Đánh giá xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm rủi ro sau khi Việt Nam gia nhập WTO

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Đánh giá xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm rủi ro sau khi Việt Nam gia nhập WTO

PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................
.........................................................................................................................
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM RỦI RO
1.1. Một số vấn đề chung về bảo hiểm
1.1.1. Bảo hiểm rủi ro và nguyên tắc hoạt động
1.1.1.1. Khái niệm
1.1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm rủi ro
1.1.1.3. Nguyên tắc hoạt động
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm rủi ro
1.2. Thị trường bảo hiểm.
1.2.1. Các chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm
1.2.2. Các yếu tố trong hợp đồng bảo hiểm
1.2.3. Các sản phẩm của bảo hiểm rủi ro
1.2.3.1. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm
1.2.3.2. Phân loại dựa vào tính chất nghiệp vụ của các loại bảo hiểm
CHƯƠNG II: THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM SAU KHI
GIA NHẬP WTO
2.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của thị trường bảo
hiểm Việt Nam.
2.2. Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO liên quan đến
bảo hiểm
2.2.1. Nội dung các cam kết
2.2.1.1. Những cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam tại WTO
2.2.1.2. Các cam kết của Việt Nam tại Hiệp định Thương mại Việt Mỹ
2.2.2. Những ảnh hưởng đến bảo hiểm Việt Nam của các cam kết trên.
2.2.2.1. Về cam kết cung cấp dịch vụ qua biên giới
2.2.2.2. Về các cam kết hiện diện thương mại
2.2.2.3. Cam kết liên quan đến kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc
2.2.2.4. Cam kết xoả bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc sau
2.3. Thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay
2.3.1. Trước khi Việt Nam gia nhập WTO
2.3.2. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO
2.3.2.1. Đặc điểm của nền kinh tế xã hội và thị trường bảo hiểm 2007
2.3.2.1.1. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ
2.3.2.1.2. Bảo hiểm nhân thọ
2.3.2. 2. Những năm tiếp theo
CHƯƠNG III: NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP
CHO BẢO HIỂM VIỆT NAM
3.1. Những cơ hội của ngành bảo hiểm khi Việt Nam gia nhập WTO.
3.2. Những thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm khi Việt Nam
gia nhập WTO
3.3. Một số giải pháp và đề xuất cho bảo hiểm trong giai đoạn tới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đều biết, trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày cũng
như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dù đã chú ý ngăn ngừa đề
phòng nhưng con người vẫn luôn phải đối mặt với nguy cơ rủi ro trong
mọi lĩnh vực. Các rủi ro xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân như môi
trường, các thảm họa thiên nhiên (bão lụt, hạn hán, động đất…), xã hội
(bệnh dịch, tai nạn...). Tất thảy mọi rủi ro đó đều đe dọa đến khả năng
tài chính của mỗi cá nhân, tổ chức những con người không may gặp tai
nạn. Để ngăn ngừa, khắc phục những rủi ro trên người ta nghĩ đến việc
tại sao không đoàn kết cộng đồng, liên hợp nhiều người lại để chia sẻ
mất mát với những con người kém may mắn đó? Một cá thể hay một
tập thể nhỏ nếu đơn phương gánh chịu những hậu quả nặng nề của một
hiểm hoạ thì thiệt hại đó có thể quá lớn thậm chí có thể dẫn tới phá sản.
Nhưng nếu phân tán được cho nhiều người thì rủi ro có thể bớt nặng nề,
ai nấy đều có thể gánh chịu dễ dàng mà không ảnh hưởng gì đến đời
sống và hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân mình. Như vậy xét
trên diện rộng là cả cộng đồng thì hành động này tận dụng được tối đa
mọi nguồn lực xã hội và lợi ích xã hội thu được là rất lớn. Ý niệm cộng
đồng hoá các rủi ro phát sinh đã dẫn tới hình thành các Công ty bảo
hiểm.
Với hình thức kinh doanh là loại hình bảo hiểm rủi ro, các công ty bảo
hiểm không chỉ giúp hạn chế những thiệt hại không mong muốn mà còn
mang lại cảm giác yên tâm cho các cá nhân, tổ chức trong cuộc sống
cũng như trong hoạt động kinh doanh của mình.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay làm thế nào để cho mọi người hiểu biết rõ
về Bảo Hiểm rủi ro và thấy được lợi ích to lớn của nó, từ đó thu hút
được nhiều người tham gia là một vấn đề đang gặp nhiều khó khăn. Để
làm được điều đó cần phải được sự quan tâm chung của các tổ chức xã
hội, không chỉ riêng ngành Bảo Hiểm. Xuất phát từ những suy nghĩ đó
nên nhóm chúng tôi sẽ đi phân tích đề tài “ Đánh giá xu hướng phát
triển của thị trường bảo hiểm rủi ro sau khi Việt Nam gia nhập WTO”.
