Bản chất Hóa học và Tái bản của Vật chất Di truyền

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Bản chất Hóa học và Tái bản của Vật chất Di truyền


147


Chương 5
Bản chất Hóa học và Tái bản
của Vật chất Di truyền
Trước tiên, chúng ta cần nắm các đặc tính thiết yếu của vật chất di
truyền sau đây: (1) Đặc tính thông tin sinh học: chứa đựng thông tin cần
thiết cho việc xác định cấu trúc của tất cả các protein đặc thù của loài (các
gene cấu trúc) và điều khiển các hoạt động sinh trưởng, phân chia và biệt
hoá tế bào; (2) Đặc tính tái bản: khả năng tự sao chép chính xác, đảm bảo
thông tin di truyền của thế hệ sau giống với thế hệ trước; (3) Đặc tính hoạt
động của các gene: các gene trong bộ gene có khả năng tổng hợp ra các
sản phẩm là những phân tử tham gia vào mọi động sống căn bản của tế
bào (phiên mã và dịch mã); (3) Đặc tính biến đổi: khả năng bị biến đổi từ
nhiều quá trình khác nhau (như đột biến, tái tổ hợp, các yếu tố di truyền
vận động). Chính sự biến đổi đa dạng này tạo ra các nguồn biến dị di
truyền đa dạng và phong phú cho sự chọn lọc và tiến hoá.
Ngày nay chúng ta đều biết rằng vật chất di truyền chính là các
nucleic acid mà ở hầu hết sinh vật là loại deoxyribonucleic acid (DNA) và
ở một số virus là ribonucleic acid (RNA). Trong chương này, chúng ta sẽ
tìm hiểu thành phần hóa học và cấu trúc cũng như cơ chế tái bản của vật
chất di truyền là các đại phân tử DNA và RNA.
I. Bằng chứng vật chất di truyền là các nucleic acid
1. Các thí nghiệm biến nạp ở vi khuẩn
Năm 1928, Frederick Griffith đặt nền tảng cho việc xác định DNA là
vật chất di truyền thông qua thí nghiệm biến nạp (transformation) trên phế
cầu khuẩn Streptococcus pneumoniae. Các vi khuẩn kiểu dại có vỏ bọc
bằng polysaccharide mọc thành các khuẩn lạc hay dòng đặc trưng bằng
dạng nhẵn (S: smooth); chúng được coi là độc (virulent) vì có khả năng
gây viêm phổi làm chuột chết. Một nòi đột biến của nó mất khả năng hình
thành vỏ bọc và mọc thành các khuẩn lạc bé, xù xì (R: rough); chúng là
các vi khuẩn không độc (avirulent).
Griffith tiến hành các thí nghiệm khác nhau và nhận thấy rằng: (1) Nếu
tiêm các vi khuẩn sống nòi S, chuột chết; (2) Nếu tiêm các vi khuẩn sống
nòi R, chuột sống; (3) Nếu tiêm các vi khuẩn sống nòi S đã bị giết chết
bằng nhiệt, chuột sống bình thường; (4) Nhưng khi tiêm hỗn hợp gồm các
vi khuẩn nòi R còn sống và vi khuẩn nòi S đã bị giết chết bằng nhiệt, kết
quả bất ngờ là chuột chết. Từ mẫu máu của các con chuột chết này ông đã
phân lập được các vi khuẩn nòi S còn sống. Điều đó chứng tỏ rằng bằng

148


cách nào đó các mảnh vỡ tế bào vi khhuẩn nòi S bị giết bởi nhiệt đã xâm
nhập vào tế bào R sống và làm biến đổi nó thành vi khuẩn S sống và gây
độc. Quá trình này gọi là biến nạp và chất trong mảnh vỡ tế bào S đã gây
sự biến nạp đặc thù đó được gọi là tác nhân biến nạp (transformating
agent). Vậy bản chất của tác nhân này là gì?

