bồi dưỡng chuyên môn tiếng anh

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu bồi dưỡng chuyên môn tiếng anh

chơng I
Những vấn đề cơ bản
trong giáo học pháp tiếng anh.
I. TổNG QUáT Về CáC PHƯƠNG PHáP Dạy NGOạI NGữ:
1. Các phơng hớng dạy ngoại ngữ trớc thế kỷ XX:
Dao động giữa hai phơng hớng sau đây:
a. Tập trung vào việc sử dụng ngôn ngữ nói và viết.
b. Tập trung vào việc phân tích ngôn ngữ và học các quy tắc ngữ pháp.
2. Một số phơng pháp dạy ngoại ngữ trong thế kỷ XXI:
Tổng cộng có tất cả khoảng 9 phơng pháp dạy ngoại ngữ:
a. Phơng pháp Ngữ pháp Dịch.
b. Phơng pháp Trực tiếp.
c. Phơng pháp Đọc.
d. Phơng pháp Nghe-Nói.
e. Phơng pháp Tình huống.
f. Phơng pháp Nhận thức.
g. Phơng pháp Phát triển nhân cách.
h. Phơng pháp Dựa vào tri thức.
i. Phơng pháp Giao tiếp.
3. Tóm tắt đặc điểm của từng phơng pháp:
a. Phơng pháp Ngữ pháp Dịch:
1) GV sử dụng tiếng mẹ đẻ để giảng dạy ngoại ngữ.
2) Ngời học ít sử dụng NN trong lớp.
3) GV tập trung vào việc phân tích Ngữ pháp. ( hình thái và nghĩa của cấu
trúc câu)
4) Bài tập trong lớp chủ yếu là dạng bài dịch sang tiếng mẹ đẻ.
5) Sau khi hoàn thành chơng trình, ngời học không có khả năng sử dụng
ngôn ngữ để giao tiếp.( nghe, nói)
6) GV không cần thiết phải nói thành thạo ngôn ngữ đang dạy.
b. Phơng pháp Trực tiếp:
1) GV không đợc phép sử dụng tiếng mẹ đẻ trong lớp học NN.
2) GV dùng điệu bộ, nét mặt, động tác, và tranh ảnh để giới thiệu và minh
hoạ ngữ nghĩa.
3) Ngời học học ngữ pháp theo lối quy nạp.
4) GV là ngời bản ngữ hay có khả năng sử dụng tiếng thành thạo nh ngời
bản ngữ.
c. Phơng pháp Đọc:
1) GV chỉ dạy cho ngời học những điểm ngữ pháp cần thiết cho việc hiểu
bài đọc.
2) Chú trọng hình thức bài tập dịch các bài đọc.
3) Chỉ có kỹ năng đọc hiểu đợc phát triển.
4) GV không cần phải nói thành thạo ngôn ngữ đang dạy.
cp nht ngy 1.10.2010
1
d. Phơng pháp Nghe-Nói:
1) Bài học bắt đầu với một hay nhiều bài đối thoại.
2) Cấu trúc Ngữ pháp đợc sắp xếp từ dễ đến khó và học theo phơng pháp
quy nạp.
3) Các kỹ năng đợc dạy theo trình tự quy định: nghe, nói, đọc, viết. Các kỹ
năng: đọc viết đợc củng cố cho kỹ năng: nghe, nói ở giai đoạn đầu.
4) Bài tập rèn luyện thờng mang tính máy móc, không gắn liền với những
tình huống cụ thể.
5) Ngữ liệu giảng dạy đợc quy định chặt chẽ, GV chỉ cần nắm vững các
cấu trúc ngữ pháp và từ vựng đã đợc hạn chế trong bài.
e. Phơng pháp Tình huống:
1) Chú trọng việc dạy kỹ năng nói.
2) Ngời học học nói thành thạo trớc khi học đọc và viết.
3) GV không đợc dùng tiếng mẹ đẻ của ngời học trong lớp.
4) GV chỉ dạy những từ thờng dùng trong đời sống hàng ngày theo từng
lứa tuổi của ngời học.
5) Cấu trúc Ngữ pháp đợc sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp.
f. Phơng pháp Nhận thức ( Trực giác):
1) Việc học ngoại ngữ đợc xem là sự tiếp thu các quy luật chứ không phải là
sự thành lập thói quen một cách máy móc.
2) Việc giảng dạy hớng về phía cá nhân, và ngời học phải có trách
nhiệm về việc tự học của mình.
3) GV dạy ngữ pháp theo phơng pháp diễn dịch và quy nạp.
4) Việc luyện âm không đợc chú trọng vì không thực tế và không khả thi.
5) Cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết đều đợc coi trọng nh nhau.
6) GV chú trọng đến việc dạy từ.
7) GV phải sử dụng thông thạo ngôn ngữ đang dạy và có khả năng phân tích
câu, từ.
g). Phơng pháp Phát triển nhân cách ( Xem ngời học là trọng tâm).
1) GV cần chú trọng đến cá nhân ngời học và các tâm t tình cảm của họ.
2) GV cần quan tâm đến việc giao tiếp trong các tình huống với ngời học.
3) GV tổ chức các bài tập để ngời học làm việc theo nhóm hai ngời hay
nhiều
hơn.
4) Cần tạo ra không khí học tập thoải mái trong lớp vì điều này quan trọng
hơn
tài liệu và phơng pháp học.
5) Những ngời học giúp đỡ lẫn nhau và cùng rèn luyện các kỹ năng sử dụng
ngôn ngữ với nhau.
6) Học NN là một kinh nghiệm tự học của cá nhân.
7) GV giữ vai trò hớng dẫn và là ngời tạo điều kiện cho việc học tập để
ngời
cp nht ngy 1.10.2010
2
học đạt kết quả tốt.
h. Phơng pháp Dựa vào tri thức:
1) Kỹ năng nghe hiểu là một kỹ năng cơ bản và quan trọng.
2) Việc học thuộc các quy tắc ngữ pháp sẽ giúp cho ngời học làm đợc bài
tập.
3) GV không cần phải sửa lỗi trong khi ngời học rèn luyện trong lớp vì điều
quan trọng là ngời học hiểu và làm cho ngời khác hiểu đợc mình trong khi
giao tiếp bằng ngôn ngữ đang học.

i. Phơng pháp Giao tiếp:
1) Mục tiêu của việc học ngôn ngữ là giúp cho ngời học có khả năng giao tiếp
bằng ngôn ngữ đang học.
2) Nội dung giảng dạy gồm những khái niệm về ngữ nghĩa và chức năng giao
tiếp chứ không chỉ dạy các cấu trúc ngôn ngữ.
3) Tổ chức hoạt động theo nhóm hai hay nhiều ngời.
4) Ngời học thờng đợc tham gia các bài tập đóng vai trong các tình huống
đợc kịch hoá để có cơ hội sử dụng có mục đích ngoại ngữ đang học.
5)Tài liệu phải phản ánh các tình hống và yêu cầu có thật trong cuộc sống.
6) Một bài học cần tích hợp cả bốn kỹ năng.
7) Vai trò chủ yếu của GV là tạo điều kiện giao tiếp cho ngời học và sau đấy
mới la chữa lỗi.
8) GV phải có khả năng sử dụng thông thạo thứ tiếng mà mình dạy.
j) Một số điều mà một GV nên làm để có thể có đợc quyết định sáng suốt
trong trong việc lựa chọn phơng pháp dạy NN:
1) GV cần đánh giá nhu cầu của ngời học: Tại sao họ phải học NN? Học để
làm gì?
2) Cần nghiên cứu các hạn chế trong việc giảng dạy: thời gian, sĩ số trong
lớp, đồ dùng dạy học, giáo cụ trực quan, CSVC...
3) Cần xác định nhu cầu, thái độ, và trình độ của từng cá nhân ngời học tới
mức có thể thực hiện đợc.
4) Sau khi thực hiện các điều trên, ngời dạy có thể áp dụng các nguyên tắc
hay kỹ thuật thích hợp bằng cách nghiên cứu tất cả các phơng pháp sẵn
có.
II. Khái niệm bài tập (Task) trong phơng pháp giao tiếp:
1. Khái niệm và mục đích của bài tập:
- Bài tập trong việc dạy NN hàm ý chỉ những kế hoạch làm việc mà mục
đích là tạo điều kiện dễ dàng cho việc học- từ các loại bài tập ngắn và đơn giản
cho đến những hoạt động chiếm nhiều thời gian và có tính chất phức tạp hơn nh:
giải quyết vấn đề trong nhóm.
- Thành phần của một bài tập gồm: Nội dung của bài tập, Các dữ kiện, Các
hoạt động của bài tập, Mục đích của bài tập, Khả năng nhu cầu và sự quan tâm của
ngời học, Cộng đồng xã hội ( hoạt động nhóm...)
* Mục đích của bài tập:
cp nht ngy 1.10.2010
3
+ Giao tiếp ( trao đổi thông tin, ý tởng, bày tỏ thái độ, tình cảm, và
làm việc với nhau...) .
+ Văn hoá xã hội ( hiểu biết về cuộc sống hàng ngày...)
+ Phơng pháp học ( lập kế hoạch công việc trong khoảng thời gian
nhất định, phơng pháp tự mình lập ra những mục tiêu thiết thực và
tự mình ngĩ ra cách thực hiện các mục tiêu đó)
+ Ngôn ngữ và văn hoá ( biết một cách có hệ thống về bản chất và
cách vận hành của ngôn ngữ đang học)
2. Đầu vào ( in put):
- Đầu vào, một trong những thành phần tạo nên bài tập, là những dữ kiện
hình thành khởi điểm của bài tập.
- Đầu vào đợc rút ra từ nhiều nguồn nh: th từ, chuyện tranh, bản đồ, mẫu
đơn, ảnh chụp, trích đoạn phim kịch, nhật ký, lịch trình, dự báo thời tiết, chơng
trình hội thảo, danh mục trên bảng thông báo, đố vui, các biểu đồ kinh tế....