2
CHƯƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM RỦI RO
1.1. Một số vấn đề chung về bảo hiểm
1.1.1. Bảo hiểm rủi ro và nguyên tắc hoạt động
1.1.1.1. Khái niệm.
Bảo hiểm rủi ro là một loại hình bảo hiểm có lịch sử phát triển
khá sớm. Khi giao lưu hàng hóa được mở mang giữa các nước, rủi ro
xảy ra cũng khá nhiều, đồng thời trong quá trình của sống con
người,nhiều yếu tố ngẫu nhiên cũng xảy ra đe dọa trực tiếp đến tính
mạng tài sản của họ. Để đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất và
đời sống các nước đã có nhiều cách bảo hiểm khác nhau,bảo hiểm rủi
ro là một trong các hình thức đó, cho đến nay bảo hiểm rủi ro còn gọi
là bảo hiểm thương mại và ở nước ta còn gọi là bảo hiểm nhà nước.
Mục đích chính của bảo hiểm rủi ro là bồi thường những thiệt hại
về của cải hay sức khỏe tính mạng con người bằng cách đảm nhận
những rủi ro đó.
Từ đó có thể hiểu: bảo hiểm rủi ro là hệ thống các quan hệ kinh
tế gắn liền với việc huy động các nguồn lực tài chính thông qua sự
đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm để lập quỹ
bảo hiểm, phân phối và sử dụng chúng để trả bồi thường cho người
tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro bất ngờ.
1.1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm rủi ro.
- Mục đích của bảo hiểm rủi ro trước hết là bồi đắp, bồi thường những
tổn thất cho các đối tượng bảo hiểm khi xảy ra sự cố bất ngờ nhưng bên
cạnh đó bảo hiểm rủi ro còn mang tính chất kinh doanh.
Tính chất vừa bồi hoàn vừa không bồi hoàn của bảo hiểm đóng vai trò
rất quan trọng đối với bảo hiểm rủi ro, nó đáp ứng được mục đích kinh
doanh của bảo hiểm này, tức là khi không xảy ra rủi ro thì không phải
bồi hoàn bảo hiểm phí sẽ tạo ra thu nhập cho người kinh doanh bảo
hiểm.
- Tính chất bồi hoàn của bảo hiểm rủi ro: không biết trước được thời
gian, không gian và quy mô, chỉ xác định được khi rủi ro thực tế xảy ra.
Đặc điểm này tạo ra tính nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm trong thời gian nhất
định, cho phép người bảo hiểm có thể sử dụng nó để tham gia vào thị
trường tài chính để sinh hoạt.
- Việc bồi thường tổn thất thực tế cho người tham gia bảo hiểm thường
rất lớn, lớn hơn rất nhiều lần so với số tiền bảo hiểm phí đã đóng góp.
1.1.1.3. Nguyên tắc hoạt động
Hoạt động bảo hiểm thường được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm rủi ro trước hết là bảo đảm quyền
lợi, lợi ích của người tham gia bảo hiểm.
Thực chất của hoạt động bảo hiểm là hoạt động mang tính phòng xa,
nhằm bảo đảm an toàn về tài sản, tính mạng, trách nhiệm dân sự của
3
người tham gia bao hiểm trước những rủi ro ngẫu nhiên xảy ra.Để thực
hiện nguyên tắc này tất yếu nhà nước phải có luật bảo hiểm để điều
chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực bảo hiểm nhằm đảm
bảo quyền lợi, lợi ích cho người tham gia bảo hiểm.
- Nguyên tắc hạch toán kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo
nguyên tắc hạch toán kinh doanh nghĩa là hoạt động kinh doanh các
lĩnh vực bảo hiểm phải thu được lợi nhuận, phải lấy lợi nhuận làm mục
tiêu hiệu quả kinh doanh. Bởi vì các doanh nghiệp kinh doanh trong
các lĩnh vực sản xuất lưu thông hành hóa các doanh nghiệp hoạt động
phải thu được lợi nhuận thì mới có điều kiện để bảo toàn và phát triển,
thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước.
Để thực hiện nguyên tắc này các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bảo
hieemr những rủi ro không lường trước được chứ không bảo hiểm
những rủi ro chắc chắn sẽ xảy ra hoặc đã xảy ra, đồng thời phải chủ
động tìm kiếm khách hàng, đổi mới hoạt động kinh doanh, mở rộng
các nghiệp vụ…
- Nguyên tắc an toàn tài chính.
An toàn tài chính là một trong những nguyên tắc quan trọng đặc biệt
của hoạt động bảo hiểm rủi ro. Yêu cầu của nguyên tắc này là các
doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải đảm bảo năng lực tài chính để
thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm, có biện pháp ngăn ngừa rủi ro làm
mất khả năng chi trả dẫn đến nguy cơ phá sản.
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm rủi ro
Vai trò của bảo hiểm rủi ro cũng chính là vai trò của các doanh nghiệp
bảo hiểm trong nền kinh tế. trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của
các doanh nghiệp bảo hiểm có vai trò rất to lớn.
Thứ nhất, góp phần ổn định sản xuất và đời sống.
Thông qua quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm, các
doanh nghiệp bảo hiểm tổn thất có hiệu quả sẽ giảm được khoản chi bồi
thường. Từ đó, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ cao hơn
đồng thời cũng mang lại sự an toàn chung cho xã hội.