Nòi S
sống
Nòi R
sống
Nòi S
chết
S chết + R
sống
Hình 5.1 Thí nghiệm của Griffith (từ trái sang là 1-4 như đã mô tả trong bài).
Trong hơn mười năm trời kể từ sau thí nghiệm của Griffith, Oswald
Avery cùng với MacLeod và McCarty đã tiến hành trở lại thí nghiệm biến
nạp này nhưng trong ống nghiệm (in vitro). Họ tinh chiết các thành phần
của tác nhân gây biến nạp và cho các enzyme khác nhau tác động thăm dò
lên hoạt tính của chất chiết này. Kết quả cho thấy hoạt tính của chất chiết
chỉ bị phân hủy bởi deoxyribonuclease (DNase) - enzyme có khả năng
phân cắt làm suy thoái chỉ đối với DNA, mà không bị tác động phân hủy
của ribonuclease (RNase) - enzyme làm suy thoái chỉ các RNA, cũng như
của các protease (như trypsin và chymotrypsin) - enzyme phân giải
protein. Vào năm 1944, nhóm nghiên cứu của Avery đã chứng minh được
rằng: DNA là vật chất mang thông tin di truyền, chứ không phải protein.
2. Tính ổn định của hàm lượng DNA ở các sinh vật bậc cao
Trước khi Avery và cs công bố kết quả này, đa số các nhà hóa sinh học
vẫn tin rằng gene chính là protein. Vì vậy sau kết quả hiển nhiên đó, nhiều
nhà khoa học vẫn còn nghi ngờ tính phổ quát của nó.
Vào lúc này, các nghiên cứu bản chất hóa học của nhiễm sắc thể đã
khẳng định rằng, hầu hết DNA được khu trú trong các nhiễm sắc thể ở
trong nhân. Hơn nữa, các phân tích hóa học của A.E.Mirsky và H.Ris

149


(USA) và của R.Vendrely (France) cho thấy hàm lượng DNA mỗi bộ
nhiễm sắc thể lưỡng bội luôn luôn ổn định đối với một cơ thể nhất định và
bằng hai lần hàm lượng DNA mỗi tế bào tinh trùng đơn bội. Chẳng hạn,
các số liệu tương ứng ở bò là xấp xỉ 6,6 và 3,3 picogam (1pg =10
-12
g).
3. Các thí nghiệm ở virus
3.1. Thí nghiệm Hershey-Chase
Năm 1952, Alfred D.Hershey và Martha Chase tiến hành các nghiên
cứu đánh dấu đồng vị phóng xạ ở loại thể thực khuẩn (bacteriophage,
thường nói gọn là phage) gọi là T2 vốn ký sinh ở vi khuẩn Escherichia
coli. Phage này chứa một lõi DNA và lớp vỏ bảo vệ bằng protein. Dựa vào
đặc điểm nguyên tử lưu huỳnh (S: sulfur) chỉ có trong protein và nguyên
tử phosphor (P) chỉ có trong nucleic acid, họ đã đánh dấu protein bằng
chất đồng vị phóng xạ S
35
và DNA bằng P
32
bằng cách cho các phage này
sinh trưởng trên các môi trường có S
35
và sinh sản khi có S
32
. Các virus
đánh dấu được sử dụng để theo dõi thành phần nào từ virus ban đầu đã đi
vào tế bào chủ và sau đó xuất hiện trong các phage thế hệ con.

DNA
Vỏ virus
Hạt
virus
Hình 5.2 Thí nghiệm Hershey-Chase. (a) Phage bám ở bề mặt ngoài màng tế
bào vi khuẩn; (b) bơm lõi DNA vào trong và để lại lớp vỏ protein bám ở ngoài;
(c) tái bản, phiên mã và tổng hợp hàng loạt protein của virus; (d) lắp ráp lõi +
vỏ để tạo ra các virion; (e) enzym lysozyme phá hủy vách tế bào vi khuẩn và
phóng thích các phage thế hệ con.
Kết quả cho thấy trong các phage thế hệ con chỉ có hầu như DNA
dạng ban đầu và không hề có protein dạng này (hình 5.2). Hơn nữa, lớp vỏ
protein dạng ban đầu bám ở bên ngoài màng tế bào vi khuẩn, không thực
hiện chức năng nào sau khi DNA đã được tiêm vào trong vi khuẩn. Như
vậy, vật chất di truyền của phage T2 là DNA, chứ không phải protein.
3.2. Thí nghiệm chứng minh vật chất di truyền của một số virus là RNA

