Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Bước đầu khảo sát mối liên hệ giữa sự hiện diện Trichoderma và các yếu tố của đất


1
Phần I
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Rhizoctonia solani (R. solani) là một trong những loài nấm gây hại điển hình,
chúng có thể tồn tại lâu trong đất và gây thiệt hại khá nghiêm trọng đối với rất nhiều
loài cây trồng khác nhau, đặc biệt chúng thường xuyên tấn công vào giai đoạn cây con
và làm chết cây con hàng loạt khiến nhiều diện tích phải gieo trồng lại.
R. solani không những gây bệnh đốm vằn phổ biến ở lúa mà còn gây hại cho
nhiều cây trồng khác, từ các cây dài ngày như thông, cà phê, tiêu, sầu riêng đến các
cây ngắn ngày như các cây họ đậu, bắp, các cây họ cải, v.v.. kể cả trên cỏ dại như cỏ
ống, cỏ lá tre, cỏ gừng, cỏ lá rộng, cỏ chỉ.
Phòng trừ bệnh do R. solani gây ra bằng biện pháp sử dụng giống kháng là rất
khó bởi nấm này có phổ ký chủ quá rộng. Thêm vào đó sự biến động trong độc tính
gây bệnh giữa các dòng phân lập của nấm này đã làm phức tạp đáng kể sự sàng lọc
giống kháng. Mặt khác, việc thiếu kiến thức về cấu trúc di truyền của R. solani trong
các quần thể tự nhiên đã làm cản trở sự phát triển các biện pháp phòng trừ an toàn cho
môi truờng với tác nhân gây bệnh này.
Ngày nay với sự phát triển của công nghệ sinh học, nhiều kĩ thuật mới ra đời như
kĩ thuật PCR, RFLP, AFLP, Southern blot, sequence v.v.. giúp cho quá trình nghiên
cứu cấu trúc di truyền của quần thể nấm R. solani nhanh và chính xác hơn. Trên thế
giới, các kĩ thuật này đã được áp dụng thành công trong việc nghiên cứu về sự đa dạng
di truyền của nấm R. solani. Ở nước ta, những nghiên cứu như vậy còn rất ít.
Xuất phát từ tình hình trên, được sự phân công của Bộ môn Công Nghệ Sinh
Học, Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi đã thực hiện đề tài “Sử
dụng kỹ thuật RFLP khảo sát sự đa dạng di truyền của nấm Rhizoctonia solani
phân lập từ nhiều cây ký chủ khác nhau”.

1.2. Mục tiêu
Cung cấp các thông tin về sự đa dạng di truyền trong các quần thể nấm R. solani
làm dễ dàng cho việc phát triển các chiến lược phòng trừ bệnh do R. solani gây ra.

2

1.3. Yêu cầu của đề tài
- Phục hồi và nhân sinh khối các dòng nấm R. solani.
- Ly trích DNA của các dòng nấm R. solani.
- Thực hiện phản ứng PCR để khuếch đại vùng rDNA-ITS của nấm R. solani.
- Thực hiện phản ứng cắt đoạn rDNA-ITS đã được khuếch đại.
- Đánh giá sự đa dạng của các dòng nấm R. solani dựa trên phân tích RFLP của
vùng rDNA-ITS.

1.4. Giới hạn của đề tài
Chỉ tiến hành cắt giới hạn với 3 enzyme cắt giới hạn và 9 dòng nấm đại diện.

3
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu về nấm Rhizoctonia solani
Nấm Rhizoctonia là một nhóm nấm lớn, đa dạng và phức tạp, phân bố khá rộng
và được chia thành nhiều nhóm nấm khác nhau. Giai đoạn hữu tính liên quan đến 3
giống: Thanatephorus (giai đoạn vô tính là Rhizoctonia solani Kuhn), Ceratobasidium
(giai đoạn vô tính là loài Rhizoctonia hai nhân), và Waitea (giai đoạn vô tính là loài R.
zeae Voorhees, R. oryzae Ryker và Gooch và những loài khác) (Carling và Sumner,
1992).
Rhizoctonia solani thuộc bộ nấm trơ Mycelia sterilia, lớp nấm bất toàn Fungi
imperfecti. Giai đoạn sinh sản hữu tính được gọi là Thanatephorus cucumeris (Frank)
Donk, thuộc lớp nấm đảm Basidiomycetes, là nấm kí sinh không chuyên tính, có phổ
kí chủ rộng.
2.1.1. Đặc điểm hình thái
Ở giai đoạn vô tính, nấm phát triển ở dạng sợi, tạo hạch. Sợi nấm khi còn non
không màu, khi già chuyển sang màu nâu do sự tích lũy sắc tố nâu. Sợi nấm đa bào, có
đường kính từ 8 - 13µm, phân nhánh tương đối thẳng góc, chỗ phân nhánh hơi thắt lại,
và hình thành vách ngăn gần vị trí phân nhánh (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998).
R. solani có 3 loại sợi nấm: sợi nấm bò (runner hyphae), sợi nấm phân nhánh (lobate
hyphae), và các tế bào dạng chuỗi (moniloid cells) (dẫn theo Phan Minh Sang, 2003).
Lúc già, các tế bào tách ra và biến thành hạch. Đặc điểm của hạch rất thay đổi.
Hạch nấm khi còn non có màu trắng nhưng khi về già có thể có màu nâu, nâu đen, nâu
xám, trên vỏ có lông. Hạch nấm có hình dạng phức tạp, ít khi hình cầu, đáy phẳng, bề
mặt hạch không trơn mà lồi lõm (Đường Hồng Dật, 1976). Đường kính hạch nấm từ 1-
6 mm. Từng hạch nấm có thể liên kết lại với nhau tạo thành hạch nấm to (Ou, 1983).
Hạch nấm khi còn non có thể chìm dưới nước nhưng khi già nổi lên do tế bào phía
ngoài hạch trở nên rỗng (dẫn theo Phạm Minh Sang, 2003).
Bào tử hậu ít gặp, chỉ phát sinh khi có ẩm độ rất cao. Sinh sản hữu tính tạo đảm
đơn bào, không màu, hình bầu dục, có từ 2 - 4 bào tử đảm, hình trứng hoặc hình bầu
dục dẹt. Ở nước ta chưa thấy dạng sinh sản hữu tính (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề,