Thứ hai, góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm rủi ro không chỉ là tấm lá chắn
kinh tế cho kinh doanh và đời sống của con người mà còn hoạt động
với tư cách là các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển kinh
tế xã hội. Doanh nghiệp được phép sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi của
mình để đầu tư nhưng phải tuân theo các nguyên tắc đã được quy định
của pháp luật.
Thứ ba, tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
4
Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp
phần thực hiện một nội dung trong các biện pháp rủi ro. Đó là đề phòng
và hạn chế mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy. Nhờ đó, những
thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu
quả về kinh tế - xã hội cũng được chủ động phòng tránh.
Thứ tư, tăng thu ngân sách nhà nước
Hàng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp một
phần không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, bảo hiểm đã
góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc tốt khâu phòng ngừa
và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng, giảm đến mức
thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc. Điều này giúp nhà nước giảm bớt
chi tiêu những khoản lớn để bù đắp những tổn thất như phải xây dựng
đường xá, cầu cống, nhà xưởng, công trình… Ngoài ra, một thị
trường bảo hiểm phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các cá nhân
và tổ chức mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm trong nước, góp phần
tiết kiệm một khoản ngoại tệ lớn cho ngân sách nhà nước.
Thứ năm, tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống.
Khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng
được nâng cao thì người ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho
tương lai. Môi trường kinh doanh cũng như môi trường xã hội đang dần
xuất hiện những rủi ro mới. Những rủi ro thiên nhiên như bão lũ, hạn
hán, cháy rừng tự nhiên… đang trở lên hết sức phức tạp. Thế giới đang
biến triển hết sức phức tạp, khó đoán như chiến tranh, khủng bố, xung
đột. trong tình hình như vậy, bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu,
góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh trong cuộc
sống cho con người.
1.2. Thị trường bảo hiểm.
1.2.1. Các chủ thể tham gia thị trường bảo hiểm.
- Người bảo hiểm: là chủ thể hay pháp nhân nào đó đứng ra chỉ đạo
việc tạo lập và diều khiển quá trình sử dụng quỹ bảo hiểm dược pháp
luật công nhận. Ví dụ: Các công ty bảo hiểm: Bảo Việt, Bảo Minh…
- Người tham gia bảo hiểm: là những thể nhân hay pháp nhân tham gia
đóng bảo hiểm phí dưới hình thức tự nguyện hay bắt buộc và khi xảy ra
sự cố hay tai nạn bảo hiểm theo quy định của pháp luận hay hợp đồng
bảo hiểm đã kí kết thì họ sẽ được quyền nhận bồi thường tổn thất.
- Người được bảo hiểm: là người vì tính mạng, sức khỏe của người đó
khiến người tham gia bảo hiểm đi đến kí kết hợp đồng bảo hiểm với
người bảo hiểm.
- Người được chỉ định hưởng bồi thường bảo hiểm: là người được tham
gia bảo hiểm chỉ định bằng văn bản với người bảo hiểm là người đó sẽ
5
được nhận bồi thường bảo hiểm khi có sự cố xảy ra hoặc khi người
dược bảo hiểm bị chết.
1.2.2. Các yếu tố trong hợp đồng bảo hiểm.
- Đối tượng bảo hiểm: là những cái gì mà người tham gia bảo hiểm yêu
cầu bảo hiểm hoặc do pháp luật quy định bắt buộc phải baỏ hiểm, có
thể là thân thể con người, tài sản, trách nhiệm dân sự…
- Rủi ro bảo hiểm: là mức độ hay khả năng xảy ra sự cố bảo hiểm, là
một trong những sự cố dự tính trong những điều kiện bảo hiểm mà khi
những sự cố này xảy ra thì người bảo hiểm bắt buộc phải tiến hành trả
tiền bồi thường tổn thất cho người tham gia bảo hiểm.
- Tai nạn bảo hiểm: Là sự cố bảo hiểm đã xảy ra kéo theo trách nhiệm
của người bảo hiểm phải bồi thường tổn thất cho người tham gia bảo
hiểm.
- Giá trị bảo hiểm: là giá trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm kí hợp
đồng bảo hiểm.
- Số tiền bảo hiểm: là số tiền tính cho từng loại tài sản được bảo hiểm
mà trong giới hạn đó người bảo hiểm phải tiến hành trả bồi thường tổn
thất khi tai nạn bảo hiểm xảy ra đối với bảo hiểm tài sản hoặc là số tiền
phải trả cho đời sống và sức khỏe đối với bảo hiểm thân thể.
- Phí bảo hiểm: là số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải đóng góp
cho người bảo hiểm về các đối tượng bảo hiểm.
1.2.3. Các sản phẩm của bảo hiểm rủi ro.
1.2.3.1. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm.
- Bảo hiểm tài sản: là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là giá
trị tài sản. Đây là hình thức bảo hiểm có lịch sử phát triển lâu dài. Mục
đích của loại bảo hiểm này là thỏa mãn nhu cầu về vật chất cho người
tham gia bảo hiểm khi xảy ra sự cố bất ngờ như thiên tai, hỏa hoạn,
trộm cắp…làm cho tài sản của họ bị hư hỏng, mất mát hoặc bị tiêu hủy
toàn bộ.