3 . Hoạt động ( Activities):
*) Thờng thì một bài tập phản ánh ba khuynh hớng sau đây:
a. Diễn lại những gì thờng thấy trong cuộc sống thực sự.
b. Yêu cầu ngời học sử dụng một hay nhiều kỹ năng giao tiếp.
c. Giúp ngời học rèn luyện sự thông thạo và chính xác.
*) Việc đọc trong lớp phải tơng tự nh việc đọc trong cuộc sống:
a. Tìm kiếm một thông tin cụ tyhể và nhất định ( đọc lớt để tìm thông
tin)
b. Hiểu đợc ý chính của tác giả ( đọc nhanh)
c. Hiểu thấu đáo nội dung bài đọc ( đọc hiểu)
d. Đánh giá thông tin ( đọc phê bình thông tin)
Các loại hoạt động chính đợc sử dụng trong các bài tập:
a. Hỏi và đáp. ( để rèn luyện hầu hết các cấu trúc ngữ pháp và chức năng
ngôn ngữ)
b. Hội thoại và đóng vai.

c. Bài tập ghép.
d. Chiến thuật thông tin.( thực tập các phơng cách giao tiếp nh diễn giải,
mợn hay tạo từ, dùng cử chỉ và nét mặt để thể hiện thông tin..)
e. Tranh và chuyện kể bằng tranh.
f. Trò chơi đố chữ và đố vui.
g. Thảo luận và quyết định.
4.Vai trò của ngời dạy/ ngời học (theo pp Giao tiếp) :
- Vai trò của ngời học: Ngời học giữ vai trò tích cực, thơng lợng, đóng góp và
tiếp thu ý kiến.
cp nht ngy 1.10.2010
4
- Vai trò của ngời dạy: Có ba vai trò chính là: là ngời tổ chức, điều khiển việc
rèn luyện của ngời học hay là cố vấn/ làm mẫu; là ngời kiểm soát việc học của ng-
ời học; là ngời học tham gia vào các hoạt động học trên lớp.
5. Đánh giá một bài học tốt theo phơng pháp Giao tiếp cần đạt đợc
các đặc điểm sau đây:
- Ngôn ngữ đầu vào của bài học phải đợc rút ra từ những nguồn chuẩn xác.
- Ngời dạy giúp cho ngời học tham gia vào những hoạt động giải quyết vấn
đề đòi hỏi họ phải thảo luận để đi đến một kết luận nào đó.
- Kết hợp đợc các loại bài tập có liên quan đến nhu cầu giao tiếp thật sự của
ngời học trong cuộc sống hàng ngày.
- Giúp cho ngời học chọn lựa nội dung , phơng pháp và thời điểm làm bài.
- Giúp cho ngời học làm thử bài tập ngôn ngữ trong lớp và trong đời sống
hàng ngày.
- Giúp cho ngời dạy và ngời học đảm nhận những vai trò khác nhau và sử
dụng ngôn ngữ trong nhiều tình huống trong và ngoài lớp học.
- Giúp cho ngời học biết đợc ngôn ngữ trong một hệ thống nhất định.
- Khuyến khích ngời phát triển các kỹ năng học tập và phơng pháp học.
-Tích hợp bốn kỹ năng cơ bản- nghe, nói, đọc và viết.
- Giúp ngời học kiểm tra việc thực hành các kỹ năng cơ bản.
- Giúp ngời học sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo.
cp nht ngy 1.10.2010
5
Chơng II
cách dạy ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp
I. Dạy ngữ âm.
1. Mục đích: Mục đích của việc dạy ngữ âm trong một lớp ngôn ngữ không
nhằm làm cho ngời học có khả năng phát âm tơng tự nh ngời bản ngữ vì việc này
không thực tế, trừ trờng hợp ngời học có năng khiếu thật đặc biệt và động cơ học
rất cao. Mục tiêu dạy ngữ âm là giúp cho ngời học đạt đợc một khả năng phát âm
đúng ở một mức độ nào đó để có thể truyền đạt đợc điều họ muốn nói với ngời
khác.
Các yếu tố ảnh hởng đến việc phát âm Tiếng Anh:
a) Sự chuyển di của tiếng mẹ đẻ.
b) Tuổi của ngời học.
c) Việc tiếp xúc với Tiếng Anh.
d) Khả năng phát âm bẩm sinh của ngời học.
e) Thái độ và cảm nhận.
f) Động cơ học tập của ngời và sự quan tâm của họ đối với việc phát âm tốt.
2. Kỹ thuật rèn luyện:
a. Lặp lại từ.
b. Lặp lại câu.
c. Cặp tối thiểu.
d. Điền từ.
e. Làm câu.
3. Trọng âm:
- work: từ này có một âm tiết, đơng nhiên nguyên âm trong âm tiết này
nhận trọng âm của từ.
- begin: từ có hai âm tiết, âm tiết thứ hai nhận trọng âm.
- interesting: từ có ba âm tiết, âm tiết thứ nhất nhận trọng âm.
*) Hầu hết các từ có hai hay nhiều âm tiết đều có một âm tiết nhận trọng
âm, còn các âm tiết còn lại là những âm tiết yếu. Các nguyên âm trong các âm tiết
yếu sẽ đọc tơng tự âm / / hay / i /. Phần lớn các từ nhận trọng âm trong câu là
danh từ, trạng từ, tính từ và động từ. Còn các từ nh: giới từ, mạo từ, liên từ thờng
không nhận trọng âm trong câu nói. Các nguyên âm trong các từ không nhận trọng
âm thờng đợc đọc là / /, một số phụ âm cuối từ có thể không đợc phát âm nh tr-
ờng hợp: / d / trong /and/; / t / trong /at/...Những từ không nhận trọng âm trong
câu thờng đọc lớt nhanh, ngợc lại, những từ nhận trọng âm trong câu thờng đợc
đọc nhấn mạnh và hơi kéo dài. Chính yếu tố này tạo lên tiét tấu ( rhythm) trong
Tiếng Anh. Tiết tấu là một dặc trng của văn nói Tiếng Anh và cần đợc chú trọng
trong các bài cần rèn luyện phát âm.
cp nht ngy 1.10.2010
6
4. Ngữ điệu:
Ngữ điệu là sự lên xuống của giọng nói Tiếng Anh. Trong Tiếng Anh, ngữ điệu
đợc dùng để diễn đạt những trạng thái tình cảm nh nêu câu hỏi, ngạc nhiên, khẳng
định, xác nhận, giận giữ.... Các ngữ điệu cơ bản: ngữ điệu lên, ngữ điệu xuống,
ngữ điệu lên rồi xuống thể hiện qua các dạng câu nh: câu trần thuật (statement),
câu hỏi có-không (yes-no question), câu hỏi lựa chọn, ( or-question), câu hỏi đuôi
( tag- question), Wh-question...
II. Dạy từ vựng
1. Một số nguyên tắc để chọn từ để dạy:
a). Từ/ ngữ đợc chon để dạy phải thuộc loại hoạt động( active): tức đợc sử
dụng thờng xuyên trong các hoạt động tại lớp để rèn luyện các kỹ năng cơ bản,
đặc biệt là trong việc rèn luyện kỹ năng nói và viết.
b). Các từ / ngữ này cần có tần suất cao: chúng xuất hiện nhiều trong văn
bản.
c). Các từ ngữ này phải có ít nhất là hai nghĩa.
d). Các từ/ ngữ này cần thiết phải đợc tiếp thu trong quá trình học ngôn ngữ
của ngời học, ở hiện tại và trong tơng lai.

2.Giới thiệu từ vựng:
Một từ vựng gồm hai phần mà ngời dạy cần giới thiệu: hình thái và ngữ
nghĩa. Hình thái của từ thể hiện qua cách phát âm và chữ viết.
Ví dụ:
- Để giới thiệu hình thái từ table , ngời dạy đọc từ này ra và viết lên
bảng.
- Để giới thiệu ngữ nghĩa của từ vựng, ngời dạy có thể dùng một trong các
cách sau đây:
a) Dùng đồ vật thật ( realia)
b) Hình vẽ, tranh ảnh....
c) Dùng nét mặt điệu bộ, cử chỉ hành động, có thể cho ngời học bắt ch-
ớc.
d) Đối chiếu, so sánh ( đồng nghĩa, ngợc nghĩa) với những từ đã học.
e) Liệt kê, miêu tả ( enumeration)
f) Định nghĩa (definition), giải thích (explanation)
g) Đoán nghĩa hay khám phá nghĩa nh tra từ điển, ghép từ và tranh minh
hoạ, ghép từ và nghĩa...
3. Dạy từ vựng:
Khi dạy từ cần chú ý các yêu cầu sau:
- Dịch ra Tiếng Việt. (nên nêu ví dụ minh hoạ cho nghĩa và cách dùng từ. Chỉ
nên dùng Tiếng Việt dạy nghĩa của từ khi từ là một danh từ trừu tợng, trình độ
Tiếng Anh của ngời học còn hạn chế)
cp nht ngy 1.10.2010
7
- Không nên cho ngời học lặp lại từ quá nhiều vì lặp lại quá nhiều không đem
lại hiệu quả trong việc hiểu nghĩa của từ, mà lại làm cho bài học trở lên nhàm
chán, việc học nghĩa của từ là vô cùng quan trọng trong học tiếng.
- Ngời dạy nên lu ý không nên phiên âm các từ mới vì dễ làm cho ngời học đặc
biệt là ngời mới học bị nhầm lẫn giữa chữ viết và kí hiệu phiên âm của một từ.
- Một đơn vị từ đợc dạy gồm hai hay nhiều từ: Thí dụ câu How do you
do ? là một đơn vị từ vì tất cả các từ đều mang một nghĩa chung nhất. Nếu tách
ra, từ How lại là từ để hỏi khi nghĩa của câu là chào hỏi. Ngời dạy không nên
tách riêng từng từ để dạy. Do vậy, ngời dạy nên khuyến khích ngời học có một
quyển sổ ghi nhớ các từ hay thành ngữ nh thế.