4
1998). Bào tử đảm không có khả năng tồn tại lâu nhưng có vai trò lớn trong sự biến
đổi di truyền của nấm (dẫn theo Hồ Viết Thế, 2005).
2.1.2. Đặc điểm sinh lý
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), nấm sinh trưởng thích hợp ở nhiệt
độ 28 – 32
o
C, ở nhiệt độ dưới 10
o
C và cao hơn 38
o
C nấm ngừng sinh trưởng. Hạch
nấm hình thành nhiều ở nhiệt độ 30 – 32
o
C. Khi nhiệt độ quá thấp (12
o
C) và quá cao
(40
o
C), nấm không hình thành hạch. Nấm có thể phát triển được trong phạm vi pH
rộng từ 3,4 - 9,2, thích hợp nhất ở độ pH 6 - 7.
Hạch nấm hình thành nhiều nhất ở ngoài ánh sáng và khi nhiệt độ môi trường
giảm đột ngột. Các hạch nấm này nảy mầm ở nhiệt độ 16 – 30
o
C, nhiệt độ tối ưu 28 –
30
o
C. Ẩm độ tương đối 95 - 96% thích hợp cho hạch nấm nảy nầm (Ou, 1983). Hạch
nấm có kích thước càng lớn, số lượng hạch càng nhiều thì độc tính càng cao. Hạch
nấm có thể sống được 4 - 5 tháng trong đất khô, 7 tháng trong điều kiện ngập nước
(Đường Hồng Dật, 1976).
R. solani có thể được lưu trữ ở nhiệt độ phòng (20 - 30
0
C) từ 6 - 12 tháng trong
ống nghiệm chứa môi trường PDA (potato dextrose agar), PDYA (potato dextrose
yeast extract agar) hoặc các vật liệu cây trồng tự nhiên. Nấm có thể tồn trữ trên môi
trường hạt đậu khô đến 9 năm mà không làm mất tính độc. Tính độc của chúng bị mất
trong vòng 2 - 3 tháng khi tồn trữ ở nhiệt độ từ 0 - 7
0
C (Carling và Sumner, 1992).
2.1.3. Đặc điểm nuôi cấy
Nấm R. solani không đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng chuyên biệt, nó có thể phát
triển tốt trên nhiều loại môi trường khác nhau. Hạch nấm thường hình thành sau 3-4
ngày nuôi cấy. Hạch nấm hình thành nhiều hay ít, có hình thành hay không phụ thuộc
vào môi trường nuôi cấy, điều kiện ngoại cảnh cũng như phụ thuộc vào các nhóm nấm
khác nhau. Hạch nấm thường mọc rải rác khắp đĩa, có loài mọc rời, cũng có loài mọc
thành từng mảng liên kết với nhau. Tuy nhiên cũng có loài không hình thành hạch
(Nguyễn Minh Nguyệt, 2003). Hạch nấm mọc trên môi trường nuôi cấy có kích thước
lớn hơn so với hạch nấm mọc trên cây kí chủ tự nhiên (Ou, 1983).
2.2. Điều kiện phát sinh bệnh
R. solani xâm nhập ký chủ và gây bệnh mạnh nhất trong điều kiện nhiệt độ tương
đối cao (25 - 30
0
C), ẩm độ 90% đến bão hòa, mưa liên tục. Kỹ thuật canh tác: mật độ
cây, chăm sóc, phân bón, thủy lợi,…đều liên quan đến việc phát sinh bệnh.

5
Nấm xâm nhập vào mô cây qua khí khổng hoặc có thể xuyên trực tiếp qua cutin
(Ou, 1983). Nấm có khả năng gây bệnh trong phạm vi nhiệt độ 23 - 31
0
C, nhiệt độ tối
thích là 31
0
C, ẩm độ tương đối 70 - 90% (dẫn theo Nguyễn Việt Long, 2001).

Hình 2.1 Chu kỳ gây bệnh của nấm Rhizoctonia solani
(Nguồn: Agrios, 1997)

2.3. Phạm vi ký chủ của nấm R. solani
Nấm R. solani phổ biến ở nhiều nơi và có thể gây bệnh cho trên 180 loại cây
thuộc 60 họ thực vật khác nhau (Đường Hồng Dật, 1976). Quốc gia nào cũng có bệnh
do nấm này gây ra. Ngoài cây lúa, nấm còn gây bệnh trên lúa miến, bắp, mía, đậu
nành, đậu xanh. Nấm còn gây bệnh lở cổ rễ trên cà phê, trà, héo rũ dưa chuột và bầu
bí, gây lở cổ rễ hại bông, héo vàng trên khoai tây (dẫn theo Nguyễn Việt Long, 2001).
Haque (1975) đã phát hiện ra đậu phộng (Arachis hypoaea), ớt (Capcicum
annum), cà rốt (Daucus carota), đậu nành (Glycine max), bông vải (Gossypium sp.),
đại mạch (Hordeum vulgar), xà lách (Lactuca savita), lúa (Oryzae sativa), bắp (Zea
mays), cà chua (Lycopersicum esculentum) đều nhiễm R. solani (dẫn theo Hồ Viết
Thế, 2005).