Mức tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm cao hay thấp tùy
thuộc vào tính chất của từng loại tài sản được bảo hiểm, phương thức
bảo hiểm và mức độ thiệt hại thực tế.
Bảo hiểm tài sản bao gồm các nghiệp vụ cụ thể như:
+ Bảo hiểm ô tô, xe máy (thân xe)
+ Bảo hiểm máy bay (thân và tài sản trên máy bay)
+ Bảo hiểm tàu thủy (thân và tài sản trên tàu)
+ Bảo hiểm vận chuyển hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu
+ Bảo hiểm đầu máy và toa xe…
+ Bảo hiểm tài sản cá nhân và doanh nghiệp
+ Bảo hiểm tín dụng
- Bảo hiểm con người (bảo hiểm thân thể)
Đây là hình thức bảo hiểm có đối tượng là đời sống sức khỏe,
khả năng lao động và tính mạng của con người.Mục đích của loại hình
6
bảo hiểm này là nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất cho người tham gia
bảo hiểm khi gặp những sự cố bất ngờ làm mất khả năng lao động, thiệt
hại về mặt sức khỏe, bị chết…Bảo hiểm con người không chỉ có tác
động phòng ngừa hạn chế và khắc phục kịp thời hậu quả do tai nạn bất
ngờ gây ra cho bảm than con người, đảm bảo cho cuộc sống đời thường
được ổn định mà còn thể hiện tính cộng đồng hóa rủi ro,tinh thần nhân
đạo, một trong những tiêu chí đạo đức cao quý của con người
Bảo hiểm con người bao gồm các nghiệp vụ sau:
+ Bảo hiểm nhân thọ
+ Bảo hiểm tai nạn lao động
+ Bảo hiểm tai nạn hành khách
+ Bảo hiểm tai nạn học sinh, sinh viên…
- Bảo hiểm dân sự:
Là hình thức bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự.
Đây là loại hình bảo hiểm mới được ra đời trên cơ sở tiến bộ của khoa
hoc kĩ thuật và sự phát triển của công nghệ quản lí của Nhà nước pháp
quyền.
Mục đích: nhằm giải phóng người tham gia bảo hiểm thoát khỏi yêu
cầu phải bồi thường tổn thất cho người khác do những hành vi hoạt
động của chính họ gây ra.
Phân loại:
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự lái xe cơ giới
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ hang hang không…
1.2.3.2. Phân loại dựa vào tính chất nghiệp vụ của các loại bảo hiểm
- Bảo hiểm bắt buộc: là hình thức bảo hiểm bắt buộc phảo bảo hiểm của
pháp luật nhà nước.
Đối tượng: cả người bảo hiểm lẫn người được bảo hiểm.
Đặc trưng: được thiết lập theo nguyên tắc trách nhiệm tự động,loại trừ
khả năng lựa chọn của người tham gia bảo hiểm.
Bảo hiểm bắt buộc gắn liền với việc tăng cường vai trò quản lí của Nhà
nước đối với đối tượng bảo hiểm có lien quan tới lợi ích và an toàn
chung của xã hội. vì khi xảy ra rủi ro với đối tượng bảo hiểm không chỉ
gây hại cho cá nhân người được bảo hiểm mà còn gây thiệt hại chung
cho toàn xã hội.Loại bảo hiểm này có nhiều thuận lợi cho các nhà
doanh nghiệp bảo hiểm trong việc triển khai nghiệp vụ. Nguyên tắc số
7
đông bù số ít được phát huy tác dụng một cách triệt để bảo đảm doanh
thu cho hoat động bảo hiểm.
Phân loại:
+ Bảo hiểm trách nhiệm của lái xe cơ giới
+ Bảo hiểm trách nhiệm của chủ thầu đối với công trình xây dựng
+ Bảo hiểm tai nạn hành khách đi lại trên các phương tiện giao thong
+ Bảo hiểm cho một số loại tài sản
- Bảo hiểm tự nguyện: là hình thức bảo hiểm dựa trên nguyên tắc thỏa
thuận, hợp đồng bảo hiểm được kí kết theo những quy định và điều kiện
của bảo hiểm đã được pháp luật quy định.
Loại bảo hiểm này trước hết gắn với quyền lợi của người tham gia bảo
hiểm, tùy theo nhu cầu của bản thân để lựa chọn loại bảo hiểm phù hợp.
Về phía người bảo hiểm cũng phải chủ động linh hoạt trong hoạt động
kinh doanh: xây dựng các phương án bảo hiểm thích hợp với các điều
kiện của bảo hiểm, chủ động trong việc đáp ứng yêu cầu cụ thể của
từng đối tượng, tăng cường tính hấp dẫn của bảo hiểm.
Phân loại:
+ Bảo hiểm tai nạn học sinh, sinh viên
+ Bảo hiểm du lịch
+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ doanh nghiệp
8
CHƯƠNG II: THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM SAU KHI
GIA NHẬP WTO.
2.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của thị trường
bảo hiểm Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, bảo hiểm Việt Nam xuất hiện từ khá sớm.