- Không nên giải thích về cấu trúc của các đơn vị từ. Ví dụ: Would you
like...? , ngời dạy chỉ cần giải thích đơn giản câu này đợc dùng để mời ai một
cái gì... và cho một vài ví dụ là đủ. Ngời dạy cần xem những câu này nh các đơn
vị từ vựng và tránh cho ngời học phân tích cấu trúc của câu. Nếu cần chỉ giải thích
cho ngời học là: sẽ học cấu trúc của câu trong bài học sau.
- Nên giải thích sự khác biệt về nghĩa chứ không chỉ cho nghĩa của từ. Thí dụ:
dạy từ tree và bush , GV cần vẽ hình đơn giản lên bảng hay dùng tranh cho
sẵn để so sánh, đối chiếu.
- Một từ thờng có những liên hệ với các từ khác, vậy nên dạy từ theo một số
quan hệ sau đây:
+ Từ đồng nghĩa: là những từ có ý nghĩa tơng tự nhau. Ngời dạy dùng: It is
similar in meaning to... ( Không nên nói: It is the same as...)
+ Từ phản nghĩa: nh hot và cold , employee và employer ....
- Ngời dạy nên khuyến khích ngời học chủ động nghĩ ra cách học thuộc từ theo
kiểu riêng của mình.
Ngời dạy nên luôn thay đổi cách dạy nghĩa của từ sao cho bài học trở nên thú
vị, lôi cuốn và làm cho ngời học dễ nhớ nh: dùng tranh, ảnh, đồ vật thật, cử chỉ,
nét mặt, hành động, dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa, tra cứu từ điển...
4. Bài tập dùng từ: thờng đợc kết hợp với việc rèn luyện các kỹ năng nghe,
nói.... Sau dây là một số dạng bài tập gợi ý:
a) Phản ứng toàn thân: Ngời dạy ra chỉ thị, mệnh lệnh và ngời học thực
hiện bằng hành động. ( VD: ngời day nói: sit down, stand up..., ngời học thực
hiện hành động...)
b) Xếp từ vào các nhóm theo chủ điểm ( Group the words according to
their topics).
c) Chuỗi bài tập liên hoàn.( Điền từ cho sẵn vào chỗ trống, mạng từ...)
d) Bài tập ghép hai phần lại với nhau ( Matching).
e) Khung mô tả.
f) Trò chơi và các hoạt động dạy từ.


1, Tổng quát: Ngày nay việc dạy ngữ
pháp trong các lớp dạy NN theo phơng pháp giao tiếp không còn theo lối phân tích
cp nht ngy 1.10.2010
8
từ loại và phân tích câu nh trong các lớp ngữ pháp theo phơng pháp Ngữ pháp
Dịch của ngày xa. Hầu hết thời gian trong lớp đợc dành cho các bài tập ngữ pháp
kết hợp với việc rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết qua nhiều hình thức
khác nhau và bài học đợc củng cố bằng những trò chơi. Ngữ pháp đợc dạy thông
qua những bài tập ( task) kết hợp với việc dạy nhiều kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng
học...
Để dạy Ngữ pháp có hiệu quả, ngời dạy cần linh động chọn phơng pháp và
kỹ thuật dạy. Có thể dạy Ngữ pháp theo ba cách dới đây:
a) Diễn dịch ( thờng sử dụng trong pp Ngữ pháp Dịch) : Ngời dạy dùng
Tiếng Việt giảng giải Ngữ pháp qua các thí dụ và quy tắc ngữ pháp. Sau đó, ngời
học áp dụng quy tắc đã học vào các bài tập viết và nói. Theo cách này thì ngời học
nắm vững các hiện tợng ngữ pháp song không giúp cho ngời học có khả năng nói
trôi chảy Tiếng Anh.
b) Quy nạp ( thờng sử dụng trong pp Nghe- nói): Ngời học tích cực rèn
luyện lặp lại theo mẫu các câu thí dụ và tự rút ra những quy tắc ngữ pháp mà
không cần nghe giảng lí thuyết.
Sau đó ngời học cứ tạo ra những câu mới tơng tự. Phần tổng kết lý thuyết đ-
ợc cung cấp ở cuối bài học.
c) Linh động: Ngữ pháp không dạy thành bài, ngời học sẽ tự học trong tiến
trình học bài khoá. Ngời học có nhiệm vụ hớng ngời học tập trung vào các hiện t-
ợng ngữ pháp nào đó nhng không tạp trung vào rèn luyện những hiện tợng ngữ
pháp này. Theo cách này, việc học ngữ pháp sẽ linh động và dễ phù hợp với ngời
học và cách học của họ.
Nhìn chung, ngời dạy cần linh động trong việc vận dụng các cách dạy khác
nhau để đạt đợc mục đích yêu cầu bài học. Ngời học nên nhớ rằng: Ngữ pháp có
một tầm quan trọng đặc biệt giúp ngời học có thể sử dụng ngôn ngữ một cách có ý
nghĩa và diễn đạt đợc đúng điều mà mình giao tiếp.
Quan trọng nhất trong việc dạy ngữ pháp là giúp cho ngời học hiểu đợc hình
thái và ý nghĩa của những điểm ngữ pháp đang học để từ đó có thể sử dụng điểm
ngữ pháp mới qua các hình thức nghe, nói, đọc và viết.
2. Tiến trình dạy ngữ pháp:
Nói chung, dạy ngữ pháp thờng đợc thực hiện qua ba giai đoạn:
- Giới thiệu hình thái và nghĩa của cấu trúc.
- Rèn luyện.
- Củng cố bằng các bài tập và hoạt động hoặc trò chơi tiếp nối theo sau
khâu rèn luyện.
Trớc khi rèn luyện, ngời dạy giới thiệu hình thái và nghĩa của cấu trúc ngữ
pháp bằng lời nói và chữ viết lên bảng.
Để giới thiệu nghĩa , ngời dạy có thể dùng một số kỹ thuật sau đây:
a) Thị giác:
- Dùng đồ vật thực trong lớp hoặc mang vào lớp:
Ví dụ khi dạy cấu trúc: This/That is a/an.....
- Dùng hình vẽ lên bảng hoặc tranh, ảnh, có thể kết hợp với nét mặt, điệu
bộ để minh hoạ nghiã.
Ví dụ khi dạy cấu trúc so sánh hơn: A is taller than B
cp nht ngy 1.10.2010
9
b) So sánh đối chiếu các cấu trúc ngữ pháp:
Đôi khi ngời dạy phải giới thiệu hai / ba cấu trúc một lúc để ngời học thấy đ-
ợc sự khác biệt trong các cấu trúc này. Trong trờng hợp này ngời dạy cần kết hợp
vừa cho thí dụ vừa giải thích. Ví dụ khi dạy danh từ đếm đợc và danh từ không
đếm đợc với câu hỏi: How many...? và How much...?
c) Dùng tình huống: Ngời dạy có thể dùng tranh ảnh để nêu tình huống. Ví dụ
ngời dạy vẽ hai đồng hồ lên bảng khi dạy giải thích cấu trúc: Tom has been
waiting for one hour.
3. Một số kỹ thuật khi rèn luyện câu:
a) Bài tập rèn luyện lặp lại ( Repetition drill): Giúp ngời học rèn luyện cách
phát âm hơn là việc hiểu ý nghĩa, cách sử dụng của cấu trúc. Nếu dùng dạng bài
tập này quá lạm dụng sẽ gây sự nhàm chán trong lớp học vì tính máy móc.
b) Bài tập rèn luyện thay thế ( substition drill):
Ngời học lặp lại câu nói theo mẫu, sau đó ngời day gợi ý bằng tranh/ một
từ/ một ngữ/ một câu đợc ghép vào.
c) Bài tập Hỏi- đáp (ask and answer):
*) Chú ý:
- Càng về sau, ngời dạy càng nên nói ít hơn, nên để ngời học tham gia tích cực
vào hoạt động rèn luyện.
- Khi hớng dẫn, ngời dạy không nên dùng những câu nói phức tạp nh: Ask
him if he can swim.. mà chỉ nói ngắn gọn: Ask him. Swim.
- ở những lớp học bắt đầu học Tiếng Anh, đôi khi ngời dạy phải dùng Tiếng
Việt để giải thích kĩ về cách thức làm bài tập và hớng dẫn ngời học thực hành chứ
không nói thay cho ngời học.
- Trớc khi làm vịêc theo nhóm hai hay nhiều ngời, ngời dạy phải làm mẫu.
Chơng III
cách dạy các kỹ năng cơ bản
I.Dạy kĩ năng nghe:
1. Nghe là một kỹ năng đợc chú trọng phát triển trong các phơng pháp dạy
NN mới. Ngời học không thể giao tiếp bằng lời nói nếu không nghe đợc những gì
ngời khác nói với mình. Để luyện nghe có hiệu quả, ngời học phải đợc rèn luyện
và thực hành nghe nhiều để làm quen với dạng nói của ngôn ngữ. Càng nghe nhiều
thì ngời học càng có kinh nghiệm nhận ra âm thanh, hiểu đợc ý nghĩa của thông
tin thể hiện qua cách phát âm, trọng âm, tiết tấu và ngữ điệu của Tiếng Anh.
Trong thực hành giao tiếp, ngời học còn có thể suy đoán nghĩa của những thông
tin nghe đợc qua những yếu tố phi ngôn ngữ nh sự thay đổi giọng nói, nét mặt, cử
chỉ, thái độ của ngời nói,...
Việc rèn luyện nghe thờng đợc thực hiện qua ba giai đoạn chính:
a) Chuẩn bị:
cp nht ngy 1.10.2010
10
- Nhằm mục đích giúp cho ngời học tập trung vào chủ đề sắp đợc nghe, đặc
biệt là đoán trớc những gì sắp đợc nghe.
- Một số hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị gồm:
+ Nghe ngời dạy thông báo thông tin tổng quát về đề tài sắp nghe.
+ Đọc một số thông tin có liên quan đến đề tài nghe.
+ Xem tranh liên quan đến đề tài nghe.
+ Tham gia thảo luận về đề tài/ tình hống của câu chuyện sắp đợc nghe.
+ Tham gia hoạt động hỏi và trả lời.
+ Làm bài tập viết.
+ Đọc hớng dẫn cho các hoạt động nghe tiếp theo.
