MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM)
1.1 Sự cần thiết của hoạt động tín dụng đối với các NHTM
1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hoá luôn tồn tại rất nhiều chủ thể kinh tế với chu kỳ
kinh doanh khác nhau. Vì vậy, tại mỗi thời điểm luôn có những chủ thể kinh tế có
vốn nhàn rỗi, đồng thời các chủ thể khác lại thiếu vốn do nhu cầu đầu tư, sản xuất
kinh doanh và tiêu dùng. Sự gặp gỡ hai chủ thể nói trên dựa trên những điều kiện
thoả thuận có lợi cho cả hai bên và dựa vào sự tín nhiệm lẫn nhau của hai bên đã
hình thành nên các quan hệ tín dụng.
Tín dụng là hình thức vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Theo đó,
người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng chứ không nhường quyền sở hữu cho
người vay. Do đó, sau một thời gian nhất định theo thoả thuận, người vay sẽ hoàn
trả vốn vay, có kèm một khoản tăng thêm về giá trị gọi là lợi tức khoản vay. Như
vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua
vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn giữa ngân hàng với cá
nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các tổ chức tín dụng khác theo nguyên
tắc có hoàn trả. Tín dụng là loại tài sản chiểm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các
ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn
vốn huy động để cấp tín dụng. Hoạt động tín dụng ngân hàng có các hình thức sau:
cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và cho thuê tài chính.
Ngân hàng cấp tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, chiếm tỷ trọng lớn
trong đó là cho vay. Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng. Lãi thu được từ cho vay tạo ra hầu hết lợi nhuận cho ngân hàng và chỉ
có lãi thu được từ cho vay mới bù đắp được chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí
kinh doanh và chi phí khác. Kinh tế càng phát triển, lượng cho vay của các ngân
hàng càng tăng. Thường có sự đồng nhất giữa tín dụng và cho vay trong các ngân
hàng.
Ngân hàng ở Việt Nam ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Rất nhiều các nghiệp vụ của một
ngân hàng hiện đại chưa được phát triển ở Việt Nam. Tín dụng ngân hàng ở Việt
Nam (chủ yếu là cho vay) đã đóng vai trò to lớn vào sự phát triển của kinh tế Việt
Nam.
Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay là một hình thức của cấp
tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có
hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay của ngân hàng thương mại nói riêng và tín dụng ngân hàng thương
mại nói chung là một lĩnh vực phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi những chuyển biến
của môi trường kinh tế. Mỗi loại cho vay lại có những đặc thù riêng, thủ tục pháp
lý khác nhau và mức độ đảm bảo an toàn khác nhau.
1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động tín dụng NHTM đối với nền kinh tế
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính, hoạt động trên lĩnh vực kinh
doanh tiền tệ, có chức năng huy động vốn, cho vay và làm các dịch vụ ngân hàng
theo quy định của pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu
thông hàng hoá, các quan hệ trao đổi mua bán ngày càng đa dạng phong phú đã tạo
đà cho hoạt động ngân hàng phát triển theo. Trong các mặt hoạt động của ngân
hàng, tớn dụng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, đó là tiền đề, là cơ sở để phát
triển công tác huy động vốn, là cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền. Với
chức năng là trung tâm tín dụng của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng ngày càng
phát triển với sự đa dạng hoá các hình thức cho vay.
Một cách cụ thể vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện nổi bật trên
các phương diện sau:
- Thứ nhất: vốn vay từ ngân hàng đã bù đắp một phần vốn lưu động của
doanh nghiệp tạm thời thiếu, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn
ra thường xuyên liên tục.
Thực tế trong sản xuất kinh doanh, không có doanh nghiệp nào có thể tính
toán, dự trù trước cho mình được một khối lượng vốn định mức chính xác. Trong
nền kinh tế thị trường, những thông tin, tín hiệu từ thị trường là rất quan trọng để
doanh nghiệp ra những quyết định liên quan đến các hoạt động của mình. Vì vậy,
tuỳ theo diễn biến của thị trường doanh nghiệp có thể tăng khối lượng dự trữ cho
sản xuất hoặc phải áp dụng các biện pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm trong
điều kiện thị trường đang thuận lợi. Cũng có khi trong một chu kỳ sản xuất, vì một
hay nhiều yếu tố mà vòng quay của vốn không trùng với chu kỳ sản xuất. Doanh
nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn tạm thời. Khi đó, để đảm bảo có vốn kịp thời
cho chu kỳ sản xuất tiếp theo doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn bổ sung từ tín
dụng ngân hàng. Và tín dụng ngân hàng đã phát huy tác dụng.