6
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), nấm R. solani là loại nấm bán ký
sinh, có tính chuyên hóa rộng, phạm vi ký chủ bao gồm trên 180 loài cây trồng khác
nhau.
Ở Việt Nam, đậu nành, bắp, lúa miến (Shorgum vulgare), mía, và 27 loài cỏ dại
khác ở đồng bằng sông Cửu Long đều là ký chủ của nấm R. solani. Trong khi đó ở
Mỹ, có khoảng 550 loài ký chủ của nấm R. solani đã được ghi nhận (dẫn theo Nguyễn
Việt Long, 2001).

2.4. Sự phân nhóm của nấm R. solani
R. solani Kuhn là loài nấm phức tạp, không đồng nhất. Nhiều nghiên cứu cho thấy
có sự khác biệt giữa các dòng phân lập của nấm này về mặt hình thái học, sinh lý học
và khả năng gây bệnh cho các loại cây trồng. Có hai kiểu phân loại R. solani:
(i) Phân loại dựa trên sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng, sự hình thành hạch nấm
và đặc điểm phát triển khuẩn lạc. Theo cách phân loại này, Watanabe và Matsuda
(1966) đã xếp các dòng phân lập của nấm R.solani thành 6 nhóm: 1A, 1B, II, IIIA,
IIIB,và IIIC (dẫn theo Phạm Minh Sang, 2003).
(ii) Phân loại dựa trên sự tiếp hợp (Anastomosis) của sợi nấm. Chúng được sắp
xếp theo các nhóm AG (Anastomosis Group) khác nhau trên cơ sở phản ứng tiếp hợp
của chúng. Xác định nhóm liên hợp AG của các dòng phân lập giúp cho việc nhận biết
và phân nhóm các dòng nấm R. solani nấm được thực hiện dễ dàng (Carling và ctv,
1992).
Dựa vào sự liên hợp của sợi nấm, R. solani (T. cucumeris) được phân chia làm 11
nhóm tiếp hợp từ AG-1 đến AG-11 và AG-BI (Carling và Sumner, 1992).
 AG-1: nhóm này phân bố khắp thế giới, dựa trên hình thái nuôi cấy và sự
gây bệnh, những dòng phân lập AG-1 đã được phân thành 3 tiểu nhóm:
- AG-1-IA: còn được gọi là kiểu 2 hay kiểu “sasakii”, gây bệnh cho các
bộ phận cây trên mặt đất như bệnh đốm vằn trên lúa, gây cháy lá ở nhiều ký chủ, và
bệnh đốm nâu trên cỏ thảm (turfgrass).
- AG-1-IB: còn được gọi là kiểu 1 hay kiểu “hạch nấm nhỏ”, cũng gây
bệnh cho các bộ phận trên mặt đất như bệnh tàn rụi lá và bệnh cháy lá ở nhiều cây
trồng.

7
- AG-1-IC: có ở trong đất, gây chết cây con (damping-off) trên nhiều ký
chủ.
Không thể phân biệt một cách rõ ràng giữa ba tiểu nhóm này bằng phản ứng tiếp hợp.
 AG-2: Dựa trên khả năng gây bệnh và nhu cầu dinh dưỡng, nhóm này
cũng được phân chia thành 3 tiểu nhóm.
- AG-2-1: còn được gọi là kiểu “vụ đông”, có ở trong đất, gây chết cây
con, thối rễ trên rất nhiều cây ký chủ và lở cổ rễ cho cây họ thập tự.
- AG-2-2 IIIB: còn gọi là kiểu “cây cói” (rush), gây bệnh cho rễ và các
bộ phận trên mặt đất, gây chết cây con trên nhiều cây ký chủ, bệnh đốm nâu trên cỏ và
bệnh khô vằn trên cây cói.
- AG-2-2 IV: còn gọi là kiểu “thối rễ”, gây bệnh cho rễ và các bộ phận
trên mặt đất, gây bệnh cháy lá và thối rễ ở củ cải đường (Beta vulgaris L.), gây bệnh
thối rễ ở nhiều cây trồng khác và bệnh đốm lớn trên cỏ thảm.
 AG-3: được tìm thấy ở những nơi trồng khoai tây, là một nhóm nấm
thuần nhất và không chia thành các nhóm nhỏ. Những dòng AG-3 mọc chậm hơn và
nói chung chịu đựng được nhiệt độ lạnh hơn những nhóm tiếp hợp khác của R. solani,
gây bệnh thối rễ và thân trên cây khoai tây (Solanum tuberosum L.)
 AG-4: còn được gọi là kiểu “praticola”, AG-4 có thể được phân chia
thành hai nhóm HG-I và HG-II, dựa trên sự khác nhau về tính tương đồng của DNA,
nhưng không dựa trên phản ứng liên hợp. AG-4 là nhóm nấm đất, làm thối rễ và chết
cây con ở nhiều loại cây trồng. Bệnh do AG-4 xảy ra trên toàn thế giới.
 AG-5: là một nhóm nấm đất thuần nhất, gây bệnh thối rễ và thân khoai
tây nhưng nói chung là ít độc hơn nhóm AG-3. Những dòng AG-5 đòi hỏi thiamine
trong môi trường dinh dưỡng. Bệnh do AG-5 xuất hiện ở châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ.
 AG-6: nhóm này không gây bệnh, AG-6 chỉ có ở Nhật Bản, và được chia
thành hai tiểu nhóm HG-I và GV. Hai tiểu nhóm này phân biệt với nhau dựa trên sự
khác nhau về tính tương đồng của DNA, nhưng không dễ dàng phân biệt bằng phản
ứng tiếp hợp.
 AG-7: là một nhóm nấm đất, gây thiệt hại không đáng kể cho một số loại
rau. Nhóm này cũng chỉ mới tìm thấy ở Nhật Bản.