+ Suy nghĩ về cách thực hiện các hoạt động sắp đến.
Việc lựa chọn các hoạt động trên phụ thuộc vào: thời gian, tài liệu có sẵn
hoặc không có sẵn, trình độ và sở thích của ngời học, ngời dạy và điều kiện giảng
dạy của lớp, ngoài ra còn phụ thuộc vào mục đích, mục tiêu của bài giảng.
b) Trong khi nghe:
- Nhằm giúp cho ngời học phát triển kỹ năng nghe, qua lời nói rút ra đợc thông
tin cần truyền đạt.
- Một số hoạt động trong giai đoạn này gồm:
+ Đánh dấu các đề mục trong một danh sách hay trong một bức tranh.
+ Chọn đúng tranh theo yêu cầu.
+ Xếp thứ tự các tranh theo diễn biến của một câu chuyện
+ Hoàn chỉnh một bức tranh.
+ Vẽ tranh.
+ Thực hiện các hành động.
+ Sắp xếp các đề mục /đồ vật theo một mẫu nào đó.
+ Theo dõi một lộ trình.
+ Điền vào một mẫu/ khung cho sẵn.
+ Ghi / nêu tên các đồ vật.
+ Lập danh sách.
+ Chọn lựa câu đúng/sai.
+ Chọn câu trả lời đúng theo các câu hỏi dạng TNKQ. ( multiple choice
test)
+ Điền vào các khoảng trống trong một đoạn văn/ các câu cho sẵn.
+ Đánh dấu những chỗ sai.
+ Đoán trớc các sự kiện, diễn biến của câu chuyện,....
+ Tìm những chi tiết cụ thể trong thông tin cho sẵn....
c) Sau khi nghe:
- Nhằm kiểm tra xem ngời học có hiểu những thông tin đợc nghe theo yêu
cầu hay không và có hoàn thành đợc các hoạt động trong giai đoạn Trong khi
nghe hay không.
- Tìm ra nguyên nhân làm cho ngời học không nghe đợc hoặc không hiểu đ-
ợc một số phần nào đó trong bài tập nghe.
- Giúp cho ngời học có cơ hội đánh giá thái độ và cách nói của ngời nói
qua bài văn đợc nghe.
cp nht ngy 1.10.2010
11
- Mở rộng đề tài/ ngôn ngữ của bài văn đã nghe và chuyển đổi những gì đã
học thành một dạng khác.
Một số hoạt động trong giai đoạn này gồm:
*) Với ngời dạy:
+ Cho câu trả lời các bài tập bằng miệng.
+ Chiếu câu trả lời các bài tập ( dùng đèn chiếu nếu có) hoặc viết lên bảng.
*) Với ngời học:
+ Kiểm tra câu trả lời của nhau theo từng nhóm hai ngời.
+ Hoàn chỉnh một mẫu/ bảng cho sẵn.
+ Thực hiện việc sắp xếp/ đánh giá.
+ Ghép các phần trong một bài văn.
+ Viết tóm tắt.
+ Thảo luận nhóm.
+ Kiểm tra câu trả lời bằng cách so với câu trả lời có sẵn trong sách.
+ Làm các bài tập có hình thái giải quyết vấn đề ( problem solving) hay ra
quyết định ( decision making)
+ Phiên dịch.
+ Ghép lại các mảng thông tin rời rạc đã nghe.
+ Nhận ra mối quan hệ giữa những ngời nói.
+ Mô tả trạng thái/ thái độ/hành vi của ngời nói.
+ Đóng vai trong bài hội thoại.
2. Thông thờng ngời học sẽ đợc nghe bài luyện nghe nhiều lần. Lần nghe
thứ nhất giúp ngời học hiểu ý chính của toàn bài và trả lời những câu hỏi hớng
dẫn. Lần nghe thứ hai giúp ngời học trả lời những câu hỏi nhằm kiểm tra mức độ
hiểu các chi tiết trong bài luyện nghe. Những lời hớng dẫn cho bài luyện nghe cần
đợc nói rõ ràng, mạch lạc và đơn giản.
Về chất lợng, mẫu nghe phải chuẩn xác và đợc nói với tốc độ bình thờng
nh khi trò chuyện hoặc nói về một vấn đề nào. Tuỳ theo trình độ của ngời học, sau
lần nghe thứ hai ngời dạy có thể cho ngời học mở sách ra vừa nghe vừa dò theo để
kiểm tra mức độ nghe chính xác của mình.
Khi nghe không nhất thiết phải nghe từng từ, mà nghe những từ / cụm từ
chuyển tải ý nghĩa quan trọng của thông tin, rất nhiều lúc ngời học phải đoán
nghĩa dựa trên những gì đã nghe đợc.
II. Dạy kĩ năng nói:
1. Điều đầu tiên cần làm trong một lớp học nói là việc phân tích nhu cầu nói
của ngời học để từ đó ngời dạy có thể chọn lựa ngữ liệu, thiết lập các tình huống
thích hợp để soạn các bài tập tơng ứng.
Nhu cầu nói của ngời học rất da dạng, thay đổi tuỳ theo mục đích học, trình
độ, lứa tuổi,.... Hoạt động nói của HS trong các trờng phổ thông thông thờng do
chơng trình và SGK xác định và đợc xây dựng theo một số nguyên tắc nhất định
nh: chủ điểm từ vựng, chủ điểm ngữ pháp, chức năng ngôn ngữ ....Mục đích của
các bài tập luyện nói là để giúp cho ngời học nói chính xác và trôi chảy những
điều cần thông tin. Tuỳ theo mục đích yêu cầu của bài học mà ngời dạy có thể lựa
cp nht ngy 1.10.2010
12
chọn một số kỹ thuật thích hợp để xây dựng các sinh hoạt học tập trong lớp và các
bài tập giao tiếp giữa ngời dạy và ngời học, giữa ngời học với nhau; để từ đó mở
rộng ra thành những ứng dụng giao tiếp thật sự trong cuộc sống, đáp ứng nhu cầu
học nói của ngời học.
Các bài tập luyện nói thờng đợc sắp xếp theo nhiều mức độ: từ những bài
tập đợc kiểm soát chặt chẽ đến những bài tập ít đợc kiểm soát hơn và đến giai
đoạn tập nói tự do.
Các hoạt động nói trong lớp thờng đợc tổ chức và xếp loại nh sau:
+ Rèn luyện cấu trúc ngữ pháp.
+ Hành động lời nói.
+ Tham gia.
+ Quan sát.
2. Trong thực hành giảng dạy có thể chia việc nói thành các
giai đoạn sau đây:
ơ
- Thiết lập tình huống.
- Giới thiệu ngữ liệu: ôn lại kiến thức nền cần thiết cho việc thực hành nói,
giới thiệu từ, cấu trúc ngữ pháp mới chuẩn bị cho ngời học đi vào thực hành trong
môi trờng mang ý nghĩa giao tiếp.
- Hớng dẫn thực hành các bài tập có kiểm soát với mức độ thay đổi từ kiểm
soát hoàn toàn đến ít kiểm soát hơn- bài tập có hớng dẫn.
- Hớng dẫn thực hành các bài tập tự do.
a) Thiết lập tình huống:

Ngời dạy giới thiệu đề tài và tổ chức cho ngời học tham gia vào hoạt động
gợi ý bằng một số tranh ảnh, hình vẽ trên bảng. Thí dụ: trong một bài học về đề tài
quần áo, nguời dạy thiết lập tình huống nh sau:
Your mom/dad is going to buy some new clothes for you. And here are
some pieces of clothes for you to consider.
b) Giới thiệu ngữ liệu:
1) Work in pairs. Discuss what you want , and put a check against the
things you want to buy.
2) What do yo want ? You can choose three pieces of clothes! Fill in the
blanks.
- I want ......., and .......
3) Look at the pictures above and work out two columns.
I want...... / I don t want.......
c) Thực hành:
cp nht ngy 1.10.2010
13
1) Information gap: work in pairs. You have a shopping list. Your partner
knows where to buy them. Discuss with your partner.
St A: a dress / apair of jeans / a pair of shorts....
St B: Shops ( Wo shop: 54 Le Loi str...)
2) Group work: You are discussing your favorite daily and Sunday clothes.
Give reasons to support your likes/ dislikes.
Here are some possible language items needed for your discussion:
I want / I dont want bto wear....
I like / I dont like.....because....
It is / They are very small/ tight/ large/ long/ easy/ uneasy/clumsy/ rough/
cheap/ expensive/ comfortable/ uncomfortable....
d) Bài tập củng cố:
Write a letter to your friend/ sister / brother who lives in another city to
inform her/ him about some new clothes you have shopped recently.
IiI. Dạy kĩ năng đọc:
1. Đọc là một kỹ năng quan trọng rất cần thiết trong việc dạy và học ngôn
ngữ ở các cấp lớp. Trong lớp học ngoại ngữ ngời học đọc để nắm bắt đợc thông
tin, để kiểm tra lại các dữ kiện, để tìm câu trả lời cho nững câu hỏi hoặc
làm sáng tỏ một vấn đề nào đó. Nếu không đợc đọc thì ngời học sẽ khó tiếp
thu và ghi nhớ đợc ngữ liệu và thông tin lâu dài.
Học đọc tức là ngời học đợc rèn luyện để nhận ra mặt chữ và ý nghĩa của
thông tin đang đợc đọc.
Ngời Việt học Tiếng Anh có nhiều thuận lợi hơn so với nhiều dân tộc khác
là vì hệ thống chữ của Tiếng Việt giống nhau, chỉ một số ít khác nhau nh: w, z,
j....
Tuỳ theo mục đích của bài họ, ngời dạy có thể dạy đọc theo một vài cách d-
ới đây:
- Ngời hpcj thay phiên nhau đọc lớn tiếng ( áp dụng cho lớp bắt đầu học NN
và cho ngời nhỏ tuổi)
- Ngời dạy đọc, ngời học dò theo trong sách.
- Ngời học đọc thầm.