-Thứ hai: ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
Trong mối trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế, với mục tiêu lợi nhuận cần nắm bắt thời cơ, tận dụng ưu thế
vốn có của mình về mọi mặt: lợi thế so sánh của ngành trong nền kinh tế, lợi thế so
sánh của doanh nghiệp trong ngành… Theo đó, tuỳ thuộc vào thời cơ, tín hiệu thị
trường mà doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Muốn
vậy, doanh nghiệp buộc phải có phương tiện tài chính dồi dào. Và chỉ mở rộng
quan hệ tín dụng với các ngân hàng thì các doanh nghiệp mới mong đáp ứng được
nhu cầu vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh và tạo thêm việc làm cho
người lao động.
-Thứ ba: tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và tổ chức quản lý có hiệu quả hơn.
Thật vậy, để tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo
nhiều lợi nhuận hơn nữa, doanh nghiệp phải có sự đầu tư chiều sâu. Đối với các
doanh nghiệp hiện nay, vấn đề này có ý nghĩa rất to lớn do hầu hết các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh với quy trình kỹ thuật lạc hâu, đội ngũ nhân viên có
trình độ và chất lượng làm việc không cao. Các doanh nghiệp hiện nay rất cần vốn
lớn để đầu tư chiều sâu, trang bị máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại
cũng như đào tạo nhân lực để thực sự có một sức bật mới trong giai đoạn mới.
Trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp nước ta phải thực sự nhập cuộc vào
AFTA và WTO); quá trình tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới này
đòi hỏi các doanh nghiệp phải giải quyết nhiều vấn đề nhằm hoàn thành vai trò
chủ đạo của mình với nền kinh tế. Vấn đề sức cạnh tranh hàng hoá, đảm bảo hàng
hoá tốt, rẻ và có được dịch vụ thuận tiện có ý nghĩa quyết định trong việc giữ vững
nền kinh tế độc lập tự chủ và phát triển. Cho nên, phải chú trọng chất lượng, năng
xuất, hiệu quả để phấn đấu nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá. Muốn thế, các
doanh nghiệp cần vốn để tiếp cận với các thành tựu khoa học tiên tiến trong sản
xuất kinh doanh cũng như trong công tác quản lý và tổ chức hay tham gia vào
những lĩnh vực kinh tế mới như thương mại điện tử.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy quan hệ thanh toán giữa các
doanh nghiệp diễn ra lành mạnh hơn. Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng
chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp là không thể tránh khỏi. Điều này
gây nên tình trạng thiếu vốn giả tạo ở một số doanh nghiệp. Với chức năng là trung
tâm tín dụng và trung tâm thanh toán của nền kinh tế, ngân hàng đã có những biện
pháp tích cực tác động vào quá trình thanh toán ở các doanh nghiệp, mở rộng các
hình thức cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn. Do đó, ngân hàng đã gián tiếp ngăn chặn
và giảm tối đa hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau, làm lành mạnh hoá hoạt động
thanh toán, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng.
-Thứ tư: Đối với Nhà nước, thông qua hoạt động ngân hàng, Nhà nước đã
giám sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giúp Nhà nước
hoạch định những chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ hợp lý, đáp ứng kịp
thời những đòi hỏi của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định
tiền tệ, kìm chế và đẩy lùi lạm phát. Nói cách khác, tín dụng ngân hàng như là một
trong các công cụ của bàn tay vô hình của Nhà nước- tham gia điều tiết nền kinh tế
thị trường (thông qua các doanh nghiệp), theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, tuy tín dụng ngân hàng đã giữ một vị trí rất quan trọng đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế thị
trường nói chung nhưng để cho hoạt động tín dụng thực sự đóng vai trò như vậy
trong giai đoạn tới thì vấn đề đặt ra là cần nâng cao, mở rộng chất lượng tín dụng
không những từ góc độ ngân hàng mà còn cả góc độ doanh nghiệp, của nền kinh
tế, để đảm bảo hiệu quả của đồng vốn, đảm bảo khả năng tái tạo vốn của ngân
hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế.
1.2 Các hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.1 Cho vay
1.2.1.1 Khái niệm
Cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền kinh tế
với nhau. Trong đó, chủ thể này cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị
hay hiện vật với điều kiện mà hai bên thoả thuận.
1.2.1.2 Phân loại
* Phân loại theo tài sản đảm bảo:
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: thể hiện cho vay có cầm cố giữ các vật thế
chấp, cầm cố nào đó. Vật bảo đảm có thể bao gồm nhiều loại khác nhau như: bất
động sản, biện nhận ký gửi hàng hoá, máy móc, chứng khoán,… với yêu cầu là có
thể bán được.