8
 AG-8: là một tác nhân gây bệnh trong đất, gây bệnh đốm lá trên ngũ cốc
và cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh thối rễ khoai tây. AG-8 được tìm thấy ở nước
Úc, Tây Bắc nước Mỹ và nước Anh.
 AG-9: được tìm thấy ở Alaska và Oregon, khả năng gây bệnh yếu, có thể
tấn công vào khoai tây và rau xanh.
 AG-10: được tìm thấy ở Tây Bắc Thái Bình Dương, khả năng gây bệnh
chưa được biết rõ.
 AG-BI: còn được gọi là nhóm “bridging isolate”, được tìm thấy ở Nhật
Bản. Những dòng thuộc AG-BI có khả năng liên hợp ở một mức nào đó với những
dòng phân lập của AG-2, AG-3, AG-6, và AG-8. AG-BI là một nhóm nấm đất đòi hỏi
thiamine trong môi trường nuôi cấy, khả năng gây bệnh của nó chưa được biết rõ.
Theo Carling (1996); Carling và ctv (1999); Sneh và ctv (1991), R. solani là một
loài tập hợp, không đồng nhất, được chia thành 14 nhóm tiếp hợp (AGs) bao gồm từ
AG-1 tới AG-13 và AG-BI (bridging isolate). Trong 14 dòng AGs được công nhận, có
ít nhất 24 tiểu nhóm đã được mô tả (dẫn theo Priyatmojo và ctv, 2001).

2.5. Các phƣơng pháp phân tử thƣờng dùng để nghiên cứu sự đa dạng di truyền
của nấm R. solani
2.5.1. Phƣơng pháp PCR (Polymerase Chain Reaction)
Phương pháp PCR là phương pháp khuếch đại nhanh nhiều bản sao của các đoạn
DNA mà không cần phải qua tạo dòng. Phương pháp này được K. Mullis đưa ra năm
1985 và Saiki hoàn thiện năm 1988. Đây là phương pháp được thực hiện hoàn toàn
trong ống nghiệm và trong một thời gian ngắn có thể thu rất nhiều bản sao DNA.
2.5.1.1. Nguyên tắc của phƣơng pháp PCR
Phương pháp này được thực hiện trong ống nghiệm với sự hiện diện của
enzyme DNA-polymerase, theo nguyên tắc bán bảo tồn trong nhân bản DNA. Sự
khuếch đại được thực hiện nhờ các chu trình nhiệt lặp lại. Phản ứng xảy ra nhờ
enzyme DNA-polymerase. DNA sẽ tách thành hai mạch và từ 2 mạch DNA thành 4
mạch DNA, 4 mạch DNA thành 8 mạch DNA và cứ như thế nhân lên đến vô cùng.
2.5.1.2. Các thành phần cần thiết để thực hiện phản ứng PCR
Trong một phản ứng PCR cần những thành phần cơ bản như: DNA khuôn,
primer, DNA polymerase chịu nhiệt, dNTPs, dung dịch đệm, và MgCl
2
.

9
- DNA khuôn: chứa trình tự cần khuếch đại, có thể sợi đơn hoặc sợi kép.
- Primer: thường có độ dài từ 20 – 30 nucleotide, còn được gọi là nhân tố
khuếch đại (amplifer).
- DNA polymerase chịu nhiệt: được tách từ vi khuẩn chịu nhiệt Thermus
aquaticus, loài vi khuẩn này có thể phát triển ở điều kiện nhiệt độ từ 80 – 95
o
C. Chỉ
những enzyme chịu nhiệt mới hoạt động được trong điều kiện nhiệt độ cao của phản
ứng PCR.
- dNTPs: Gồm 4 loại nucleotide ATP, TTP, CTP, và GTP cần cho sự tổng
hợp chuỗi DNA mới.
- MgCl
2
: Trong phản ứng PCR, MgCl
2
có 3 mục đích: ion Mg
2+
tạo thành
phức với dNTP để gắn dNTP với enzyme; kích thích hoạt tính polymerase; tăng T
m
(melting temperature) của DNA và sự tương hỗ primer với khuôn. Nồng độ cuối cùng
trong phản ứng PCR thường 0,5 – 5 mM, mức tối ưu là 1 – 1,5 mM.
- Dung dịch đệm: Môi trường KCl đã và đang được áp dụng rộng rãi, là dung
dịch đệm rất hữu dụng cho phản ứng PCR. pH của dung dịch đệm cũng được xem xét
trong phản ứng PCR. Hầu hết các dung môi phản ứng được đệm trong môi trường 10 –
200 mM Tris-HCl ở pH = 8,3, nhiệt độ 20
o
C. Tuy nhiên, pH sẽ giảm khi nhiệt độ tăng.
Theo chu kỳ nhiệt độ của PCR, pH sẽ thay đổi từ 7,8 đến 6,8.
2.5.1.3. Tiến hành phản ứng PCR
Một phản ứng PCR thường được tiến hành qua 3 giai đoạn.
- Giai đoạn 1: nâng nhiệt độ lên cao, thường từ 94 – 95
o
C. Ở nhiệt độ này tất
cả các mạch xoắn kép của DNA được tách ra.
- Giai đoạn 2: nhiệt độ được hạ nhanh xuống khoảng từ 50 – 60
o
C, phụ thuộc
vào T
m
của primer. Ở nhiệt độ này hai primer sẽ bắt cặp với hai sợi DNA cùng theo
hướng 5’ – 3’.
- Giai đoạn 3: nhiệt độ của phản ứng được nâng lên 72
o
C. Ở nhiệt độ này
DNA polymerase sẽ hoạt động trong việc kéo dài các mạch DNA. Nguyên liệu dùng
trong giai đoạn này là 4 loại dNTP.
Cứ sau một chu kỳ gồm 3 giai đoạn như trên từ 1 DNA khuôn sẽ tạo được 2
DNA khuôn. Như vậy, sau 30 chu kỳ ta sẽ có khoảng 100 triệu DNA khuôn.