ở lớp mới học NN, ngời học phải làm quen với sự kết hợp các chữ cái trong
hệ thống chữ viết mới và dựa vào thông tin cho sẵn để hiểu đợc ngữ nghĩa của từ,
cụm từ, mệnh đề và câu tiếng Anh. Việc đọc tiếng Anh là khó đối với ngời Việt là
vì không thể đánh vần nh từ tiếng Việt. Ngoài ra còn nhiều yếu tố khác ảnh hởng
đến việc đọc nh: trọng âm, tiết tấu, ngữ điệu vì chúng có ảnh hởng đến việc diễn
đạt ý nghĩa của từ và câu.
ở các lớp học NN, hoạt động đọc thờng để củng cố sau những các hoạt
động nói, nghe. Để việc đọc có hiệu quả và mang ý nghĩa giao tiếp, ngời dạy cần
có giai đoạn chuẩn bị và làm cho ngời học cảm thấy có nhu cầu đọc.
Các bài đọc cần chuẩn xác về ngôn ngữ, phong phú và đa dạng về thể loại,
có nội dung liên quan và làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của ngời học, gây
hứng thú để việc đọc không nhàm chán. Lời hớng dân thực hiện các bài tập cần
cp nht ngy 1.10.2010
14
chú ý nhấn mạnh hớng dạy các kỹ thuật đọc và việc thảo luận mở rộng đề tài của
bài đọc.
2. Một số yếu tố ảnh hởng đến việc dạy học:
- Khả năng tập chung của ngời học.
- Khả năng đọc hiểu lời hớng dẫn.
- Khả năng quan hệ với những ngời cùng lớp.
- Khả năng theo dõi một dòng chữ in dài.
- Khả năng hiểu và hình thành các kí hiệu.
- Khả năng nhận ra ý tỏng do tranh thể hiện một vật thực nào đó.
- Khả năng nhận ra các ý tởng âm thanh và hình ảnh.
- Trình độ học vấn phổ thông của ngời học.
- Tính khả thi và phù hợp của nội dung bài đọc.
- Kinh nghiệm sống của ngời học.
- Khả năng suy luận của ngời học.
- Các câu thành ngữ, ẩn dụ trong bài đọc.
3. Các giai đoạn dạy đọc:
Gồm các hoạt động sau đây:
a) Giai đoạn chuẩn bị: Trong giai đoạn này ngời dạy gíơi thiệu tổng quát
về đề tài sắp học, dùng các dữ kiện có liên quan đến kinh nghiệm sống của
ngời học qua qua một số hoạt động nh: đặt câu hỏi trớc và giúp cho ngời
học đoán trớc nội dung bài đọc. Nếu bài đọc là đoạn hội thoại , ngời dạy cần giới
thiệu địa điểm diễn ra hội thoại, số ngời tham gia, và có thể nói mối liên hệ giữa
những ngời nói. Nếu là đoạn trích trong một chuyện ngắn, ngời dạy có thể cho
một hay vài ngời học điểm lại những sự kiện chính trớc đó.
Ngời dạy tận dụng tối đa tranh ảnh đợc in trong SGK, hớng dẫn sự chú ý
của ngời học vào nội dung của bài đọc bằng cách giúp họ đoán trớc những ý tởng
và ngôn ngữ sẽ đợc thể hiện trong bài.
b) Giai đoạn đọc:
Nhằm giúp cho ngời học rèn luyện kỹ năng đọc hiểu , một số kĩ năng khác
đợc kết hợp trong việc rèn luyện kĩ năng đọc hiểu. Các kỹ thuật đợc dùng trong
giai đoạn này là đọc tập trung ( intensive reading) và đọc mở rộng ( extensive
reading) . đọc tập trung có nghĩa là ngời đọc phải hiểu tất cả những gì đã đọc và
có thể trả lời các câu hỏi chi tiết về từ/ ngữ và ý tởng đợc diễn đạt qua bài văn.
Đọc mở rộng có nghĩa là ngời học hiểu một cách tổng quát về bài văn mà không
cần thiết phải hiểu từng từ hoặc từng ý. Việc đọc tập trung sẽ giúp cho ngời học
đọc mở rộng tốt hơn, đồng thời việc đọc mở rộng sẽ giúp cho ngời học tự tin hơn
khi tiếp xúc với các văn bản chuẩn xác.
Đối với bài đọc dài, ngời dạy có thể áp dụng cách đọc mở rộng ở một số
đoạn, đọc tập trung ở những đoạn khác. Nếu đọc tập trung ở một bài văn quá dài,
ngời học sẽ mất hứng thú và sẽ không đủ thời gian rèn luyện kỹ năng đọc nhanh.
Trong SGK cũ bài đọc đợc chuẩn bị kĩ và giới hạn về ngôn ngữ để ngời học áp
dụng lối đọc tập trung. Nhng trong SGK mới, hình thức bài đọc phong phú, đa
dạng và chuẩn xác. Với cách đọc mở rộng, ngời học sẽ cảm thấy dù trình độ ngôn
ngữ của họ có hạn chế bao nhiêu thì họ vẫn có thể hiểu đợc một cách khái quát
những gì đợc thông tin qua ngôn ngữ thực đợc dùng trong cuộc sống.
cp nht ngy 1.10.2010
15
Ngời dạy nên hạn chế việc đọc lớn bài văn vì việc đọc nh thế rất khó đối với
họ ( đặc biệt ở các lớp lớn) . Bài văn có thể nhiều từ mà ngời học cha biết cách
phát âm, các bài hội thoại có thể đòi hỏi phải thấu hiểu các cấu trúc, ngữ điệu đặc
biệt mà ngời học không biết. Việc đọc một bài văn không đợc chuẩn bị trớc sẽ
làm cho ngời học kém tự nhiên, ngập ngừng, hoặc phát âm sai làm ảnh hởng đến
những ngời học khác. Trong khi đọc thành tiếng, ngời học sẽ tập trung nhiều vào
phần phát âm hơn là phần ý nghĩa của văn bản; do đó có thể ngời học đọc thành
tiếng tốt nhng lại hiểu ít hoặc thậm chí không hiểu gì về điều đã học.
Trớc hết, ngời dạy nên đọc cả bài văn hoặc cho ngời học nghe băng tiếng do
ngời bản ngữ đọc. Sau đấy ngời dạy cho ngời học đọc thầm. Ngời dạy sẽ giúp các
cá nhân nào gặp khó khăn trong khi đọc. Việc cho ngời học đọc lớn bài văn cần có
sự chuẩn bị truớc để việc đọc không mất thời gian và kém hiệu quả.
Ngời dạy cũng cần đổi cách dạy đọc. Trong việc dạy đọc mở rộng, hình
thức đọc thầm rất thích hợp và mang lại hiệu quả cao. Ngời dạy giới hạn thời gian
đọc và sau đấy cho một số câu hỏi để kiểm tra mức đọc hiểu của ngời học.
Phần lớn các bài văn nghị luận, khảo luận đợc viết ra là để đọc thầm. Chỉ
những thể loại nh thơ, đồng dao, và hội thoại mới đợc viết ra để đọc lớn vì vậy ng-
ời dạy nên tuỳ theo thể loại văn mà áp dụng cách dạy đọc. Trong trờng hợp cho
ngời học đọc lớn, cần có sự chuẩn bị trớc và việc thực hiện thay đổi theo một số
cách nh sau:
1) Đối với ngời bắt đầu học, ngời dạy đọc mẫu, cả lớp lặp lại từng câu.
2) ở những lớp có trình độ thấp, ngoài việc lặp lại theo ngời dạy, ngời học
có thể học theo băng tiếng, việc lặp lại theo băng tiếng thờng khó hơn lặp
lại theo ngời dạy vì giọng nói trong băng tiếng thờng khó nghe hơn giọng
nói của ngời dạy.
3) Ngời dạy đọc một đoạn , sau đó ngời dạy yêu cầu cả lớp đọc lại đoạn bài
đọc đó.
4) Một ngời học đọc lại từng câu theo ngời dạy.
5) Lớp đợc chia làm nhiều nhóm hai ngời / nhiều ngời. Mỗi nhóm chuẩn bị
một đoạn để đọc lớn, sau đó một đại diện của mỗi nhóm sẽ đọc một đoạn. Trong
trờng hợp bài đọc là một đoạn hội thoại, nhóm sẽ phân vai và chuẩn bị. Ngời dạy
thảo luận với những nhóm có khó khăn về phát âm ( trọng âm, tiết tấu và ngữ
điệu). Sau đó một nhóm nào đấy sẽ đợc chọn để đóng vai diễn cho cả lớp theo dõi.
Sau khi dạy đọc, ngời dạy sẽ nêu một số câu hỏi nhằm hớng dẫn ngời học
đọc hiểu nội dung thông tin trong bài, đồng thời cũng để đo lờng mức độ hiểu của
ngời học, từ đó ngời dạy có thể giải thích thêm các chi tiết còn cha rõ. Vì vậy nội
dung các câu hỏi cần phải hớng sự chú ý của ngời học đến những ý tởng chính
trong bài, và giúp ngời học hiểu nghĩa của bài văn . Không nên đặt các câu hỏi quá
dài và quá khó để đánh đố ngời học mà nên các câu hỏi ngắn gọn vì mục đích
chính là để giúp ngời học đọc hiểu bài.
Ngời dạy cần khuyến khích và tổ chức sao cho cả lớp tham gia vào hoạt
động trả lời các câu hỏi. Sau đấy hớng dẫn để họ phân biệt đợc các câu trả lời
đúng sai.
Trong giai đoạn này, ngời dạy có thể tổ chức lớp thành hoạt động nhóm- hai
hay nhiều hơn hai ngời- để thảo luận các câu trả lời. Bằng cách này, tất cả mọi ng-
cp nht ngy 1.10.2010
16
ời trong lớp phải tham gia hoạt động trả lời và hoạt động này ngời học sẽ có cơ hội
làm việc chung, thảo luận và giúp đỡ lẫn nhau.