Ở Việt Nam, dưới thời kỳ Pháp đô hộ năm 1918 đã có bảo hiểm cho
công nhân viên chức bị tàn tật. Đến năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh kí
xác lệnh về BHXH. Cho đến năm 1965 tổng công ty Bảo Hiểm Việt
Nam ra đời gọi tắt là Bảo Việt. Đây là đơn vị kinh doanh bảo hiểm đầu
tiên ở Việt Nam với hình thức là Bảo hiểm nhà nước. Từ khi có nghị
định 100CP về BHTM thì hàng loạt công ty BHTM ra đời và từ đó đến
nay ngành bảo hiểm của Việt Nam không ngừng phát triển, đóng góp to
lớn cho ngân sách nhà nước.
Bảo hiểm rủi ro ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện khi thủ tướng chính
phủ ban hành thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) trực
thuộc bộ tài chính.
Ngày 15/1/1965, công ty bảo hiểm chính thức đi vào hoạt động.
Khi mới thành lập Bảo Việt chỉ thực hiện một số nghiệp vụ như: bảo
hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển… Cùng với sự phát
triển kinh tế, chính sách mở cửa của Chính phủ Việt Nam, đã có nhiều
công ty bảo hiểm ra đời như công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh
(Bảo Minh), công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long), công ty
cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO), Công ty bảo hiểm dầu khí Việt
Nam (PVIC), Công ty liên doanh bảo hiểm Việt Nam (VIA), các công
ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài…Các công ty bảo hiểm đã triển khai
được rất nhiều nghiệp vụ bảo hiểm trong đó có nhiều nghiệp vụ mới
như: bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm nhân thọ…
Sự phát triển của kinh tế thị trường đã tạo môi trường kinh doanh thuận
lợi cho các hoạt động bảo hiểm. Ngược lại chính sự phát triển mạnh mẽ
của ngành bảo hiểm đã khuyến khích sự phát triển chung của nền kinh
tế.
Quy mô hoạt động của bảo hiểm rủi ro Việt Nam ngày càng được mở
rộng thể hiện qua sự tăng trưởng của doanh thu từ hoạt động này. Mục
tiêu của ngành bảo hiểm trong vài năm trước là hoàn thành hơn nữa các
nghiệp vụ bảo hiểm, mở rộng thị phần bảo hiểm và tăng mức đóng góp
vào GDP từ 0,58% như hiện nay lên 1,5% hoặc 2%.
2.2. Những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO liên quan đến
bảo hiểm .
2.2.1. Nội dung các cam kết.
2.2.1.1. Những cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam tại WTO
9
- Doanh nghiệp bảo hiểm tại nước ngoài được phép cung cấp vào Việt
Nam các dịch vụ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước
ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài ra họ còn được cung
cấp dịch vụ tái bảo hiểm, vận tải quốc tế, môi giới bảo hiểm, tư vấn,
tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường cho thị trường bảo
hiểm Việt Nam.
- Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài không được kinh
doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc cho đến ngày 01/01/2008 thì bãi
bỏ hạn chế này.
Theo cam kết trên có thể hiểu các doanh nghiệp bảo hiểm liên
doanh và bảo hiểm nhân thọ không bị hạn chế được đối xử quốc gia
(doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam được làm gì thì họ được làm cái đó).
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài chỉ bị hạn chế sản phẩm
bảo hiểm bắt buộc đến 01/01/2008 nhưng thực tế doanh nghiệp bảo
hiểm Việt Nam hưởng lợi không nhiều vì mới có sản phẩm bảo hiểm
bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, sản phẩm bảo hiểm bắt
buộc người kinh doanh vận tải hành khách và hàng dễ cháy dễ nổ trên
đường thuỷ nội địa. Các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc khác như cháy nổ,
người Việt Nam du lịch lữ hành quốc tế, xây dựng – lắp đặt, người sử
dụng lao động trong hoạt động xây dựng, công trình dầu khí, công trình
dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường đang chuẩn bị
dự thảo và ban hành, nếu có thực hiện sẽ vào nửa cuối năm 2007.Điều
đáng lo ngại nhất là các doanh nghiệp bảo hiểm tại nước ngoài không
cần thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam cũng có thể vươn
cánh tay của mình vào khai thác thị trường bảo hiểm Việt Nam theo
cam kết WTO nói trên.
2.2.1.2. Các cam kết của Việt Nam tại Hiệp định Thương mại Việt Mỹ
Doanh nghiệp bảo hiểm Mỹ không hoạt động tại Việt Nam được
cung cấp:
- Dịch vụ bảo hiểm cho các xí nghiệp nước ngoài và người nước ngoài
làm việc tại Việt Nam.
- Các dịch vụ tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm
- Các dịch vụ bảo hiểm trong vận tải quốc tế.
- Các dịch vụ tư vấn, giải quyết khiếu nại, đánh giá rủi ro.
Doanh nghiệp bảo hiểm Mỹ thành lập và hoạt động tại Việt Nam,
việc thành lập chi nhánh phụ thuộc vào tiến trình xây dựng Luật Kinh
doanh bảo hiểm. Ba năm sau khi Hiệp định có hiệu lực được thành lập
công ty liên doanh phía Mỹ không được quá 50% vốn. Năm năm sau
khi Hiệp định có hiệu lực thành lập công ty được 100% vốn Hoa Kỳ.