- Cho vay không đảm bảo bằng tài sản: được cấp cho khách hàng có uy tín, thường
là khách hàng kinh doanh thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh.
Khách hàng cũng có thể vay của ngân hàng có sự bảo lãnh của bên thứ ba, các
khoản vay của Chính phủ, công ty tài chính lớn,…
* Phân loại theo phương thức cho vay:
- Cho vay thấu chi: Thấu chi hình thức cho vay ngắn hạn, là nghiệp vụ cho vay qua
đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của
mình đến một giới hạn nhất định trong khoảng thời gian nhất định. Giới hạn này
gọi là hạn mức thấu chi.
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng cho các khách
hàng có nhu cầu vay không thường xuyên, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng
sản xuất tức là vốn vay của ngân hàng chỉ tham gia một số giai đoạn nhất định của
chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng thoả thuận với
khách hàng để cấp một hạn mức tín dụng. Hình thức cho vay này rất thuận lợi cho
khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên.
- Cho vay luân chuyển: là hình thức cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá. Doanh
nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho doanh nghiệp đó vay
và thu lại tiền khi doanh nghiệp bán được hàng. Ngân hàng và khách hàng có thể
thoả thuận với nhau về hạn mức cho vay.
- Cho vay trả góp: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn cho vay đã thoả thuận. Cho vay trả góp
thường áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn, các khoản vay tài trợ cho tài
sản cố định hoặc hàng hoá lâu bền.
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay của ngân hàng thông qua các tổ chức
trung gian như tổ, đội, hội nhóm sản xuất, hội nông dân,…
* Phân loại theo kỳ hạn:
- Cho vay ngắn hạn: các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn dưới 1 năm. Những
khoản cho vay này thường được sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ mang tình thời
vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Cho vay trung, dài hạn: là các khoản vay có kỳ hạn từ 1- 5 năm là cho vay trung
hạn và trên 5 năm là cho vay dài hạn. Những khoản vay này thường được sử dụng
với mục đích tài trợ cho dự án, mở rộng sản xuất, nâng cấp tài sản cố định.
1.2.2 Bảo lãnh
1.2.2.1 Khái niệm
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo
lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính
thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải
nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
1.2.2.2 Phân loại
* Phân loại theo phương thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh trong đó, ngân hàng cam kết sẽ trực tiếp thanh
toán cho người thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Sau
khi ngân hàng đã bồi thường cho người thụ hưởng bảo lãnh, ngân hàng có thể trự
tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh.
- Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh trong đó người được bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân
hàng thứ nhất (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng thứ hai (gọi là ngân
hàng phát hành) đưa ra cam kết bảo lãnh chuyển cho người thụ hưởng. Bảo lãnh
gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụ hưởng là người nước
ngoài, ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia người thụ hưởng, do vậy quyền lợi
người thụ hưởng được đảm bảo chắc chắn hơn.
- Đồng bảo lãnh: Đối với cá thương vụ mà số tiền bảo lãnh xó giá trị rất lớn vượt
quá tỷ lệ cho phép đối với một ngân hàng hoặc vượt quá khả năng tài chính hiện
thời của ngân hàng hay để giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng có thể thực hiện đồng
bảo lãnh. Trường hợp này, một ngân hàng đóng vai trò đầu mối phát hành bảo lãnh
nhưng có sự tham gia của các ngân hàng đồng minh khác. Nếu phải chi trả cho
người thụ hưởng theo bảo lãnh đã lập, ngân hàng bảo lãnh có thể truy đòi bồi hoàn
tự các ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ họ tham gia. Đến lượt mình, các ngân hàng
đồng minh sẽ tiến hành truy đòi người được bảo lãnh.
* Phân loại theo mục đích bảo lãnh:
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất hộ
khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng đã
cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba. Bảo lãnh này được sử dụng thay cho yêu cầu
ký quỹ mà người đặt hàng đề nghị với người cung ứng để đảm bảo bồi thường vi
phạm hợp đồng.
- Bảo lãnh hoàn thanh toán: bảo lãnh này được thực hiện trong các hợp đồng
thương mại, dịch vụ, khi người mua hàng hay người hưởng dịch vụ đã ứng trước
tiền hàng cho người bán, người cung cấp. Bằng việc cam kết sẽ trả lại số tiền ứng
truớc cho người mua (khi người bán không thực hiện hợp đồng), ngân hàng phát
hành bảo lãnh đã tạo ra sự tin tưởng cho người mua và đồng thời cũng giúp người
cung ứng thoát khỏi tình trạng khó khăn tạm thời về ngân quỹ.