10
Ngoài 3 giai đoạn chính, người ta còn thực hiện một chu kỳ khởi động trước
khi thực hiện các giai đoạn trên và một chu kỳ kết thúc sau khi thực hiện các chu kỳ
lặp lại
2.5.1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến phản ứng PCR
DNA khuôn: có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả PCR.
Phản ứng PCR tối ưu với các đoạn khuôn hoàn toàn tinh sạch, khi các đoạn khuôn
không sạch còn lẫn protein, hiệu quả PCR giảm theo độ tinh sạch của DNA khuôn.
Enzyme DNA polymerase càng mạnh, phản ứng PCR càng triệt để. Tùy các
đặc tính của enzyme DNA polymerase, tùy thuộc nguồn gốc tách chiết enzyme, hiệu
quả các phản ứng PCR khác nhau.
Primer là yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả của phản ứng PCR.
Chọn primer cần tính toán bảo đảm Tm của primer xuôi và ngược không chênh lệch
nhau quá lớn.
Nồng độ các loại nucleotide khoảng 20 – 200 M mỗi loại, khi nồng độ
nucleotide quá thấp thì hiệu quả PCR giảm mạnh.
Nồng độ Mg
2+
cũng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả PCR, để có hiệu quả PCR
cao cần lưu ý bảo đảm các thành phần dịch đệm, nhiệt độ và các thành phần cần thiết
khi thực hiện phản ứng PCR.
2.5.1.5. Lợi ích của phản ứng PCR
Phương pháp PCR có ý nghĩa rất lớn đối với khoa học và thực tiễn. Đây thực
sự là một cuộc cách mạng lớn trong kĩ thuật di truyền.
- Thời gian thực hiện rất nhanh. Ta chỉ cần khoảng 3 giờ để khuếch đại một
trình tự DNA. Trong khi đó với phương pháp tạo dòng ta phải cần ít nhất 1 tuần.
- Đơn giản và ít tốn kém. Phương pháp này được thực hiện trong ống
epffendorf nhỏ. Trong khi đó phương pháp tạo dòng cần rất nhiều vật liệu đắt tiền như
màng, NTP mang dấu hiệu phóng xạ và đòi hỏi phải thành thạo trong thao tác.
- Độ tinh sạch của mẫu không cần cao. Phản ứng PCR có thể thực hiện được
với mẫu DNA thô. Trong khi đó phương pháp tái tổ hợp DNA cần đoạn gen và vectơ
tương đối tinh khiết.
Khó khăn nhất của phương pháp này là phải biết trình tự nucleotide của một
đoạn DNA cần được khuếch đại. Phương pháp này không thay thế phương pháp tái tổ
hợp DNA mà nó góp phần bổ sung cho phương pháp tái tổ hợp DNA.

11
Hiện nay phương pháp PCR được ứng dụng trong các lĩnh vực sau:
- Phân tích di truyền vệt máu khô.
- Chẩn đoán các bệnh lây truyền, di truyền.
- Dự báo sai hỏng về di truyền.
- Nghiên cứu DNA từ các mẫu khảo cổ (Nguyễn Đức Lượng, 2002)
2.5.2. Phƣơng pháp RFLP (Restriction Fragment Length Polymorphism)
2.5.2.1. Restriction endonuclease
Trong phân tích genome, restriction endonuclease là nhóm enzyme có nhiệm
vụ cực kỳ quan trọng. Đó là nhóm của DNase, ghi nhận các trình tự đặc biệt của
nucleotide, và cắt DNA tại tại vị trí rất đặc biệt. Người ta xem nó như là chìa khóa để
nghiên cứu kỹ thuật DNA tái tổ hợp (recombinant).
Các enzyme này được nghiên cứu lần đầu tiên vào những năm 1950. Nó bao
gồm một phần của tính chất giới hạn (restriction) viết tắt R, và một phần của tính chất
cải tiến (modification) viết tắt là M. Hệ thống R-M trong vi khuẩn giúp nó bảo vệ
chống lại sự xâm nhập của thực khuẩn thể, và những nhân tố di truyền lạ. Hệ thống R-
M của vi khuẩn có xu hướng tạo ra một thế cân bằng ở sinh vật tiền nhân (prokaryote)
như là một hệ thống miễn dịch.
Hệ thống R-M thường có hai hoạt động chính:
- Một là restriction endonuclease, viết tắt là R-Enase, rất chuyên tính tại
một vị trí nào đó, nó có nhiệm vụ phân hủy DNA ngoại sinh (exogenus DNA).
- Hai là modification methylase của DNA, còn được gọi là
methyltranferase, viết tắt là M-MTase, có sự chuyên tính về chuỗi mã rất đồng nhất.
M-MTase có nhiệm vụ cải tiến và bảo vệ DNA nội sinh (endogenus DNA) không bị
phân hủy bởi R-ENase.
2.5.2.2. Nguyên tắc của phƣơng pháp RFLP
Phương pháp RFLP – đa hình chiều dài các đoạn DNA cắt bởi các enzyme
giới hạn (restriction enzyme), là phương pháp tạo nên các đoạn cắt khác nhau phân
biệt được bằng điện di đồ, các đoạn cắt còn được gọi là các fingerprinting đặc trưng
cho từng phân tử DNA. Xử lý các mẫu DNA bằng cùng một enzyme cắt giới hạn, các
gen có cấu trúc khác nhau tạo nên số lượng đoạn cắt có chiều dài khác nhau, còn
những gen có cấu trúc hoàn toàn giống nhau tạo nên các đoạn cắt giống nhau.