Hình thức trả lời có thể là viết hay nói. Việc trả lời nói sẽ ít mất thời gian
hơn và đợc nhiều ngời dạy áp dụng. Nhng trong một lớp đông, nguời dạy sẽ gặp
khó khăn trong việc kiểm soát xem liệu tất cả những ngời học có hiểu bài thật sự
hay không. Hình thức viết câu trả lời sẽ giúp ngời học có nhiều thì giờ để suy
nghĩ, dễ tổ chức và kiểm tra, dùng từ/ ngữ có hiệu quả trong một lớp đông ngời
học; nhng hình thức này mất nhiều thời gian hơn. Ngời dạy cần khuyến khích ngời
học viết những câu trả lời ngắn vì mục đích của bài tập này chỉ nhằm kiểm tra mức
độ hiểu bài đọc.
Một số hoạt động trong giai đoạn này có thể là :
1) Hỏi và trả lời.
2) Đọc và điền vào các ô còn trống thông tin trong một bảng.
3) Đọc và sắp xếp tranh theo đúng thứ tự dợc mô tả trong bài đọc, hay sắp
xếp theo thứ tự những lời huớng dẫn thục hành các buớc trong một quy trình thực
nghiệm, thao tác sử dụng một thiét bị diện hay điện tử......
4) Đọc và vẽ tranh thẻ hiện nội dung hớng dẫn.
5) Đọc và ghi lại những thông tin chính duới một hình thức khác/ đọc và
tóm tắt lại ý chính của bài đọc.
c) Các bài tập củng cố:
Trong giai đọn này ngời học sẽ tham gia một số hoạt đoọng nhằm mở rộng việc
khai thác nội dung bài đọc và phat triển một số kĩ năng khác ngoài kĩ năng đọc.
Bài tập có thể là:
1) Điền vào một bảng cho sẵn ( để giúp ngời học tập trung vào những điểm
chính của bài đọc đặc biệt dối với các bài đọc có nhiều số liệu thống kê và dữ
kiện)
2) Trả lời một số câu hỏi có liên quan đến kinh nghiệm, ý kiến, tình cảm,
thái độ của cá nhân hoặc trả lời kèm theo việc giải thích lý do.
3) Việc viết bài tóm tắt/ bài phê bình dựa trên các thông tin của bài đọc......
IV. Dạy kĩ năng viết:
1) Viết là một trong những kĩ năng cơ bản mà ngời học cần rèn luyện trong
quá trình học NN. Xét về nhu cầu lâu dài thì kĩ năng viết ít cần thiết hơn các kĩ
năng nghe, nói và đọc. Tuy nhiên, trong quá trình học, hoạt động viết đựơc xem
nh bắt buộc và cần thiết - để củng cố các kĩ năng nghe, nói và đọc. Việc viết ra các
từ / ngữ đã học sẽ giúp cho ngời học nhớ lâu hơn, và qúa trình viết đòi hỏi thời
gian và sự cẩn thận, sẽ giúp cho nguời học tập trung hơn vào việc rèn luyện các kĩ
năng ngôn ngữ.
Hệ thống chữ viết Tiếng Việt tơng tự hệ thống chữ viết tiếng Anh, do đó ng-
ời học đợc thuận lợi trong khi học viết cũng nh khi học đọc. Thông thờng hoạt
động viết bao gồm các hoạt động có kiểm soát ( ỏ những mức độ khác nhau) và
hoạt động không có kiểm soát.
Bài tập chép lại các từ trên bảng, bài tập viết chính tả, bài tập viết theo mẫu
là những hoạt động có kiểm soát. Viết tóm tắt một đoạn văn, làm luận văn là
những hoạt động viết tự do. Việc rèn luyện kĩ năng viết phải đợc kết hợp với các
cp nht ngy 1.10.2010
17
hoạt động có ý nghĩa. Ngời học cần hiểu rõ mục đích của bài tập viết, nếu không
bài tập viết chỉ là những hoạt động máy móc và gây buồn chán. Ngời học có thể
chép lại mà không hiểu rõ nội dung đợc chép. Do đó ngời dạy phải làm thế nào để
cho bài tập viết có ý nghĩa và gây cho ngời học cảm giác hứng thú trong khi làm
bài tập.
Trong Tiếng Anh , việc kết hợp giữa âm và chữ viết khá phức tạp, không
giống nh trong Tiếng Việt. Vì vậy đối với những lớp bắt đầu học tiếng Anh , ngời
dạy phải tổ chức nhiều hoạt động để giúp cho ngời học làm quen với lối viết chính
tả tiếng Anh, đặc biệt các phụ âm/ cụm phụ âm nh: z, s, ch, sh, gh... có những
cách đọc có thể gây khó khăn cho ngời học trong khi viết. Cách đọc các nguyên
âm và cụm nguyên âm lại càng phúc tạp hơn. Một nguyên âm o có nhiêù cách
đọc do những kết nối âm và vị trí của nguyên âm trong từ nh: pot, hold, through,
thought, .....
Ngời dạy cần lu ý những kết hợp giữa nguyên âm và phụ âm làm ảnh hởng
đến mối liên hệ giữa âm và chữ viết nh:
+) phụ âm + nguyên âm: go, be, do....
+) phụ âm + nguyên âm + phụ âm: pin, hot, ten....
+) phụ âm + nguyên âm + phụ âm + e: done, lane, rose....
Hiện tợng gấp đôi phụ âm trong một từ cũng là một vấn đề khó đối với ngời
Việt học tiếng Anh. ( letting, patted, beginning, preferred...)
Để giúp ngời bắt đầu học có thói quen viết đúng từ, trong các giai đoạn dạy
viết ban đầu ngời dạy tổ chức các dạng bài tập nhận dạng từ nh:
a) Ghép.
b) Bài tập tô từ, viết từ trên khuôn kẻ.
c) Bài tập kết hợp gĩa ngữ âm và chữ viết.
Bài tập viết ở những lớp lớn hơn chuyển dần từ việc chép chữ, câu một cách
máy móc sang hình thức phối hợp để phát triển các công cụ thông tin cơ bản. Các
hoạt động viết ở các lớp này thờng đợc kiểm soát và chú trọng về nội dung thông
tin và sự chính xác của ngôn ngữ.
Các bài tập điển hình nh:
1) Trong bài tập kết hợp với kĩ năng nghe, ngời học viết sẽ điền từ ( gap
filling) để hoàn chỉnh các câu có ý nghĩa. ( Listen to your teacher. Then write out
the complete sentences)
2) Bài tập hoàn chỉnh câu sau khi sắp xếp thứ tự các từ cho sẵn và bổ sung
thêm từ/ thay đổi hình thái của từ để câu đợc viết đúng ngữ pháp. ( Re-order the
words. Then write the sentences correctly)
3) Bài tập viết theo mẫu. ( Write a true sentence like this about you)
4) Liệt kê những việc sẽ làm ( Things to do) / Lập danh sách những việc đã
làm ( Things completed).
5) Viết lời nhắn tin ( Massages for Mai)
6) Xem tranh và viết câu mô tả đúng với nội dung của tranh.
cp nht ngy 1.10.2010
18
Những bài tập viết ở các lớp có trình độ trung cấp thờng chú trọng đến việc
diễn đạt cá nhân nh viết th cho bạn mô tả những kinh nghiệm cá nhân, viết nhật
kí....Các bài tập viết báo cáo khoa học, viết luận văn là những hình thức viết ở
trình độ cao cấp thích hợp với SV đại học chuyên ngữ.
2. Bài tập chính tả:
Là một trong những kỹ thuật có hiệu quả giúp phát hiện những lỗi về ngữ
pháp trong khi viết do ngời học nghe không chính xác. Ngời dạy sẽ đọc đoạn văn
dùng làm bài tập viết chính tả một vài lần: trong lần thứ nhất ngời dạy đọc với tốc
độ bình thờng. Trong lần thứ hai, ngời dạy dừng lại sau mỗi cụm từ/ mệnh đề để
chờ ngời học viết. Trong lúc đọc ngời dạy thờng nhấn mạnh
những chỗ nh phụ âm cuối của các từ số nhiều, hình thái của những từ chức
năng để giúp ngời học viết đúng ( những chỗ này không nhấn mạnh trong lúc
nói/ đọc bình thờng). Ngời dạy sẽ đọc lại đoạn văn lần thứ ba với tốc độ bình
thờng để giúp cho ngời học có cơ hội kiểm tra và sửa chữa lại bài đã viết.
Sau đó ngời dạy yêu cầu ngời học đọc/ xem lại bài viết chính tả của mình để sửa
lỗi. Nế mục đích của bài viết chính tả là phát hiện và sửa lỗi, ngời dạy hớng dẫn
cho ngời học khoanh tròn những lỗi thờng mắc phải trong khi viết chính tả nh các
phụ âm s tận cùng của các động từ chia ngôi thứ ba số ít, ed tận cùng của
dộng từ chia ở thời quá khứ..... Nếu mục đích của bài viết chính tả nhằm giúp cho
ngời học làm quen với một số cấu trúc ngữ pháp nh
các mệnh đề tính từ, động từ ở thì perfect ,.... ngời dạy sẽ hớng dẫn cho
ngời học gạch chân những phần đợc chú trọng và giải thích thêm về những điểm
ngữ pháp này.
Bài tập viết chính tả là một kỹ thuật kết hợp giữa nghe và viết và là một bài
tập viết có hiệu quả đối với lớp đông vì ngời dạy có thể kiểm soát đợc hoạt động
của cả lớp. Ngoài ra, trong khi đọc chính tả ngời học sẽ tập trung hơn vào bài tập.
Tuy nhiên bài viết chính tả sẽ chiếm nhiều thời gian trong lớp, đặc biệt
trong việc sửa chữa lỗi sau khi viết.
Nhiều ý kiến cho rằng: khi viết chính tả một số ngời học chỉ viết một cách
máy móc, đôi khi không hiểu rõ những gì mình đã viết vì bài tập này chỉ chú trọng
về mặt chữ viết chứ không thực sự phát triển kĩ năng viết của nguời học- đòi hỏi có
sự suy nghĩ, diễn đạt ý tởng ra thành câu văn, áp dụng những quy tắc ngữ pháp của
ngôn ngữ đang học.