150


Sau này, năm 1956 A.Gierer chứng minh rằng RNA được tinh sạch từ
virus đốm thuốc lá (tobacco mosaic virus = TMV) có khả năng lây nhiễm
khi không có bất kỳ protein nào thuộc virus. Kết quả phân tích các virus
thế hệ con cho thấy chúng hoàn toàn giống với các virus sinh ra từ sự cho
lây nhiễm bằng các virus còn nguyên vẹn. Bằng chứng RNA là thành phần
di truyền của TMV cũng đã được Fraenkel Conrat và B.Singer tái xác
nhận năm 1957 trong thí nghiệm "lắp ráp chéo" giữa lõi RNA và vỏ
protein của hao kiểu TMV là S và HR.
II. Thành phần hóa học và cấu trúc của DNA
Các nucleic acid (DNA, RNA) là những polymer sinh học, có trọng
lượng phân tử lớn, gồm nhiều đơn phân (monomer) là các nucleotide nối
với nhau tạo thành các chuỗi hay mạch polynucleotide - cấu trúc sơ cấp
của các phân tử nucleic acid.
1. Cấu trúc của các nucleotide

liên kết glycosid
Hình 5.3 Bốn loại base của DNA và cấu trúc một nucleotide (dAMP).
Mỗi nucleotide gồm ba thành phần: một nhóm phosphate, một gốc
đường pentose và một trong bốn loại base nitơ (các dẫn xuất của purine
hoặc pyrimidine). Về cấu trúc, nhóm phosphate nối với gốc đường tại
nguyên tử carbon số 5 (C
5'
) bằng một liên kết ester và base nitơ nối với
gốc đường tại nguyên tử carbon số 1 (C
1'
) bằng một liên kết β-glycosid
(Hình 5.3). Lưu ý: (1) Các base là thành phần đặc trưng qui định tên gọi
các nucleotide mang chúng. Trong DNA chứa bốn loại base cơ bản:

151


adenine (A), thymine (T), guanine (G) và cytosine (C); trong RNA cũng
chứa bốn loại nhưng chỉ khác là thymine được thay bởi uracil (U).
(2) Đường pentose của RNA là D-ribose và của DNA là 2-deoxy-D-
ribose (ký hiệu D-: chỉ dạng đường quay phải để phân biệt với dạng L-
quay trái không có trong thành phần của các nucleic acid tự nhiên). Hai
gốc đường này khác nhau ở C
2'
; trong ribose là nhóm -OH và trong
deoxyribose là -H. Sự có mặt của thành phần đường trong các nucleotide
phân biệt hai loại ribonucleotide và deoxyribonucleotide cấu tạo nên hai
loại nucleic acid tương ứng là RNA và DNA.
(3) Cấu trúc "base + đường" gọi là nucleoside; cách đọc và viết tắt
tương ứng với các base A, T, G và C trong DNA như sau: deoxyadenosine
(dA), deoxythymidine (dT), deoxyguanosine (dG) và deoxycytidine (dC);
cách gọi cho các nucleoside trong RNA chỉ cần bỏ tiền ngữ "deoxy" (d),
và thay cho dT là uridine (U). Và nếu đọc đầy đủ tên gọi của một
nucleotide chỉ cần thêm cái "đuôi" 5'-monophosphate, ví dụ ở hình 5.3.
(4) Tính phân cực trong cấu trúc một nucleotide còn thể hiện ở các
nhóm hydroxyl (-OH) ở hai vị trí C
5'
(hình thành liên kết ester với nhóm
phosphate để tạo ra nucleotide) và C
3'
(hình thành liên kết phosphodiester
với nucleotide khác để tạo chuỗi polynucleotide).
2. Cấu trúc chuỗi polynucleotide

Liên kết 3',5'-phosphodiester và
chiều 5'→3' của chuỗi polynucleotide
Đầu 3'

Đầu 5'
Hình 5.4 Cấu trúc chuỗi polynucleotide của DNA.