Các công ty có vốn Hoa Kỳ không được kinh doanh các dịch vụ đại lý
bảo hiểm. Các công ty có vốn Hoa Kỳ không được kinh doanh các dịch
vụ bảo hiểm bắt buộc (hạn chế này sẽ bãi bỏ với công ty liên doanh là 3
10
năm, công ty 100% vốn Hoa Kỳ là 6 năm sau khi hiệp định có hiệu
lực). Phải tái bảo hiểm bắt buộc 20% nếu có tái bảo hiểm và sẽ bãi bỏ
việc này sau 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực.
Trên đây là 4 rào cản chính với các doanh nghiệp bảo hiểm Mỹ đang
hoạt động tại Việt Nam cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm nước
ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trước khi Việt Nam gia nhập WTO.
Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực từ 10/12/2001 và đến
10/12/2006. Cơ bản hết lộ trình 5 năm thực hiện rào cản nói trên.
Như vậy nội dung cam kết tại WTO cơ bản giống cam kết tại BTA hay
nói một cách khác các cam kết tại WTO là bước phát triển tiếp theo đi
tiếp tục thực hiện và được mở rộng áp dụng với tất cả các nước thành
viên WTO. Điều này cũng có thể hiểu rằng các doanh nghiệp bảo hiểm
đang hoạt động tại Việt Nam đã biết được các cam kết này và đã có thời
gian chuẩn bị ít nhất là 5 năm vừa qua.
2.2.2. Những ảnh hưởng đến bảo hiểm Việt Nam của các cam kết
trên.
Thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị
trường bảo hiểm Việt Nam sẽ chịu tác động mạnh cả về quy mô, chất
lượng và cả sự ổn định trong thị trường tài chính nói chung.
Theo Bộ Tài chính, tác động của các cam kết mở cửa thị trường bảo
hiểm trong việc Việt Nam cam kết gia nhập WTO có thể được nhìn
nhận từ hai khía cạnh, tác động tích cực và tiêu cực.
Quá trình hội nhập sẽ làm giảm chi phí dịch vụ, chất lượng dịch vụ
được nâng cao, năng lực thị trường được mở rộng, công nghệ quản lý
mới được chuyển giao, trình độ đội ngũ cán bộ được nâng cao...
Nhưng, việc thực hiện các cam kết cũng dẫn đến các khả năng gây bất
ổn định nói chung của thị trường tài chính, mất vai trò chủ đạo của
thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống quy định quản lý chưa theo kịp
được với mức độ mở cửa thị trường...
2.2.2.1. Về cam kết cung cấp dịch vụ qua biên giới
Ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
WTO, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ được phép cung cấp
các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và môi
giới bảo hiểm, dịch vụ đánh giá rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư vấn
bảo hiểm và đặc biệt là được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các
11
dự án, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà không
cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam.
Trong thời gian đầu, các cam kết này có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới một
số loại hình bảo hiểm phi nhân thọ và giới hạn trong nhóm đối tượng
người nước ngoài và các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thời gian trung hạn thì với sự lớn mạnh của các doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước (xét về mặt uy tín và năng lực
tài chính) thì các cam kết này không có ảnh hưởng nhiều, một phần do
tâm lý khách hàng thường có thiên hướng lựa chọn doanh nghiệp bảo
hiểm có trụ sở tại Việt Nam, là những doanh nghiệp nắm thông tin về
rủi ro tốt nhất do đó có khả năng bảo hiểm tốt nhất, mặt khác các doanh
nghiệp bảo hiểm nước ngoài thông thường cũng muốn thành lập pháp
nhân để cung cấp dịch vụ tốt hơn.
Hơn nữa, theo xu thế chung và triển vọng phát triển của ngành bảo
hiểm Việt Nam, tỷ trọng phí bảo hiểm phi nhân thọ trong tổng doanh
thu phí bảo hiểm của cả thị trường sẽ giảm dần so với nhân thọ, do đó
những tác động của cam kết này đối với ngành bảo hiểm sẽ giảm dần
theo thời gian.
2.2.2.2. Về các cam kết hiện diện thương mại
Có thể nói, các cam kết cho phép thành lập pháp nhân thực hiện
kinh doanh dịch vụ bảo hiểm là những cam kết mang tính chất tự do
hoá thị trường bảo hiểm và có ảnh hưởng lớn nhất đối với các doanh
nghiệp bảo hiểm hiện đã hoạt động trên thị trường cũng như tới tình
hình chung của thị trường.
Việc cho phép thêm các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước
ngoài tham gia cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại thị trường Việt Nam sẽ
tăng thêm năng lực khai thác bảo hiểm của thị trường bảo hiểm. Bên
cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với kinh nghiệm hoạt
động lâu năm trên phạm vi quốc tế sẽ giúp chuyển giao công nghệ khai
thác bảo hiểm và đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm tại Việt
Nam.