Ngoài ra, việc nghe để viết chính tả cũng không thực tế vì trong cuộc sống
ít khi ngời học nghe ngôn ngữ theo kiểu nghe để viết chính tả.
Do đó để khắc phục nhợc điểm này của bài tập viết chính tả, ngời dạy có
thể cho ngời học làm bài tập viết tái tạo (re-construction) lại một đoạn văn sau
khi đã đọc cho ngời học nghe đoạn văn này và viết những từ hớng dẫn lên bảng.
Hình thức này giúp phát triển cả hai kĩ năng nghe và viết, có tập trung vào ý nghĩa
của câu viết.
3. Các bài tập viết một đoạn văn tự do thờng phải có sự chuẩn bị trớc để
giúp ngời học bớt khó khăn trong khi viết. Ngời dạy có thể giải thích cho ngời học
cp nht ngy 1.10.2010
19
hiểu rõ mục đích của bài tập viết và cho ngời học đọc một đoạn văn ngắn và
nghiên cứu một số điểm ngữ pháp trọng tâm trong đoạn văn này. Sau đó ngời học
sẽ viết một đoạn văn tơng tự nhng có thay đổi về chi tiết dựa vào môi trờng và
kinh nghiệm sống của mình. Thí dụ: Ngời học sẽ đọc một đoạn văn mô tả các
mùa ở NewYork và tự trả lời một số câu hỏi để kiểm tra khả năng đọc hiểu của
mình về đoạn văn ; sau đó viết một đoạn văn mô tả các mùa ở Việt Nam ( ngời
dạy nên cho một số từ gợi ý và câu hỏi về chủ điểm đợc viết).

Ngoài ra, hình thức sắp xếp lại các câu lẫn lộn (jumbled sentences) của hai đoạn
văn để từ đó làm cơ sở viết một đoạn văn tơng tự cũng khá phổ biến trong việc dạy
học viết ở trình độ trung cấp.
4. Các giai đoạn dạy viết:
Thờng thực hiện qua ba giai đoạn sau đây:
a) Giai đoạn chuẩn bị: Trong giai đoạn này ngời dạy có thể tổ chức một số
hoạt động nhằm ôn lại từ hoặc cấu trúc ngữ pháp cần thiết để chuẩn bị cho bài
tập viết. Các hoạt động có thể ở dạng: nghe, nói hoặc đọc, sử dụng cùng nguồn
ngữ liệu đầu vào.
b) Giai đoạn viết: Ngời học thực hiện một số hoạt động viết hoặc kết hợp
giữa đọc và viết. Các bài tập có thể là viết trả lời một số câu hỏi, điền từ còn thiếu
vào một đoạn văn (gap filling), viết theo mẫu cho sẵn, viết lại thông tin dới một
dạng khác....
c) Các hoạt động tiếp theo: Thờng tập trung vào việc chữa bài viết. Đối với bài
viết chính tả, ngời dạy có thể cho ngời học đọc lại bài để kiểm tra, hoặc đánh vần
và viết ra những từ thờng bị viết sai lên bảng để ngời học tự chữa lại hoặc cho ngời
học đổi vở cùng bạn đồng học kiểm tra chéo. Các bài tập viết tự do nh viết một
đoạn văn, luận văn đòi hỏi ngời dạy phải chấm bài của từng cá nhân, chứ không
thể sửa tập thể trong lớp nh đối với các bài tập viết nhằm vào việc rèn luyện các
điểm ngữ pháp tiếng Anh
Chơng IV
Các kĩ năng dành cho ngời dạy
I. Việc soạn giáo án:
Giáo án là kế hoạch giảng dạy cụ thể bao gồm nội dung khác nhau và đợc
sắp xếp theo một trình tự nhất định. Trong khi soạn giáo án, ngời dạy sẽ có dịp tập
trung suy nghĩ về nội dung bài dạy và có những quyết định liên quan đến việc tổ
chức dạy và học trong lớp. Một giáo án đợc soạn tốt sẽ giúp cho ngời dạy tự tin
hơn khi vào lớp đối diện với ngời học. Ngoài ra, trong lúc soạn giáo án ngời dạy
cũng có thể đoán đợc những tình huống bất ngờ có thể xảy ra trong lớp liên quan
đến nội dung bài học, và từ đó có những sự chuẩn bị cần thiết.
cp nht ngy 1.10.2010
20
Về mặt quản lý, việc soạn giáo án sẽ giúp ngời dạy thay thế nắm đợc nội
dung cần dạy hay giúp cho ngời dự lớp/ thanh tra có thể theo dõi tiết dạy và đánh
giá đúng hoạt động dạy đã đợc chuẩn bị.
Tuỳ vào nội dung bài dạy mà nội dung chi tiết của các giáo án có thể thay
đổi. Ví dụ giá án một bài dạy cấu trúc khác với bài dạy kĩ năng. Nếu chơng trình
SGK tốt thì việc công việc soạn giáo án sẽ tơng đối nhẹ nhàng. Tuy nhiên ngời
dạy vẫn phải có những quyết định liên quan đến các hoạt động trong lớp
hầu thực hiện đợc các mục tiêu của bài dạy. Nếu có sách hớng dẫn giảng dạy, ngời
dạy cần nghiên cứu sách này để nắm đợc các nội dung sau đây:
- Mục tiêu của bài học.
- Ngữ liệu cần dạy.
- Tiến trình bài học.
- Phơng pháp giảng dạy.
Mục tiêu của bài dạy thờng tập trung vào một chủ điểm nào đó nh: màu
sắc, mua sắm, quần áo, thực phẩm, ....hoặc mục tiêu bài học cũng có thể chú
trọng vào các chức năng ngôn ngữ nh: chào hỏi, đồng ý/ không đồng ý, hỏi
đờng, gọi điện thoại, ..... hay các kĩ năng nh: nghe hiểu đợc những lời hớng
dẫn sử dụng đợc điện thoại công cộng, tham gia hội thoại về bảo vệ môi tr-
ờng....hay một điểm ngữ pháp nào đó nh: sử dụng thì quá khứ để nói về những
thói quen trong quá khứ, nói về những dự tính trong tơng lai dùng be going to
+ V (bare) ....
Ngữ liệu của bài dạy gồm từ vựng và các cấu trúc ngữ pháp mới xuất hiện
trong bài. Ngời dạy phải quyết định xem những từ nào quan trọng cần đợc dạy cẩn
thận và những từ nào chỉ cần biết nghĩa và có thể dạy lớt qua. Việc giới thiệu và tổ
chức rèn luyện ngữ liệu mới đôi khi đòi hỏi ngời dạy phải ôn lại những phần đợc
dạy trớc đó để làm một mắc xích liên kết.
Ngoài ra các kĩ năng đợc rèn luyện cũng cần đợc nêu lên trong một giáo án.
Ngời dạy cần nghiên cứu xem kĩ năng đợc tập trung rèn luyện trong bài học là
nghe / nói / đọc / viết hay là sự kết hợp hai hay ba kĩ năng lại với nhau.
Tiến trình của một bài dạy thờng theo các bớc sau đây:
- Giới thiệu ngữ liệu.
- Thực hành rèn luyện.
- Thực hiện các hoạt động: nghe, nói , đọc ,viết tuỳ theo nội dung bài
học để chuẩn bị cho các bài tập liên kết.
- Củng cố và ôn lại trọng điểm của bài học.
Tuy nhiên, thứ tự các bớc dạy cần đợc linh động phụ thuộc vào nội dung bài
học, trình độ ngời học, sự lựa chọn của ngời dạy. Các bớc trong tiến trình dạy một
bài học có thể gối lên nhau. Thí dụ việc đọc một văn bản nào đó có thể là một
phần của giai đoạn giới thiệu ngữ liệu mới, việc trả lời câu hỏi về một bài đọc có
thể là một phần của hoạt động đọc nhng đồng thời là một bài tập nói.
II. đồ dùng dạy học:
cp nht ngy 1.10.2010
21
Kể từ khi phơng pháp giao tiếp đợc áp dụng, ngời dạy NN chú trọng nhiều
đến việc sử dụng các giáo cụ trực quan hay phơng tiện nghe - nhìn để giúp cho
việc giới thiệu và rèn luyện ngôn ngữ có ý nghĩa hơn và giúp không khí học tập
đuợc thêm phần hào hứng.
Với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, các phơng tiện nghe - nhìn ngày nay
rất phong phú và đa dạng, từ những tranh ảnh có nhiều màu sắc, in đẹp, đợc
sản xuất hàng loạt đến những phơng tiện điện tử, tin học tối tân hơn nh:
băng tiếng, băng hình, phim đèn chiếu, máy vi tính....
Với sự trợ giúp của đồ dùng dạy học ngời dạy có thể hớng sự chú ý
của ngời học vào ngữ nghĩa của ngôn ngữ đang học và làm cho việc học trở lên
hào hứng, thú vị hơn. Ngời dạy có thể sử dụng đồ dùng dạy học trong nhiều giai
đoạn của bài học từ khâu khởi động, giới thiệu ngữ liệu mới, rèn luyện, đến khâu
ôn lại ngữ liệu đã học.
1. Bản thân ngời dạy cũng là một nguồn nghe - nhìn rất hiệu quả. Bằng
giọng nói, cử chỉ, nét mặt, cử động của đôi bàn tay...ngời dạy có thể minh hoạ cho
ngữ nghĩa của từ vựng mới và nêu đợc tình huống giao tiếp trong một bài hội
thoại.
2. Bảng viết trong lớp- một phơng tiện giúp cho ngời dạy có thể vẽ đủ loại
hình, từ những hình ngời đơn giản theo lối hình que cho đến những ngôi nhà, ô tô,
bản đồ chỉ đờng....cũng là một đồ dùng dạy học giúp ngời học tiếp thu ngữ liệu
qua thị giác, và từ đó có thể tởng tợng, suy diễn ra ngữ nghĩa của thông tin.