152


Các nucleotide trong DNA hoặc RNA nối với nhau bằng các mối liên
kết 3',5'-phosphodiester giữa gốc đường của nucleotide này với nhóm
phosphate của nucleotide kế tiếp, tạo thành chuỗi polynucleotide (nhờ sự
xúc tác của các enzyme tương ứng là DNA- hoặc RNA-polymerase). Vì
vậy các chuỗi này bao giờ cũng được kéo dài theo chiều 5'→3' (đầu 5'
mang nhóm phosphate tự do và đầu 3' chứa nhóm -OH tự do) và có bộ
khung gồm các gốc đường và phosphate luân phiên nhau, còn các base
nhờ vậy có trình tự được đọc theo một chiều xác định (hình 5.4).
Thông thường người ta biểu diễn trình tự base 5'→3' theo chiều từ trái
sang phải. Ví dụ dưới đây cho thấy các chuỗi RNA và DNA chỉ khác nhau
bởi base U và T và gốc đường trong các nucleotide của chúng.
chuỗi RNA 5'- AUAGACUACG-3'
chuỗi DNA 5'- dAdTdAdGdAdCdTdAdCdG-3'
3. Thành phần hóa học và cấu trúc của chuỗi xoắn kép DNA
3.1. Thành phần hóa học của DNA
Năm 1949, E.Chargaff áp dụng phương pháp sắc ký giấy vào phân tích
thành phần hóa học của DNA các loài khác nhau (Bảng 5.1; có thể xem
trong Watson et al 1987, tr.73) đã khám phá ra ba điểm quan trọng sau
đây: (1) Số lượng bốn loại base trong DNA là không bằng nhau; (2) Tỷ lệ
tương đối của các base là không ngẫu nhiên; và trong tất cả các mẫu DNA
nghiên cứu tồn tại mối tương quan về hàm lượng (%) giữa các base như
sau: A T và G
≈ ≈
C, nghĩa là tỷ số (A+G)/ T+C)

1; và (3) Mỗi loài có
một tỷ lệ (A+T)/(G+C) đặc thù.
Bảng 5.1 Thành phần base của DNA ở một số loài (từ nhiều tác giả)
Sinh vật A% T% G% C%
CT
GA
+
+

CG
TA
+
+

Phage lambda 21,3 22,9 28,6 27,2 1,00 0,79
Phage T7 26,0 26,0 24,0 24,0 1,00 1,08
Mycobacterium tuberculosis
15,1 14,6 34,9 35,4 1,00 0,42
Escherichia coli
24,7 23,6 26,0 25,7 1,03 0,93
Aspergillus niger (nấm mốc) 25,0 24,9 25,1 25,0 1,00 1,00
Saccharomyces cerevisiae
31,3 32,9 18,7 17,1 1,00 1,79
Triticum (lúa mỳ) 27,3 27,1 22,7 22,8 1,00 1,19
Zea mays (ngô) 26,8 27,2 22,8 23,2 0,98 1,17
Salmo salar (cá hồi) 29,7 29,1 20,8 20,4 1,02 1,43
Gallus domestica (gà nhà) 29,5 27,7 22,4 20,4 1,08 1,34
Homo sapiens (người) 30,9 29,4 19,9 19,8 1,01 1,52

153


3.2. Cấu trúc chuỗi xoắn kép
Vào năm 1951-52, việc nghiên cứu cấu trúc ba
chiều của DNA bằng phân tích nhiễu xạ tia X được bắt
đầu bởi Maurice Wilkins và Rosalind Franklin. Các
bức ảnh chụp được 1952 (hình 5.5) gợi ý rằng DNA
có cấu trúc xoắn gồm hai hoặc ba chuỗi. Lúc này ở
Anh còn có một số nghiên cứu khác nhằm phát triển
lý thuyết nhiễu xạ của Linus Pauling để tìm hiểu cấu
Hình 5.5 Ảnh chụp DNA tinh thể bằng tia X của Franklin.
ắn kép (double trúc DNA. Tuy nhiên, giải pháp đúng đắn nhất là chuỗi xo
helix) bổ sung do James Watson và Francis Crick đã đưa ra năm 1953. Mô
hình này (hình 5.6) phù hợp với các số liệu của Wilkins và Franklin cũng
như của Chargaff. Sự kiện này mở ra một bước ngoặt mới cho cho sự ra
đời và phát triển với tốc độ như vũ bão của di truyền học phân tử và sinh
học nói chung.