12
2.5.2.3. Quy trình của phƣơng pháp RFLP
Quy trình phương pháp RFLP thông thường:
- Tách chiết và tinh sạch DNA.
- Cắt các mẫu DNA cần phân tích bởi cùng một enzyme cắt giới hạn.
- Điện di và thực hiện phản ứng lai Southern blot.
Tuy nhiên, DNA của genome là rất lớn, nên khi cắt bởi enzyme và điện di
trên gel ta không thể quan sát được trực tiếp mà phải thông qua kỹ thuật Southern blot
rất tốn kém và phức tạp. Do đó khi đã biết sự khác nhau trong trình tự của các loài lân
cận chỉ xảy ra ở một vùng nào đó trong genome thì RFLP dựa trên PCR có thể được sử
dụng để phân biệt các sản phẩm PCR.
Quy trình phương pháp RFLP dựa trên PCR (phương pháp RFLP-PCR):
- Tách chiết DNA tổng số.
- Thực hiện phản ứng PCR để khuếch đại trình tự đích.
- Xử lý các sản phẩm PCR bằng enzyme cắt giới hạn.
- Phân tích trên gel các sản phẩm PCR đã được cắt.
Ưu điểm của phương pháp RFLP-PCR so với phương pháp RFLP thông
thường:
- Cần lượng nguyên liệu DNA ít.
- Có thể đọc được kết quả trực tiếp bằng mắt thông qua điện di trên gel.
- Không cần phải sử dụng các đầu dò phức tạp và tốn kém.
- Khi đọc kết quả dùng ánh sáng huỳnh quang thay cho chất phóng xạ.
2.6. Cơ sở khoa học của việc sử dụng đoạn rDNA-ITS trong nghiên cứu sự đa
dạng di truyền của nấm R. solani
2.6.1. Giới thiệu về vùng rDNA
Những gen mã hóa rRNA được tìm thấy trong vùng rDNA. Sản phẩm của
những gen này (rRNA) kết hợp với những phân tử protein hình thành những ribosom
có chức năng tổng hợp protein. Do nhu cầu tổng hợp protein cao, có nhiều bản sao của
gen này trong các genome khác nhau (E. coli có 7 bản sao, và người có khoảng 200
bản sao trong tế bào đơn bội). Ở eukaryote, có hai tiểu đơn vị gồm 1 tiểu đơn vị nhỏ
(small subunit – SSU tổng hợp từ gen 18S) và 1 tiểu đơn vị lớn (large subunit – LSU
tổng hợp từ gen 28S, 5,8S và một gen 5S, nhưng thường chỉ có gen 28S được nhắc đến
như là gen tổng hợp LSU).

13
Ribosom DNA chứa vùng 18S, ITS1, 5,8S (một tiểu đơn vị ribosom nhỏ hơn
trở thành một phần của LSU), ITS2, 28S và vùng IGS (intergenic spacer). Vùng phiên
mã 18S kết thúc tiểu đơn vị nhỏ (SSU), trong khi 28S cộng với 5,8S và một gen 5S
thêm vào từ những phần khác của genome hình thành tiểu đơn vị lớn (LSU) của
ribosom RNA. Những vùng ITS được phiên mã (tổng hợp từ RNA), nhưng bị cắt trước
khi rRNA hoàn thiện được hình thành, mặc dù chúng có thể có một chức năng trong sự
hình thành ribosom (Alberts và ctv., 1994). Ở đầu kết thúc 5' của 18S và đầu kết thúc
3' của 28S, cũng có một vùng được biết đến là ETS (external transcribed spacer). Toàn
bộ vùng này bao gồm ETS-18S-ITS1-5,8S-ITS2-28S-ETS dài khoảng 13000 bp ở
người và lặp lại 200 lần trong mỗi genome đơn bội, và hình thành tiền rRNA 45S.
Giữa mỗi cassette của gen có một vùng gọi là IGS (intergenic spacer). Vùng này kém
bảo tồn nhất của rDNA. Thành phần vùng không gian không phiên mã của IGS là
quan trọng bởi vì nó chứa trình tự kết thúc phiên mã của những gen rRNA.

