Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Tâm lý khách du lịch


VỊ TRÍ CỦA MÔN HỌC
Môn học là một môn cơ sở, cung cấp
cho ngƣời học những hiểu biết về đời
sống tâm lý của con ngƣời trong lĩnh vực
kinh doanh du lịch.
Môn học kết hợp với các môn nghiệp
vụ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
những ngƣời làm việc trong lĩnh vực kinh
doanh doanh du lịch nâng cao hiệu quả
công tác

MỤC ĐÍCH CỦA MÔN HỌC

Trang bị cho ngƣời học:
- Kiến thức về tâm lý con ngƣời nói
chung và tâm lý khách du lịch nói riêng
- Kiến thức về giao tiếp trong lĩnh vực
hoạt động du lịch
Chƣơng 1: Khái quát chung về tâm lý học
Chƣơng 2: Các hiện tƣợng tâm lý cơ bản
Chƣơng 3: Các hiện tƣợng tâm lý xã hội trong
du lịch
Chƣơng 4: Các hiện tƣợng tâm lý du lịch cơ bản
Chƣơng 5: Quan hệ giữa ngƣời phục vụ và ngƣời
tiêu dùng du lịch
Chƣơng 6: Những phẩm chất cần có của nhân
viên du lịch
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÂM LÝ HỌC
BỐ CỤC BÀI HỌC
1. Khái niệm về tâm lý
2. Bản chất của hiện tƣợng tâm lý ngƣời
3. Khái niệm tâm lý học
4. Phân loại hiện tƣợng tâm lý
1. KHÁI NIỆM VỀ TÂM LÝ
Tâm lý là các hiện tượng tinh thần xảy ra
trong đầu óc con người, gắn liền và điều
khiển, điều chỉnh hành động, hoạt động của
con người.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng
định: tâm lý người là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào não người thông qua chủ
thể, tâm lý người có bản chất xã hội – lịch sử.
2. BẢN CHẤT CỦA HIỆN TƢỢNG TÂM LÝ NGƢỜI
2.1. Tâm lý ngƣời là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào não ngƣời

Thế giới khách quan tồn tại bằng các thuộc
tính không gian, thời gian và luôn vận động.
Phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa
hệ thống này với hệ thống khác, kết quả là để lại
dấu vết (hình ảnh) tác động ở cả 2 hệ thống.
Phản ánh tâm lý là sự tác động của hiện
thực khách quan vào con ngƣời, vào hệ thần
kinh, bộ não con ngƣời – tổ chức cao nhất của
vật chất.
Chỉ có hệ thần kinh và bộ não mới có khả
năng nhận tác động của hiện thực khách quan,
tạo nên trên não hình ảnh tinh thần (tâm lý).
Phản ánh tâm lý tạo ra “hình ảnh tâm lý”
về thế giới mang đầy tính sinh động và sáng
tạo.
2.2. Tâm lý mang tính chủ thể

Tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu
sắc cá nhân (hay nhóm người
Mỗi chủ thể trong khi tạo ra hình ảnh tâm lý
về thế giới khách quan đã đưa vốn hiểu biết, vốn
kinh nghiệm, cái riêng của mình vào trong hình
ảnh đó làm cho nó mang đậm màu sắc chủ
quan.
Tính chủ thể thể hiện ở chỗ:
+ Cùng nhận sự tác động của cùng một sự
vật hiện tượng khách quan nhưng ở những chủ thể
khác nhau cho những hình ảnh tâm lý với những
mức độ và sắc thái khác nhau.
+ Cùng một hiện thực khách quan tác động
đến một chủ thể duy nhất nhưng vào những thời
điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, với trạng
thái cơ thể, tinh thần khác nhau, có thể cho ta thấy
mức độ biểu hiện, các sắc thái tâm lý khác nhau.
Và cuối cùng thông qua đó mà mỗi chủ thể tỏ
thái độ, hành vi khác nhau đối với hiện thực.
2.3. Bản chất xã hội – lịch sử của TL ngƣời
Tâm lý người có nguồn gốc là thế giới
khách quan (thế giới tự nhiên và xã hội) trong
đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định.

Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động
và giao tiếp của con người trong các mối quan
hệ xã hội, là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp
thu vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hóa xã hội
thông qua hoạt động và giao tiếp.
Tâm lý của mỗi cá nhân hình thành, phát
triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử
cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng. Tâm lý con
người chịu sự chế ước của lịch sử cá nhân và của
cộng đồng.
Con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là
một thực thể xã hội. Là một thực thể xã hội, con
người là chủ thể của nhận thức, của hoạt động và
giao tiếp với tư cách là một chủ thể tích cực, chủ
động và sáng tạo. Vì thế tâm lý con người mang
đầy đủ dấu ấn xã hội – lịch sử của con người.