Hình 5.6 Các mô hình Bên trái là mô hình không gian lấp đ
m sau:
cấu trúc DNA. ầy.
Hình giữa là chuỗi xoắn duỗi thẳng cho thấy các cặp base ở giữa và hai bộ
khung đường-phosphate ở hai bên, với các thành phần được chỉ ra bằng các mũi
tên. Bên phải là sơ đồ chuỗi xoắn kép với hai sợi đối song song.
Mô hình Watson-Crick hay DNA dạng B có các đặc điể
Bộ khung đường-phosphate
Liên kêt
hydro

154


(1) DNA gồm hai chuỗi đối song song (antiparallel) cùng uốn quanh
m t trục trung tâm theo chiều xoắn phải, với đường kính 20Aộ


bổ sung về trình tự các
o
(1angstrom
= 10
-10
m), gồm nhiều vòng xoắn lặp lại một cách đều đặn và chiều cao
mỗi vòng xoắn là 34 A
o
, ứng với 10 cặp base (base pair, viết tắt là bp).
(2) Các bộ khung đường-phosphate phân bố ở mặt ngoài chuỗi xoắn
các base nằm ở bên trong; chúng xếp trên những mặt phẳng song song với
nhau và thẳng góc với trục phân tử, với khoảng cách trung bình 3,4 A
o
.
(3) Hai sợi đơn gắn bó với nhau bằng các mối liên kết hydro (vốn
lực hóa học yếu) được hình thành giữa các cặp base đối diện theo nguyên
tắc bổ sung "một purine - một pyrimidine". Cụ thể là, trong DNA chỉ tồn
tại hai kiểu kết cặp base đặc thù là A-T (với hai liên kết hydro) và G-C
(với ba liên kết hydro) (xem các hình 5.6 và 5.7).
(4) Tính chất bổ sung theo cặp base dẫn đến sự
base giữa hai sợi đơn của mỗi chuỗi xoắn kép. Vì vậy, trong DNA sợi kép
bao giờ cũng có: A = T và G = C (quy luật Chargaff); nghĩa là (A+G) =
(T+C) hay tỷ số
1=
+
+
CT
GA
, còn tỷ lệ
CG
TA
+
+
đặc thù cho từng loài.

Hình 5.7 Hai kiểu kết cặp base của DNA. Cặp G-C nối vớ nhau bằng ba liên
ằng, hai đặc điểm quan trọng nhất trong cấu trúc DNA là sự
sung giữa các cặp base. Hai đặc điểm này cho phép giải thích một cách cơ
i
kết hydro (biểu thị bằng các đường chấm), có cùng hình dạng chính xác như cặp
A-T nối với nhau bằng hai liên kết hydro. Các mũi tên chỉ vị trí liên kết giữa base
với gốc đường.
Cần lưu ý r
phân cực ngược chiều của hai sợi đơn (5'→3' và 3'→5') và nguyên tắc bổ

155


bản các cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử (tái bản, phiên mã và dịch mã).
4. Sơ lược về các đặc tính hóa lý của các nucleic acid
4.1. Các dạng của DNA
Mô hình Watson-Crick hay DNA dạng B là cấu trúc phổ biến. Tuy
còn phát hiện ra nhiều dạng xoắn phải khác
i nghiên
h, song cấu trúc
Hình 5.8 DNA-B và DNA-Z
h chuỗi xoắn
nhiên, sau này người ta
(A,C,D...); chúng có một số biến đổi so với DNA-B (xem bảng 5.2).
Bên cạnh các dạng DNA xoắn phải, từ
năm 1979 Alexander Rich và đồng sự còn
phát hiện thêm một dạng DNA xoắn trái duy
nhất cho đến nay, gọi là DNA-Z. Dạng DNA
này có các bộ khung zigzag uốn gập khúc
theo chiều trái, mỗi vòng xoắn dài 45,6A
o
chứa 12 cặp base (hình 5.8 và bảng 5.2).
DNA dạng Z chứa các sợi gồm các purine
và pyrimidine xếp xen kẻ nhau, thí dụ:
--GCGCGCGC--
--CGCGCGCG--
Mặc dù Rich khám phá DNA-Z kh
cứu về các hợp chất mô hìn
này dường như cũng có mặt trong các tế bào
sống ở một tỷ lệ nhỏ và vẫn còn chưa thật sự
hiểu rõ chức năng của nó.
Bảng 5.2 Đặc điểm của các dạng DNA - A, B, C và Z
Dạng Chiều xoắn Số bp/vòng xoắn Đường kín
A Phải 11,0 23A
o
B Phải 10,0 19A
o
C Phải 9,3 19A
o
Z Trái 12,0 18A
o
*Nguồn imball ernet). Về c t, xem trong Wats l 1987, tr.249.
trọng nhất của DNA là hai mạch đơn
mối liên kết hydro, vốn là lực liên
: J.K (từ int hi tiế on et a
4.2. Biế ính và h h của DNA
4.2.1. Khái niệm biến tính và hồi tính
n t ồi tín
Một trong những đặc điểm quan
bổ sung của nó gắn với nhau bằng các
kết hóa học yếu nên chúng có thể bị phân hủy dưới tác dụng của các
enzyme, năng lượng... làm cho hai mạch đơn của chuỗi xoắn kép tách rời
nhau. Nhờ đó DNA mới có thể tái bản, các gene mới có thể biểu hiện ra