Hình 2.2. Sơ đồ của các vùng trên rDNA và các primer đƣợc sử dụng
để nghiên cứu rDNA của nấm (xem phụ lục)
(http://www.uoguelph.ca/~thsiang/)
Những gen rRNA ở sinh vật có nhân điển hình (còn được gọi là ribosomal
DNA hoặc rDNA) được tìm thấy như những phần đơn vị lặp lại được sắp xếp thành
cặp, nằm tại vùng chromosom. Vùng này được biết đến như vùng tổ chức nhân

14
(NORs). Mỗi đơn vị lặp lại chứa một vùng phiên mã (có những gen rRNAs như 18S,
5,8S, và 26S và những vùng phiên mã bên ngoài như ETS1và ETS2) và một vùng
không phiên mã (NTS). Trong vùng phiên mã, ITS được tìm thấy trên gen 5,8S rRNA
bao gồm ITS1 và ITS2.
2.6.2. Sử dụng vùng rDNA để nghiên cứu sự đa dạng di truyền
rDNA chứa những vùng bảo tồn (18S, 28S, 5,8S) cũng như những vùng ít bảo
tồn (ITS) và những vùng biến động hơn (IGS). Những vùng này có thể được sử dụng
để phân tích sự phát sinh loài và sự đa dạng di truyền của sinh vật. Trình tự của vùng
này cũng được sử dụng để tìm ra và xác định sự biến thiên số lượng của nhiều loài
hoặc nhóm nấm (Carbone và Kohn, 1993; Rehner và Uecker, 1994; Lloyd-MacGilp và
ctv., 1996; Hallenberg và ctv., 1996; Hirata và Takamatsu, 1996; Sreenivasaprasad và
ctv., 1996).
Vùng ITS1 và ITS2 được tìm thấy giữa gen của tiểu đơn vị ribosom nhỏ (18S)
và tiểu đơn vị ribosom lớn (28S) chỉ ra sự biến thiên trong cùng loài. Khuếch đại vùng
ITS này sau đó phân tích bằng các enzyme cắt giới hạn, được sử dụng để khám phá sự
khác nhau của các loại nấm (Bernier và ctv., 1994; Fabre và ctv., 1995; Arora và ctv.,
1996; Buscot và ctv., 1996; Gac và ctv., 1996; Redecker và ctv., 1997). Vùng ITS2
khám phá sau vùng ITS1, và vùng ITS2 có tính bảo tồn cao hơn ở một vài vùng tương
đồng của vùng 18S (Hershkovitz và ctv., 1999). Vùng IGS thậm chí cho thấy sự biến
động lớn hơn và IGS-RFLP (giống với ITS-RFLP) đã được sử dụng để nghiên cứu sự
đa đạng di truyền trong cùng loài.

Hình 2.3. Sơ đồ của vùng rDNA-ITS của nấm
(http://plantbio.berkeley.edu/~bruns/picts/results/its-map.GIF )

15
Gen rDNA 16S mã hóa một phân tử RNA hình thành tiểu đơn vị ribosom nhỏ
của vi khuẩn điển hình (thành phần protein của tế bào). Trình tự của gen này thích hợp
là một mô hình phổ biến để nghiên cứu sự tiến hóa và phân loại vi khuẩn. Gene rDNA
được tìm thấy ở hầu hết các dạng sống (ngoại trừ virus và prion). Các thành phần của
trình tự rDNA từ những sinh vật có quan hệ với nhau được đánh dấu giống nhau. Điều
này có nghĩa , trình tự của những sinh vật thân cận đã được sắp xếp chính xác, làm cho
những khác biệt dễ dàng để đánh giá. Điều đó cũng có nghĩa là chỉ một vài nhóm
primer PCR là cần thiết để khuếch đại gene rDNA từ bất cứ loài vi khuẩn nào. Trình tự
của rDNA 16S đã được xác định cho nhiều loài. Sự thật, không có bất kỳ gen nào khác
đặc trưng cho nhiều loài như vậy (Laboratory Surveillance for Agents of Emerging
Infectious Disease).
Chiều dài và trình tự của những vùng ITS của rDNA được cho rằng là vùng
tiến hóa nhanh nhất và vì vậy có thể rất biến đổi. Những universal primer được thiết kế
từ những vùng bảo tồn nằm hai đầu vùng ITS và vùng ITS có kích thước nhỏ (600 –
700 bp) dễ dàng được khuếch đại bởi vì số bản sao lớn (lên tới 30000 bản trong mỗi tế
bào (Dubouzet and Shinoda,1999) của vùng lặp lại trên rDNA. Điều này làm cho vùng
ITS trở thành một đề tài được quan tâm cho việc nghiên cứu về sự tiến hóa và phát
sinh loài (Baldwin và ctv., 1995; Hershkovitz và ctv., 1996, 1999) cũng như các
nghiên cứu về địa lý sinh vật (biogeographic) (Baldwin, 1993; Suh và ctv., 1993;
Hsiao và ctv., 1994; Dubouzet và Shinoda, 1999). Dữ liệu về trình tự của vùng ITS
cũng được nghiên cứu sớm hơn để đánh giá sự đa dạng di truyền ở lúa mạch (Petersen
và Seberg, 1996) (dẫn theo Sharma và ctv., không rõ năm).

2.7. Một số nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc về sự đa dạng của nấm R .solani
2.7.1. Nghiên cứu ngoài nƣớc
Gần đây, những kỹ thuật phân tử như phân tích tính tương đồng của trình tự
dựa trên DNA (DNA base sequence homology), đa hình chiều dài đoạn giới hạn
(RFLP) của rDNA trong vùng ITS (internal transcribed spacer), và RAPD-PCR
(random amplified polymorphic DNA polymerase chain reaction) đã và đang được sử
dụng để phân biệt những dòng R. solani với nhau và giữa các AG. Liu and Sinclair
(1993) đã phân biệt AG-1 thành 6 nhóm cùng loài (ISG 1A, 1B, 1C, 1D, 1E, và 1F)
dựa trên kỹ thuật RFLP của rDNA-ITS và phân tích isozyme.