3. KHÁI NIỆM VÀ VỊ TRÍ CỦA TÂM LÝ HỌC
3.1. Vài nét về sự phát triển

Từ thời xa xưa con người đã có những
quan điểm về thế giới tâm hồn, đó là những
quan điểm “tiền tâm lý học”

Trong các di chỉ của người nguyên thủy
đã thấy những bằng chứng chứng tỏ đã có
quan niệm về cuộc sống của “hồn”, “phách”
sau cái chết của thể xác.
Khổng Tử (551 – 479 TCN ) đã đề cập
đến chữ “tâm” của con người là “nhân, trí,
dũng”, về sau học trò của Khổng Tử nêu
thành “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”.

Xôcrat (469 - 399 TCN) đã đưa ra câu
châm ngôn “hãy tự biết mình”. Đây là một
định hướng có giá trị to lớn trong tâm lý học:
con người có thể tự nhận thức về mình.

Arixtôt (384 – 322 TCN) cho ra đời tác
phẩm “bàn về tâm hồn”
Sang thế kỷ 18 tâm lý học đã có tên gọi
Đầu thế kỷ 19 tách ra khỏi mối quan hệ
phụ thuộc chặt chẽ của tâm lý học vào triết học.
Đặc biệt là vào năm 1879, nhà tâm lý học
Đức Vuntơ sáng lập ra phòng thí nghiệm tâm lý
học đầu tiên trên thế giới, và một năm sau nó
trở thành viện tâm lý học đầu tiên trên thế giới.

Đầu thập kỷ 20 các dòng phái tâm lý học
khác nhau ra đời có vai trò nhất định trong lịch
sử phát triển khoa học tâm lý hiện đại.
3.1. Khái niệm tâm lý học

Tâm lý học là một khoa học nghiên cứu
sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt
động tâm lý.

Đối tượng của tâm lý học là các hiện
tượng tâm lý.
3.3. Vị trí của tâm lý học

Tâm lý học được nảy sinh trên nền tri
thức của nhân loại và do nhu cầu của cuộc
sống đòi hỏi.
Nhìn tổng thể, tâm lý học đứng ở vị trí
giáp ranh giữa khoa học tự nhiên, khoa học xã
hội, khoa học kinh tế và trên nền của triết học.
3.4. Vai trò và ý nghĩa của tâm lý học du lịch
Tâm lý học du lịch là một ngành của khoa
học tâm lý và cũng là ngành trong hệ thống các
khoa học về du lịch.
Tâm lý học du lịch có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các HTTL của du khách, của
cán bộ công nhân viên ngành du lịch, tìm ra
những đặc điểm tâm lý, quy luật tâm lý của họ.
- Nghiên cứu các HTTL xã hội thường gặp
trong du lịch và cơ chế diễn biến của chúng:
nhu cầu, động cơ, sở thích, thị hiếu... thường
có ở du khách
Vai trò, ý nghĩa của tâm lý học du lịch

- Cung cấp hệ thống lý luận về tâm lý học,
trên cơ sở đó nhận biết được nhu cầu, sở thích,
tâm trạng, thái độ... của khách du lịch để định
hướng, điều khiển và điều chỉnh quá trình phục
vụ khách du lịch

- Các nhà kinh doanh du lịch sẽ có khả năng
nhận biết, đánh giá đúng về khả năng kinh doanh,
hoàn thiện và nâng cao năng lực chuyên môn,
năng lực giao tiếp và rèn luyện các phẩm chất
tâm lý cần thiết.
- Việc nắm được những đặc điểm tâm lý
đặc trưng của du khách, các hiện tượng tâm lý
xã hội thường gặp trong du lịch sẽ giúp cho
việc phục vụ khách du lịch tốt hơn

- Ngoài ra, tâm lý học du lịch giúp cho
việc đào tạo, tuyển chọn, bố trí, tổ chức lao
động, xây dựng văn hóa của doanh nghiệp du
lịch, xử lý hài hòa các mối quan hệ trong
doanh nghiệp

4. PHÂN LOẠI HIỆN TƢỢNG TÂM LÝ

Có nhiều cách phân loại các hiện tượng tâm lý
+ Các hiện tượng tâm lý có ý thức và chưa
được ý thức
+ Hiện tượng tâm lý sống động và hiện
tượng tâm lý tiềm tàng
+ Hiện tượng tâm lý cá nhân - hiện tượng
tâm lý xã hội
+ Phân loại theo thời gian tồn tại của
chúng và vị trí tương đối của chúng trong nhân
cách.
• Các quá trình tâm lý
• Các trạng thái tâm lý
• Các thuộc tính tâm lý
Các quá trình tâm lý là những hiện tượng
tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có
mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng

Các trạng thái tâm lý là những hiện tượng
tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài, việc
mở đầu và kết thúc không rõ ràng

Các thuộc tính tâm lý là những hiện tượng
tâm lý tương đối ổn định khó hình thành và khó
mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân
cách