Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kì

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kì

QUỐC HIỆU VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã dùng nhiều quốc hiệu (tên chính thức
của quốc gia) khác nhau. Bên cạnh đó, cũng có những danh xưng được dùng
chính thức hay không chính thức để chỉ vùng lãnh thổ thuộc quốc gia Việt
Nam.
Quốc hiệu chính thức
Dưới đây là danh sách các quốc hiệu chính thức của Việt Nam theo dòng
lịch sử. Các quốc hiệu này đều được ghi chép trong các sách sử Việt Nam,
hoặc được chính thức sử dụng trong nghi thức ngoại giao quốc tế. Trong đó
có những tên gọi của một số vùng lãnh thổ tạm thời nằm dưới quyền quản lý
của các chính quyền tồn tại trong một thời gian của lịch sử.
Văn Lang
Được coi là quốc hiệu đầu tiên cho Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt ở
Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ gồm khu vực Đồng bằng Bắc
Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ. Quốc gia này tồn tại
cho đến năm 258 TCN.
Âu Lạc
Năm 257 TCN, nước Âu Lạc được dựng lên, từ liên kết các bộ lạc Lạc Việt
(Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán - An Dương Vương. Âu
Lạc có lãnh thổ bao gồm lãnh thổ của Văn Lang trước đây và một phần đông
nam Quảng Tây (Trung Quốc)
Khoảng cuối thế kỷ III, đầu thế II TCN (năm 208 TCN hoặc 179 TCN, Triệu
Đà (quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng
cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ.
• Theo Trương Thái Du, Âu Lạc là kí âm bằng Hán tự của từ "Đất nước
- Xứ sở". Ông cho rằng không tồn tại quốc gia Âu Lạc của An Dương
Vương. Suốt vùng Lĩnh Nam gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Bắc Việt
Nam, người ta gọi nơi sinh sống của mình là "Đất nước", tức là "Âu
Lạc".
Vạn Xuân
Là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi khỏi chính
quyền trung ương Trung Hoa, dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế. Nó tồn tại
từ năm 544 đến năm 602.
Đại Cồ Việt
Là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh năm 968. Nó tồn tại đến đời
vua Lý Thánh Tông năm 1054.
Đại Việt
Là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý. Nó ra đời năm 1054, khi vua Lý
Thánh Tông lên ngôi. Nó tồn tại không liên tục, đến năm 1804, trải qua các
vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn.
Đại Ngu
Là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành
Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất
bại trước nhà Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc
hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt.
Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (là một
trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên
là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ
Công, sau dùng chữ Hồ làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ
Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu ở đây có
nghĩa là "sự yên vui", chứ không có nghĩa là "ngu si" .
Việt Nam
Đất nước Việt Nam phát triển sau các cuộc Nam tiến trong 700 năm
Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia
Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng
"Nam" có ý nghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa "Việt Thường". Tuy
nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của lãnh thổ nhà Triệu, gồm cả
Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa; nhà Thanh đổi ngược lại để
tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804.
Tuy nhiên, tên gọi "Việt Nam" có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối
thế kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) do
Hàn lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí viết đầu thế
kỷ 15 của Nguyễn Trãi (1380-1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam".
Điều này còn được đề cập rő ràng trong những tác phẩm của trạng Trình
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), chẳng hạn ngay trang mở đầu tập Trình
tiên sinh quốc ngữ đã có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm
thấy hai chữ "Việt Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia
chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Tây, bia
chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc Ninh... Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670)
ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan"
(đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương
Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến
tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam).
Sau này, danh xưng Việt Nam được chính thức sử dụng như quốc hiệu từ
thời Đế quốc Việt Nam.
Đại Nam
Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi xin nhà Thanh cho phép đổi quốc hiệu
Việt Nam thành Đại Nam , ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên nhà
Thanh đã không chính thức chấp thuận. Khi nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua
Minh Mạng đã chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào
ngày 15 tháng 2 năm 1839. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945.
Đế quốc Việt Nam
Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, hoàng đế Bảo
Đại tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ độc lập ngày 17 tháng 4 năm
1945, đứng đầu là nhà học giả Trần Trọng Kim, với quốc hiệu Đế quốc Việt
Nam. Trong thực tế Nhật vẫn cai trị Nam Kỳ. Sau khi Nhật đầu hàng quân
Đồng Minh, Nam Kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng 8 năm 1945, nhưng
10 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Đây là chính phủ đầu tiên của
nước Việt Nam độc lập, cũng là lần đầu tiên danh xưng Việt Nam được
chính thức dùng làm quốc hiệu và đất Nam Kỳ được thống nhất về mặt danh
nghĩa vào đất nước Việt Nam.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945 đến 1954 và miền Bắc Việt Nam
từ 1954 đến 1976. Nhà nước này được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm
1945 (ngày quốc khánh của Việt Nam ngày nay). Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa phải đối đầu với Pháp và Quốc gia Việt Nam được lập ra dưới cái ô của
Pháp năm 1949. Trong thời kỳ 1954-1975, chính thể này lại phải đối đầu với
Việt Nam Cộng Hoà được thành lập tại miền Nam Việt Nam.
Nam Kỳ quốc
Nam Kỳ quốc hay Nam kỳ Cộng hòa quốc (tiếng Pháp: République de
Cochinchine) là danh xưng do chính phủ Pháp đặt ra cho vùng lãnh thổ Việt
Nam phía dưới vĩ tuyến 16. Chính quyền Nam Kỳ quốc được thành lập ngày
26 tháng 3 năm 1946, về danh nghĩa là một quốc gia độc lập với Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Danh xưng này tồn tại được 2 năm, sau đó lại chính
quyền Nam kỳ quốc giải thể, đổi tên lại thành Chính phủ Nam phần Việt
Nam, rồi sát nhập vào chính quyền lâm thời Quốc gia Việt Nam ngày 2
tháng 6 năm 1948.
Quốc gia Việt Nam
Là danh xưng của toàn bộ vùng lãnh thổ Việt Nam, ra đời chính thức từ
Hiệp ước Elysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949, giữa Tổng thống Pháp
Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại. Về danh nghĩa, chính quyền thuộc
khối Liên hiệp Pháp, độc lập, đối kháng và tồn tại trên cùng lãnh thổ với
chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Danh xưng Quốc gia Việt Nam
tồn tại trong 6 năm (1949-1955). Năm 1955, Ngô Đình Diệm phế truất Quốc
trưởng Bảo Đại, giải tán Quốc gia Việt Nam, thành lập chính quyền Việt
Nam Cộng Hòa.
Việt Nam Cộng Hòa
Là tên gọi quốc gia được thành lập tại miền Nam Việt Nam, kế tục Quốc gia
Việt Nam (1949–1955). Năm 1955, trong một cuộc trưng cầu dân ý, thủ
tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập chính
quyền Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này tồn tại độc lập trong 20 năm
và sụp đổ vào năm 1975.
Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Là tên gọi mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, được Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn, đặt ra cho miền Nam Việt Nam với việc
thành lập một chính phủ mới để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Danh xưng này tồn tại trong 7 năm (1969-1976), sau đó, chính quyền lâm
thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã giải tán để hợp nhất với Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa thành một quốc gia Việt Nam thống nhất.
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa 6 nước Việt Nam Dân chủ cộng
hoà đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Quốc hiệu Việt Nam qua các thời kì