- Bảo lãnh thanh toán: được sử dụng trong các hợp đồng mua bán thiết bị hàng hoá
trả chậm và còn gọi là bảo lãnh trả chậm. Quan hệ giữa người mua và bán ở đây
thực chất là quan hệ tín dụng thương mại, theo đó người chấp nhận trả tiền hàng
hoá theo kỳ hạn nợ cụ thể. Để bảo vệ mình trước rủi ro không thanh toán đầy đủ và
đúng hạn của người mua, người bán có thể yêu cầu một bảo lãnh trả chậm của
ngân hàng.
- Bảo lãnh dự thầu: mục đích của việc bảo lãnh này là bù đắp những thiệt hại về
thời gian, chi phí cho người tổ chức đấu thầu do những vi phạm của bên đối tác
liên quan (người tham gia dự thầu).
- Bảo lãnh vay vốn: là bảo lãnh ngân hàng do ngân hàng phát hành cho bên nhận
bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng
không trả hoặc trả không đúng hạn, đầy đủ.
- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là loại bảo lãnh do ngân hàng phát hành
cho bên thụ hưởng bảo lãnh, đảm bảo khách hàng sẽ thực hiện đúng các thoả thuận
về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký với bên thụ hưởng.
* Phân loại theo điều kiện thanh toán của bảo lãnh:
- Bảo lãnh vô điều kiện: còn gọi là bảo lãnh theo yêu cầu, là loại bảo lãnh mà điều
kiện thanh toán của nó là người thụ hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất trình yêu cầu
thanh toán của ngân hàng phát hành. Các văn bản đều do người thụ hưởng đơn
phương lập không cần sự chấp nhận của bên được bảo lãnh hoặc bên thứ ba nào
đó.
- Bảo lãnh có điểu kiện: là loại bảo lãnh mà điều kiện phải có chứng từ xác nhận
của bên thứ ba (thường là một bên độc lập có đủ tư cách chuyên môn để xác nhận)
hoặc phán quyết của toà án chứng minh rằng bên được bảo lãnh đã vi phạm trong
quá trình thực hiện hợp đồng.
* Phân loại theo hình thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh bằng thư bảo lãnh: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng nhận phát hành
bảo lãnh thông qua một hợp đồng bảo lãnh giữa ngân hàng với khách hàng khi
khách hàng làm đơn đề nghị bảo lãnh.
- Bảo lãnh ký hậu: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết với người
tụ hưởng bảo lãnh thông qua việc ký hậu lên giấy tờ có giá như hối phiếu, lệnh
phiếu, sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên giấy tờ có giá nếu
người được bảo lãnh (người ký phát, người phát hành hoặc người chuyển nhượng)
không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền ghi trên tò giấy.
- Bảo lãnh xác nhận: Trong một số trường hợp, người nhận bảo lãnh có thể yêu cầu
một ngân hàng xác nhận một bảo lãnh do ngân hàng káhc phát hành và như vậy
người nhận bảo lãnh có thể xuất trình giấy tờ, chứng từ theo yêu cầu đến ngân
hàng xác nhận để được thanh toán.
1.2.3 Chiết khấu
1.2.3.1 Khái niệm
Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển
nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận được một số tiền bằng
mậnh giá trừ lãi suất chiết khấu và phí hoa hồng. Ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ ở
người thụ lệnh nếu là hối phiếu, hoặc ở người phát hành nếu là lệnh phiếu, khi đến
hạn thanh toán.
1.2.3.2 Chiết khấu thương phiếu:
Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng hoá
và dịhc vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người thụ hưởng) có thể
giữ thương phiếu đến hạn đòi tiền người mua (người phải trả) hoặc mang thương
phiếu đến ngân hàng để xin chíêt khấu. Để thuận tiện cho khách hàng, ngân hàng
thường ký với khách hàng hợp đồng chiết khấu (cấp cho khách hàng hạn mức chiết
khấu trong kỳ). Khi cần chiết khấu khách hàng chỉ cần gửi thuương phiếu lên ngân
hàng xin chiết khấu. Ngân hàng sẽ kiểm tra chất lượng thương phiếu rồi thực hiệc
chiết khấu. Ngân hàng cũng có thể thực hiện tái chiết khấu thương phiếu tại Ngân
hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Chiết khấu là một hợp đồng được phép truy đòi, vì vậy, khi ngân hàng không
thu được nợ của người mua thì có thể đòi tiền của người bán hoặc ở những người
liên quan trách nhiệm theo quy định của Pháp luật. Như vậy, trách nhiệm thanh