156


cỏc sn phm ca mỡnh. Mt khỏc, DNA cú th phc hi tr li trng thỏi
ban u theo mt quỏ trỡnh ngc li, ngha l cú tớnh thun-nghch.
Bng thc nghim, ngi ta ó chng minh iu ú bng cỏch s dng
cỏc tỏc nhõn vt lý v húa hc khỏc nhau. Chng hn, khi un núng t t
cỏc phõn t DNA lờn ti nhit gn 100
o
C (thng l 90-95
o
C), thỡ cỏc
liờn kt hydro ca chỳng b phỏ hy hon ton v hai si b sung tỏch ra.
Hin tng ny c gi l bin tớnh (denaturation). Ngc li, khi lm
ngui t t dung dch t núng cha DNA b bin tớnh hũan ton, cỏc si
n thng cp ụi vi si b sung ca chỳng v lm phc hi chui xon
kộp nh lỳc u. Hin tng ú gi l hi tớnh (renaturation).
Cá c vù ng giàu A-T tá ch tr- ớ c, cá c vù ng giàu G-C tá ch sau
DNA siképgiàuGC
ch- a bịnóng chảy
Vù ng DNA giàu A-T
đ- ợ c tá ch thành
một búp dạ ng sợ i đơn

Hàm l- ợ ng G-C có thểđ- ợ c xá c định từ Tm của DNA
50
7060 80
Nhiệt độ
o
C
T
m
phụ thuộc vào hàm l- ợ ng G-C của DNA
% hyperchromicity
DNA E. coli
vớ i 50% G-C, có
T
m
bằng 69
o
C.

Hỡnh 5.9 DNA bin tớnh tng phn. Hỡnh 5.10 S ph thuc ca T
m
vo
m lng GC ca 3 DNA khỏc nhau

temperature), hay T
m
. T
m
l im
cobacterium phlei. iu ny
h
nhit va phi hoc khi cú mt cỏc tỏc nhõn gõy mt n nh nh
alkali hay formamide, thỡ cỏc phõn t DNA b bin tớnh tng phn. Khi ú
ti cỏc vựng giu cp AT s tỏch tng phn trc, trong khi cỏc vựng giu
cp GC vn gi nguyờn c tớnh xon kộp. iu ny cú th lý gii l do
mi cp AT ch cú hai liờn kt hydro rừ rng l kộm bn hn so vi mi
cp GC cú ti ba mi liờn kt nh th.
Nhit m ti ú cỏc si DNA b bin tớnh hay tỏch nhau mt na
c gi l nhit núng chy (melting
gia ca pha phuyn tip (hỡnh 5.9) v nú tựy thuc vo hm lng G-C
ca DNA, ngha l c trng cho DNA mi loi. Vớ d, DNA ca E. coli
vi 50% G-C thỡ cú T
m
l 69
o
C (hỡnh 5.10).
Núi chung, hm lng GC ca mt DNA cú th bin thiờn t 22%
nm mc nhy Dictyostelium n 73% My
cú th gõy mt hiu qu mnh lờn cỏc c tớnh húa lý ca DNA, c bit l
lờn nhit núng chy, vn nú tng tuyn tớnh vi hm lng GC. Nhit
núng chy (T
m
) ca mt DNA l nhit m ti ú hai si b bin tớnh
hay tỏch nhau mt na. Ngoi ra, nng ion thp v cỏc dung mụi hu
c cng thỳc y s bin tớnh ca DNA.