Với năng lực tài chính mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm mới tham gia
thị trường này cũng sẽ cho ra đời các sản phẩm bảo hiểm mới, đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Trong điều kiện cung cấp dịch vụ tốt
hơn, khách hàng sẽ là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất. Đặc biệt, chi phí
bảo hiểm là một cấu phần ngày càng quan trọng trong chi phí sản xuất
và kinh doanh của các đơn vị kinh tế khi nền kinh tế ngày càng phát
triển. Vì vậy, giảm giá thành đầu vào đối với chi phí bảo hiểm sẽ giúp
12
giảm một cách tương đối giá thành sản xuất sản phẩm và dịch vụ đầu ra
của các doanh nghiệp Việt Nam và là cơ sở để tăng sức cạnh tranh của
nền kinh tế Việt Nam nói chung trong điều kiện toàn cầu hoá ngày càng
được đẩy mạnh.
Như vậy, việc cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tham
gia vào thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ đem lại những lợi ích tổng thể
cho thị trường.
Tuy nhiên, song song với các khía cạnh tích cực trên, điều kiện
thị trường bảo hiểm với sự có mặt của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm
nước ngoài cũng sẽ đặt ra một số vấn đề như cạnh tranh không lành
mạnh, hệ thống pháp lý chưa đủ mạnh để kiểm soát hoạt động đa dạng
của các doanh nghiệp này, song các vấn đề này có thể được kiểm soát
tốt nếu có những bước đi phù hợp trong công tác quản lý Nhà nước đối
với hoạt động của thị trường.
2.2.2.3. Cam kết liên quan đến kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt
buộc
Hiện nay, bảo hiểm bắt buộc theo luật định gồm: bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
người vận chuyển hàng không đối với hành khách; bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật; bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Bảo hiểm
cháy, nổ và các loại bảo hiểm khác được quy định theo điều kiện phát
triển của nền kinh tế.
Trong những năm gần đây, tỷ trọng phí bảo hiểm thu từ bảo hiểm bắt
buộc khá lớn trong tổng phí bảo hiểm phi nhân thọ. Tuy nhiên, tỷ trọng
phí bảo hiểm từ loại hình bảo hiểm bắt buộc này sẽ giảm tương đối qua
thời gian khi các nhu cầu bảo hiểm tiềm năng trên thị trường được khai
thác tốt hơn do các doanh nghiệp ngày càng trưởng thành về năng lực
vốn cũng như trình độ chuyên môn. Do đó, việc cho phép các doanh
nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài cung cấp các dịch vụ này sẽ
không ảnh hưởng nhiều đến thị trường bảo hiểm mà chỉ ảnh hưởng đến
thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường và
chỉ trong lĩnh vực phi nhân thọ.
2.2.2.4. Cam kết xoả bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc sau 1 năm
Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm
ra nước ngoài đều phải thực hiện tái bảo hiểm bắt buộc tối thiểu 20%
với Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE).
Vì vậy, thực hiện cam kết xoá bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc này sẽ có
13
tác động kép, trước tiên là ảnh hưởng tới hoạt động của VINARE, đồng
thời ảnh hưởng đến tổng mức phí giữ lại của thị trường bảo hiểm phi
nhân thọ.
Đối với những doanh nghiệp khác trên thị trường, cam kết này nếu
được áp dụng chung sẽ tạo điều kiện linh hoạt hơn trong công tác tái
bảo hiểm và tạo điều kiện tái bảo hiểm lợi hơn xét về mặt kinh tế.
2.3. Thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay.
2.3.1. Trước khi Việt Nam gia nhập WTO.
15 năm, một bước tiến dài
Kể từ năm 1993, thời điểm Việt Nam bắt đầu mở cửa thị trường
bảo hiểm cho đến hết năm 2006, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có một
bước tiến rất dài.Từ chỗ chỉ có duy nhất Bảo Việt, đến nay trên thị
trường Việt Nam đã có hơn 30 doanh nghiệp bảo hiểm đang hoạt động
ở tất cả các lĩnh vực bao gồm bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân
thọ, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm. Đây là một sự phát triển vượt
bậc.
Tuy nhiên, với chính sách mở cửa khác nhau nên thị trường bảo hiểm
Việt Nam được phân chia khá chênh lệch. Ở lĩnh vực bảo hiểm phi
nhân thọ, do Việt Nam chưa mở cửa nên các doanh nghiệp bảo hiểm
trong nước chiếm đến 95% thị phần, trong khi các doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài chiếm đến 62,5% thị phần bảo hiểm nhân thọ.
Với hơn 800 sản phẩm các loại, nguồn thu chủ yếu của ngành là từ phí
bảo hiểm. Mức tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm của ngành từ 1993
đến 2004 là 38%/năm. Đóng góp của doanh thu phí bảo hiểm vào GDP
cũng có tăng trưởng đáng kể. Từ 0,37% năm 1993 tăng lên 2,13% vào
cuối năm 2006. Tổng số tiền bồi thường bảo hiểm cho các tổ chức kinh
tế và dân cư từ năm 2000 - 2005 đạt trên 12.300 tỉ đồng. Dù có tăng
trưởng cao, nhưng tỉ lệ đóng góp phí bảo hiểm vào GDP của Việt Nam
như vậy là khá nhỏ nếu so sánh với các nước trong khu vực.