3. Đồ vật thật- nh các đồ dùng trong sinh hoạt nh: quần áo, sách vở, báo, tạp
chí...những thứ có thể mang vào lớp hay có sẵn trong lớp nh: bàn ghế, bản đồ, sàn
nhà, trần nhà, tranh treo tờng, cờ,...cũng là những phơng tiện tốt để ngời dạy sử
dụng trong lớp. Ngoài ra , ngời dạy có thể sử dụng tranh ảnh ảnh cằt ra từ hoạ báo,
tạp chí.. để dán vào những tấm bìa cứng để dạy từ vựng hay để minh hoạ tình
huống giao tiếp của một bài hội thoại. Để khâu giới thiệu ngữ liệu hoặc thiết lập
tình huống đỡ mất thời gian, nhiều ngời dạy viết từ mới , vẽ hình, biểu đồ lên bìa
cứng để dùng trong lớp. Nói chung, ngời dạy có thể tự su tầm hay yêu cầu ngời
học su tầm từ nhiều nguồn nh: bu ảnh, báo ảnh, tranh quảng cáo, tranh cổ
động....để làm phong phú thêm kho t liệu hình ảnh, giúp cho việc học NN trở lên
hấp dẫn, sống động và hứng thú hơn.
Trên thực tế cho thấy: ngời học nghe băng tiếng sẽ cảm thấy khó hơn nghe
thật vì ngời học không thấy đợc ngời nói cùng với những cử chỉ, nét mặt, thái
độ....những yếu tố phi ngôn ngữ nhng có thể thông tin rất nhiều điều trong giao
tiếp. Trong thực tế giao tiếp nếu ngời nghe không hiểu thì sẽ có phản hồi qua ánh
mắt, nét mặt, hay yêu cầu ngời nói lặp lại. về phần ngời nói nêu thấy ngời nghe
không hiểu thì sẽ nói lại, nói chậm hơn hoặc dùng cách nói khác dễ hiểu hơn để
giúp ngời nghe nắm đợc thông tin cần thiết.
Ngợc lại, việc nghe băng sẽ giúp cho ngời học nghe đi nghe lại nhiều lần
một nội dung nói để quen với tiếng nói và hiểu đợc thông tin mà trong thực tế
giao tiếp một ngời nói sẽ không thể nào thực hiện đợc việc nói lại y hệt những điều
đã nói trớc đấy với cùng giọng điệu và âm hởng. Ngoài ra, néu ngời học nghe và
hiểu đợc tiếng nói thu băng thì việc nghe hiểu trong thực tế sẽ dễ dàng hơn.
cp nht ngy 1.10.2010
22
III. Ngôn ngữ thờng dùng trong lớp:
Việc sử dụng tiếng Anh trong việc tổ chức, hớng dẫn các sinh hoạt học tập
thờng ngày trong lớp sẽ giúp cho ngời học có cơ hội nghe hiểu tiếng Anh đợc sử
dụng thực sự cho các nhu cầu giao tiếp.
Vào đầu giờ học, ngoài việc chào hỏi theo thong lệ, thỉnh thoảng ngời dạy
cũng nên tạo không khí giao tiếp trong lớp bằng việc hỏi lớp hay một vài cá nhân
trong lớp về sinh hoạt hàng ngày. Những hoạt động nh thế sẽ tạo một cơ hội tiếp
xúc tự nhiên giữa ngời dạy và ngời học, đồng thời giúp cho ngời học cảm thấy việc
học tiếng Anh của mình có hiệu quả hơn trong thực tế vì họ có thể nói những điều
họ muốn nói. Nếu ngời học gặp khó khăn trong khi nói, ngời dạy có thể nhắc và
gợi ý để ngời học cảm thấy tự tin hơn.
Thí dụ sau kì lễ, ngời dạy có thể giao tiếp bằng những câu:
- Did you all enjoy the holiday? How did you enjoy your holiday? Well, I
enjoyed the holiday, too. I went to the seaside with my family. Did anyone go to
the seaside? You did, Lan ? Who did you go with?....
Sau đây là một số ngôn ngữ thờng dùng trong lớp đợc sắp xếp theo loại:
1) Greetings and leave-taking:
- Good morning/afternoon/ evening, class.
- Goodbye, everyone.

2) Commands, organising:
- Stand up, please/ Sit down, please
- Open/Close your book.
- Listen,please.
- Stop talking, please./ Be quiet, please.
- Repeat after me.
- Once more /Again.
- Come here, please
- Lan, come to the chalkboard.
- Come to the front, please.
- Could you open/close the door, Lan?
- Now, pay attention, everybody.
- Lan, could you clean the board, please?
- Open your books at page....
- Now, you do execise 5, please.
- Do exercise 5 and 6 for homework, please.
- Read the text silently.
- Now, practise the dialogue in pairs.
- Now, work in pairs/ in groups of 4...
- When you have finished, raise your hands.
- Listen. I am going to read the dialogue/text to you.
- Lan, come and stand at the front, please.
- Dont call out the answer. Wait till I ask you.
- Thats all for today
- Thats the end of the lesson/ Its time to stop now.
cp nht ngy 1.10.2010
23
- Well, finish the exercise for homework.
3) Checking attendance:
- Is anyone absent today? / Whos absent today?
- Where is Lan?
- Where were you last time, Nam?
- Stop talking to the back, please.
- What are you doing ? Stop making noise, please.
- Are you listening, Mai?
- If you dont understand , ask me/ your partner.
4) Presenting:
- Today we are going to begin (Lesson/ Unit 5). Open your books at page
24...
- Today we are going to practice (the simple present tense).
- Today we are going to read about ( air pollution)
- In the dialogue, we will hear a conversation between a man and a woman.
They are talking about.....
5) Correcting:
- Whats the answer to number 5?
- Is that correct? If not, what is the correct answer?
- Has anyone got the answer to number 6?
- Has anyone got a different answer?
- Is that / Lans answer correct?
6) Guiding:
- You want to post a letter....
- You are mending a flat tyre of your bicycle....
- Your sister is helping your mum in the kitchen...
- Lets discuss what the speakers might say....
- Lets talk about pollution....
*) Thuật ngữ approach , method và technique : Việc dạy ngôn ngữ thờng đ-
ợc đề cập đến qua ba thuật ngữ: phơng hớng (approach) , phơng pháp ( method),
và kĩ thuật/thủ thuật (technique). Trong ba thuật ngữ nêu trên, phơng hớng mang ý
nghĩa rộng hơn và thờng đợc dùng để chỉ những lí thuyết liên quan đến bản chất
của ngôn ngữ và cách học ngôn ngữ nói chung. Phơng pháp thờng đợc dùng để chỉ
các cách khác nhau để dạy ngôn ngữ, còn kĩ thuật/ thủ thuật thờng dùng để chỉ
những bài tập cụ thể đợc tổ chức trong lớp.

Bài 1
Giới thiệu chơng trình SGK mới
cp nht ngy 1.10.2010
24
I. Quan điểm dạy học mới trong chơng trình tiếng anh
thcs:
1) Mục tiêu của chơng trình môn Tiếng Anh THCS :
Mục tiêu chung vẫn là giúp cho HS nắm đợc kiến thức cơ bản và tơng đối
hệ thống về tiếng Anh thực hành hiện đại, có kĩ năng cơ bản sử dụng tiếng Anh
nh một công cụ giao tiếp, đồng thời hình thành các kĩ năng học tiếng và phát triển
t duy. Tuy nhiên, mục tiêu của chơng trình tiếng Anh mới có một số điểm mới là:
- Tiếng Anh thực hành hiện đại và phù hợp lứa tuổi.
- Nhấn mạnh cả bốn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ là nghe, nói, đọc viết ngay
từ đầu chơng trình.
- Những kiến thức, kĩ năng và phẩm chất giúp HS không chỉ tiếp tục học lên
mà còn có thể đi vào cuộc sống lao động.
2) Nội dung chính cần đạt của chơng trình mới là :
Chơng trình tiếng Anh mới có nhiều chủ điểm phong phú và đa dạng. Tuy
nhiên đó không phải là nội dung chính mà HS cần đạt, mà quan điểm chủ điểm chỉ
là cách thức lựa chọn và tổ chức ngữ liệu cho chơng trình, qua đó ta có đợc những
bài học dạy ngôn ngữ sinh động, có nghĩa và thiết thực cho HS. Đích cuối cùng
vẫn là kiến thức ngôn ngữ và các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ đó.
3) Cách tổ chức nội dung dạy học:
Việc biên soạn SGK mới không dựa trên quan điểm cấu trúc truyền thống
mà dựa trên quan điểm chủ điểm. Có nghĩa là ngữ liệu đợc lựa chọn và sắp xếp
theo nội dung chủ điểm và đợc xuất hiện tự nhiên theo chủ đề và tình huống chứ
không theo trình tự của hệ thống cấu trúc ngữ pháp truyền thống. Cách tổ chức sắp
xếp nội dung không đi theo tuyến tính (hết phần này đến phần khác) mà đợc phát
triển theo hình xoáy ốc (luôn lặp lại và phát triển mở rộng) một cách nhất quán
trong suốt chơng trình.

4) Các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và lợng từ vựng trong bài:
Theo quan điểm dạy học mới, ngữ liệu thờng không đợc tách rời mà luôn
gắn kết với ngữ cảnh và đợc dạy phối hợp với các hoạt động lời nói là nghe, nói,
đọc, viết. Các kĩ năng đều đợc quan tâm ngay từ đầu và sẽ là các hoạt động hỗ trợ
lẫn nhau trong quá trình học tập. Tuy nhiên với mục tiêu và đặc thù của môi trờng
học tiếng ở THCS, hai kĩ năng nghe và viết có mức độ yêu cầu nhẹ hơn ở giai đoạn
đầu trong chơng trình, cụ thể là ở lớp 6 và 7.
Cùng với quan điểm dạy ngữ liệu một cách phối hợp và trong ngữ cảnh, l-
ợng từ vựng cũng vì thế không định lợng một cách máy móc và tách khỏi ngữ
Nguyen Minh Thanh - THCS Doan Ket
cảnh mà xuất hiện theo chủ đề và đợc dạy thành các nhóm có nghĩa để dễ học hơn.
5) Ngôn ngữ và nội dung chủ điểm:
cp nht ngy 1.10.2010
25

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu bồi dưỡng chuyên môn tiếng anh