157


4.2.2. Ứng dụng trong lai phân tử (hình 5.11)
Người ta lợi dụng khả năng nói trên của DNA để tạo ra các phân tử
n hợp các DNA biến tính từ DNA lai nhân tạo bằng cách làm lạnh từ từ hỗ
hai loài khác nhau. Kỹ thuật lai phân tử (molecular hybridization) này đã
được ứng dụng rộng rãi để xác định mức độ tương đồng DNA của các
nhóm phân loại khác nhau. Ví dụ, các thực nghiệm cho thấy có khoảng
25% tổng số DNA người và chuột có thể lai với nhau (Watson et al 1987).

Hình 5.11 Biến tính và hồi tính của DNA (trái)
và lai nucleic acid (phải).
Theo nghĩa rộng, lai phân tử hay lai nucleic acid
t
g tồn tại
oặ
được hiểu là sự tương
ác giữa các sợi nucleic acid bổ sung. Nó có thể xảy ra giữa hai sợi DNA

hay giữa các sợi DNA và RNA, và đó chính là cơ sở của nhiều kỹ thuật,
chẳng hạn như: lai một mẩu dò có đánh dấu đồng vị phóng xạ (radioactive
probe) để lọc ra DNA hay RNA bám vào mang lai là một trong những thí
nghiệm cho nhiều thông tin bổ ích nhất được tiến hành trong di truyền học
phân tử. Hai kiểu cơ bản của lai phân tử là phương pháp thấm Southern
(Southern blots) và phương pháp thấm Northern (Northern blots). Trong
đó, kiểu đầu là lai bằng một mẩu dò để lọc DNA, còn kiểu sau dùng để lọc
RNA. Mẩu dò (probe) là các công cụ sơ cấp được dùng để xác định các
trình tự bổ sung cần quan tâm; nó là một nucleic acid sợi đơn được đánh
dấu phóng xạ và được dùng để xác định một trình tự nucleic acid bổ sung
bám trên màng lọc nitrocellulose hay màng lai bằng nylon. Nói chung,
mẩu dò là một dòng (clone) được tạo ra bằng cách xen DNA vào một
vector. Thông thường hầu hết các vật dò này là các dòng thuộc plasmid.
III. Kích thước bộ gene và tính phức tạp về mặt tiến hóa
1. Sơ lược về bộ gene của các virus, prokaryote và eukaryote
Virus là nhóm "sinh vật" bé nhất chưa có cấu tạo tế bào, khôn
đơn độc mà ký sinh bắt buộc ở các tế bào sinh vật tiền nhân (prokaryote)
h c sinh vật nhân chuẩn (eukaryote); chỉ trong điều kiện đó chúng mới
có khả năng tái bản. Các virus ký sinh hoặc gây nhiễm vi khuẩn gọi là thể

158


thực khuẩn (bacteriophage) hay phage. Cấu trúc của các virus tương đối
đơn giản, gồm hai phần chính là lõi axit nucleic và vỏ protein (hình 5.12).
Một số virus ở thực vật hoặc các virus gây ung thư, AIDS, SARS ở người
và động vật có bộ gene là RNA. Số còn lại bao gồm nhiều virus ký sinh ở vi
khuẩn và động vật có bộ gene là DNA sợi kép hoặc sợi đơn, có mạch thẳng
hoặc mạch vòng (bảng 5.3).

Các enzyme
Vỏ (capsid)
RNA
Bao virus
Protein virus
Hình 5.12 Ảnh chụp phage T4 (trái) và sơ đồ cấu trúc của HIV (phải).

Hình 5.13 Ảnh chụp các tế bào E. coli (trái) và vật chất di truyền của nó
(phải), và bên dưới là ảnh hiển vi của plasmid pSC101.
ất. Vi khuẩn
điện tử
Nhóm prokaryote bao gồm các vi khuẩn (bacteria) và vi khuẩn cổ
(archae) là các sinh vật có cấu tạo tế bào đơn giản nh
Escherichia coli (hình 5.13) là đối tượng được sử dụng rộng rãi trong các
nghiên cứu di truyền phân tử. Bộ gene chính của nó là một phân tử DNA
sợi kép vòng có kích thước lớn (4.639.221 bp, với 4290 gene mã hóa
protein và 53 gene RNA) gọi là nhiễm sắc thể chính. Nó thường tập trung
ở một "vùng nhân" (nucleoid), không có màng nhân bao bọc, và ở trạng
thái siêu xoắn (supercoiled DNA) dưới sự kiểm soát của các enzyme

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Bản chất Hóa học và Tái bản của Vật chất Di truyền