Một vấn đề khác cần quan tâm là cho dù thị trường phát triển
nhanh nhưng không cân xứng giữa các công ty, giữa các thành phần
kinh tế. Mức độ tập trung thị trường cao nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm
nhân thọ, có hiện tượng độc quyền nhóm trong một số doanh nghiệp
bảo hiểm chuyên sâu các ngành dầu khí, xăng dầu, bưu chính viễn
14
thông. Quy mô vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước hạn chế.
Phương thức cạnh tranh vẫn chủ yếu là giảm phí và khai thác thị trường
thông qua các mối quan hệ.
Hoạt động đầu tư còn nhiều hạn chế
Đến cuối năm 2006, tổng đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm
trở lại nền kinh tế là 34.400 tỉ đồng, chiếm 4,07% GDP và cũng có tốc
độ tăng đáng kể nếu so với năm 2001, con số này chỉ là 1,06% GDP.
Đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp bảo hiểm là trái phiếu chính phủ,
tiền gửi ngân hàng. Phần còn lại là góp vốn liên doanh, đầu tư chứng
khoán và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất kinh
doanh và phục vụ đời sống.
Tổ chức hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm chưa thể hiện
tính chuyên nghiệp. Hiện nay, mới chỉ có 3 doanh nghiệp bảo hiểm
thành lập công ty quản lý quỹ và 2 doanh nghiệp bảo hiểm được niêm
yết trên thị trường chứng khoán. Điều này làm giảm khả năng huy động
vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm.
Các doanh nghiệp bảo hiểm hiện vẫn chưa thể cho vay vốn trực tiếp
hoặc mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực bất động sản, cổ phiếu vì thiếu
vắng các quy định cụ thể từ các cơ quan chức năng. Do vậy, hiệu quả
đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn chưa cao.
Mục tiêu đến năm 2010, con đường còn dài
Có lẽ do chiến lược được lập khi thị trường bảo hiểm đang ở thời
điểm hoàng kim, với mức tăng trưởng gần 50% một năm, mọi người
đang rất lạc quan nên đã đưa ra mục tiêu “Tổng doanh thu phí bảo hiểm
tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng
khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm. Tỷ
trọng doanh thu phí của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm
2005 và 4,2% năm 2010, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh
nghiệp bảo hiểm tăng khoảng 12 lần; tổng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế
tăng trưởng tăng khoảng 14 lần so với năm 2002.
15
Tuy nhiên, ngay sau đó ngành bảo hiểm (nhất là bảo hiểm nhân thọ) bắt
đầu rơi vào trạng thái bão hòa, khi mà ba năm gần đây, tốc độ tăng số
thu phí bảo hiểm đã chậm lại, với mức bình quân hàng năm chỉ là 16%.
Điều này dẫn đến kết quả là cuối năm 2006, doanh thu bảo hiểm chỉ
bằng 2,13% GDP, tổng đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm trở lại
nền kinh tế là 34.400 tỉ đồng, bằng 4,07% GDP.
Như vậy, kế hoạch đến năm 2005 đã không đạt. Để đạt được mục
tiêu đến năm 2010, hàng năm, tốc độ tăng trưởng số thu phí của ngành
bảo hiểm Việt Nam phải đạt bình quân 41% và tốc độ tăng trưởng vốn
đầu tư trở lại nền kinh tế phải đạt bình quân 42%. Nếu duy trì được tốc
độ tăng trưởng 24% năm thì đến năm 2010, doanh thu bảo hiểm sẽ bằng
3,3% GDP.
2.3.2. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO
3.2.1. Đặc điểm của nền kinh tế xã hội và thị trường bảo hiểm năm
2007
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt thực hiện các cam kết khi trở thành
thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại quốc tế WTO. Nền kinh tế
Việt tiếp tục mở cửa và hội nhập quốc tế với mức độ sâu rộng hơn với
nhiều cơ hội và thách thức cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế xã hội
nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng.
Năm 2007 tăng trưởng GDP đạt 8,5% đầu tư trực tiếp nước ngoài
tương đương 20,3 tỉ USD, đầu tư toàn xã hội đạt 40% GDP, vốn ODA
đạt 5,4 tỉ USD xuất khẩu đạt 48 tỉ USD. Các ngành công nghiệp vận tải
biển và đóng tàu, hàng không dân dụng, dệt may, giày da có những
bước phát triển đột phá. Thị trường tài chính tiền tệ tiếp tục phát triển
theo xu thế ổn định sau một thời gian phát triển nóng như: tín dụng
ngân hàng, chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm. Đây là những tiền đề cơ
bản tạo điều kiện thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt phát triển.
Trong năm 2007, thiên tai, tai nạn xảy ra tương đối nhiều, điển hình
như: bão lụt tại miền Trung, sập cầu Cần Thơ, sạt lở núi tại Hà Tĩnh
cũng như các vụ đắm tàu, tai nạn giao thông, cháy nổ, dịch tiêu chảy,
16

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Đánh giá xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm rủi ro sau khi Việt Nam gia nhập WTO