau khi phá sản hầu như không có quyền gì liên quan
đến tài sản của doanh nghiệp.
- Giám đốc doanh nghiệp phá sản phải ngừng giữ chức giám đốc ở một
doanh nghiệp khác ít nhất là hai năm.


Giải thể doanh nghiệp
- Giải thể xuất phát chủ yếu từ ý chí chủ quan của chủ sở hữu Doanh nghiệp
tư nhân, tất cả các thành viên hợp danh (Công ty hợp danh), Hội đồng thành
viên, chủ sở hữu Công ty (Công ty TNHH), Đại hội đồng cổ đông (Công ty cổ
phần) khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không tìm được hướng đi mới.
- Giải thể theo quyết định của chủ Doanh nghiệp (Doanh nghiệp tư nhân),
tất cả các thành viên hợp danh ( Công ty hợp danh), Hội đồng thành viên, chủ sở
hữu Công ty (Công ty TNHH), Đại hội đồng cổ đông (Công ty cổ phần).
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 5 -
- Doanh nghiệp giải thể chỉ đơn thuần là giải quyết dứt điểm tình trạng
công nợ, Thanh lý tài sản chia cho các cổ đông, trả giấy phép.
- Doanh nghiệp giải thể sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản vẫn có
thể chuyển sang một ngành nghề kinh doanh khác nếu có thể.
- Giám đốc doanh nghiệp giải thể có thể đứng ra thành lập, điều hành công
ty mới.
B. Giải quyết việc phá sản theo pháp luật hiện hành (thủ tục giải quyết
yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp)
I. Những đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá
sản doanh nghiệp :
*Đối tượng có quyền:
-Chủ nợ có bảo đảm một phần: là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo
đảm ít hơn khoản nợ đó.
-Chủ nợ không có bảo đảm: là chủ nợ có khoản nợ không bảo đảm bằng tài
sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc người thứ ba.
-Người lao động: Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả
được lượng, các khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấy doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì đại diện Công đoàn hoặc đại diện
người lao động (nơi chứa có tổ chức Công đoàn) có quyền nộp đơn yêu cầu giải
quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
-Đối với công ty hợp danh: Theo điều 18 Luật phá sản (khi nhận thấy công
ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản thì thành viên hợp danh có quyền nộp
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh).
Điều 18. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của thành viên hợp
danh
1. Khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản thì thành
viên hợp danh có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp
danh đó.
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 6 -
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn
yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này.
-Đối với Doanh nghiệp nhà nước: Theo điều 16 luật phá sản (khi nhận thấy
doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng phá sản mà doanh nghiệp không thực
hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì đại diện chủ sở hữu của
doanh nghiệp có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh
nghiệp).
Điều 16. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu doanh
nghiệp nhà nước
1. Khi nhận thấy doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng phá sản mà
doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì
đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản đối với doanh nghiệp đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn
yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này.
-Đối với công ty Cổ phần: Theo điều 17 Luật phá sản (khi nhận thấy công
ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền
nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của điều lệ công ty).
Điều 17. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các cổ đông công
ty cổ phần
1. Khi nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản thì cổ đông
hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định
của điều lệ công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn được
thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông. Trường hợp điều lệ công ty
không quy định mà không tiến hành được đại hội cổ đông thì cổ đông hoặc
nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít
nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty cổ
phần đó.
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 7 -
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn
yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này, trừ các giấy tờ,
tài liệu quy định tại các điểm d, đ và e khoản 4 Điều 15 của Luật này.
*Đối với nghĩa vụ:
Theo điều 15 Luật phá sản (khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm
vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh
nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã).
Điều 15. Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp,
hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản:
1. Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì
chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa
vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có thẩm
quyền quy định tại Điều 7 của Luật này.
4. Phải nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản các giấy tờ, tài liệu
sau đây:
a) Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã,
trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả
năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải
được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác
nhận;
b) Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện,
nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn;
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 8 -
c) Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có
tài sản nhìn thấy được;
d) Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên,
địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn
có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và
không có bảo đảm;
đ) Danh sách những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó
ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn
có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và
không có bảo đảm;
e) Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp mắc
nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản
nợ của doanh nghiệp;
g) Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải
cung cấp theo quy định của pháp luật.
5. Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã
lâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phải
chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
II. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp và t hủ tục tuyên bố phá sản :
Thẩm quyền của tòa án:.
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhận đơn và giải
quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã theo Luật hợp tác xã đã đăng ký kinh
doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh thành phố.
Toà án nhân dân huyện, quận có thẩm quyền nhận đơn và giải quyết yêu cầu
mở thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng
ký kinh doanh cấp huyện, quận đó.
Những người có quyền nộp đơn:
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 9 -
- Chủ nợ
- Người lao động trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được
lương, các khoản nợ khác cho người lao động.
- Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước
- Các cổ đông công ty cổ phần
- Thành viên hợp danh công ty hợp danh.
Những người có nghĩa vụ nộp đơn:
- Doanh nghiệp, Hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
▪ Hồ sơ cần thiết:
I. Người nộp đơn là chủ nợ
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của ngời làm đơn;
c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
d) Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn
mà không đợc doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;
đ) Quá trình đòi nợ;
e) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
II. Người nộp đơn là người lao động
1. Đại diện cho người lao động được cử hợp pháp sau khi được quá nửa số
người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã tán thành bằng cách bỏ phiếu kín
hoặc lấy chữ ký; đối với doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô lớn, có nhiều đơn vị
trực thuộc thì đại diện cho người lao động được cử hợp pháp phải đựơc quá nửa
số người được cử làm đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của ngừơi làm đơn;
c) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;
d) Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và các khoản nợ khác mà
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC
- trang 10 -
doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được cho người lao động;
đ) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
III. Người nộp đơn là doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
1. Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì
chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa
vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
2. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã;
c) Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
3. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có thẩm
quyền quy định tại Điều 7 của Luật phá sản.
4. Phải nộp kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản các giấy tờ, tài liệu
sau đây:
a) Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã,
trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả
năng thanh toán; nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải
được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải đựơc tổ chức kiểm toán độc lập xác
nhận;
b) Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện,
nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn;
c) Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có
tài sản nhìn thấy được (mẫu 1).
d) Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên,
địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn
có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và
không có bảo đảm (mẫu 2).
đ) Danh sách những ngươì mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó
ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn
Đề tài tiểu luận nhóm 2 “Một số vấn đề về phá sản doanh nghiệp” – ĐHKT04TC