16
Trong nghiên cứu về sự đa dạng di truyền của R. solani AG-2, Liu và Sinclair
(1992), dựa trên phân tích sự đa hình isozyme và cắt giới hạn DNA, đã phân chia 70
dòng phân lập thuộc AG-2 thành 5 nhóm trong loài (ISGs) là ISG 2A, ISG 2B, ISG
2C, ISG 2D, và ISG 2E. Bản đồ giới hạn DNA đã chỉ ra rằng những nhóm này có cùng
kiểu gen của rDNA tiểu ti thể và mức độ giống nhau cao trong rDNA nhân của vùng
ITS, bao gồm gen RNA ribosom 5,8S. Phản ứng chuỗi polymerase (PCR) đã khuếch
đại những đoạn DNA khác nhau trong 5 nhóm. Trong vùng ITS, nhóm 2A và 2E có
cùng chiều dài (690 bp) nhưng khác nhau tại một vị trí cắt của Eco RI, nhóm 2B, 2C,
và 2D có cùng chiều dài (740 bp) nhưng khác nhau ít nhất tại một vị trí cắt giới hạn
của Msp I hoặc Taq I.
Matsumoto và ctv. (1996), dựa trên phân tích RFLP của gen rDNA 28S đã chỉ
ra sự khác nhau trong đoạn rDNA giữa 3 nhóm tiếp hợp AG-1, AG-2, và AG-4 khi cắt
với các enzyme giới hạn Bam HI, Hae III, Hha I và Hpa II.
Kunigana và ctv. (1997), dựa trên phân tích trình tự vùng rDNA bao gồm
vùng ITS và trình tự mã hóa rDNA 5,8S, đã chỉ ra rằng tính tương đồng trong trình tự
của vùng ITS là trên 96% đối với những dòng ở cùng tiểu nhóm, 66 – 100% đối với
những dòng khác tiểu nhóm nhưng cùng một nhóm tiếp hợp, và từ 55 – 96% đối với
những dòng khác nhóm tiếp hợp.
Schneider và ctv. (1997), khi sử dụng 25 enzyme (Alu I, BamH I, Bgl II, Cla I,
Dde I, Dra I, EcoR I, EcoR V, Hae III, Hinc II, Hinf I, Hha I, Kpn I, Mbo I, Msp I, Pst
I, Pvu II, Rsa I, Sau3A I, Sst I, Sst II, Sty I, Taq I, Xba I, và Xho I) cắt đoạn rDNA-ITS
được khuếch đại bằng 2 primer ITS1 và ITS4, đã xác định được 13 enzyme (Msp I,
Hae III, Hinc II, EcoR I, Cla I, Hinf I, Sau3A I, Dde I, Alu I, Hha I, Dra I, Sty I, và
Taq I) có thể cho thấy sự đa hình các đoạn cắt giới hạn giữa các nhóm tiếp hợp của
nấm R. solani.
Priyatmojo và ctv. (2001), đã phân tích RFLP trên vùng rDNA-ITS, RAPD
(random amplified polymorphism DNA), và về các acid béo của những dòng R. solani
gây bệnh đốm hoại lá (Necrotic Leaf Spot) trên cà phê. Kết quả cho thấy đây là một
quần thể AG-1 khác với các tiểu nhóm AG-1-IA, 1-IB, và 1-IC và các tác giả đã đề
xuất rằng những dòng R. solani phân lập từ cà phê đại diện một tiểu nhóm mới trong
AG-1là AG-1-ID.

17
Meinhardt và ctv. (2002), bằng phương pháp RFLP trên đoạn rDNA-ITS
được khuếch đại bằng cặp primer ITS 1 và ITS 4 cho biết, khi cắt bằng 4 enzyme Taq
I, Hha II, Hae III và Mse I cho ra những băng có kích thước khác nhau. Mbo I là
enzyme duy nhất phân cắt sản phẩm khuếch đại thành 5 băng giống nhau ở tất cả các
dòng được kiểm tra.
Fenille và ctv. (2003), dựa trên việc giải trình tự rDNA vùng ITS, đã chỉ ra
mức độ giống nhau của trình tự nucleotide giữa những dòng AG-1 IA, nguyên nhân
gây bệnh cháy lá (foliar bright) trên đậu nành, là 95,1 – 100% trong vùng ITS1 và 98,5
– 100% trong vùng ITS2. Mức độ giống nhau của trình tự nucleotide giữa các tiểu
nhóm IA, IB, và IC từ 84,3 – 89% trong vùng ITS1 và từ 93,3 – 95,6% trong vùng
ITS2. Mức độ giống nhau của trình tự nucleotide giữa những dòng AG-4 (gây bệnh
thối trụ hạ diệp ở đậu nành) và tiểu nhóm chuẩn AG-4 HGI là 99,1% trong vùng ITS1
và 99,3 – 100% trong vùng ITS2. Mức độ giống nhau trong trình tự của vùng ITS-5,8S
rDNA đã chứng minh rằng những dòng R. solani ở Brazil gây bệnh cháy lá đậu nành
là AG-1 IA và những dòng gây triệu chứng thối trụ hạ diệp là AG-4 HGI.
2.7.2. Nghiên cứu trong nƣớc
Nguyễn Thị Nghiêm (1997) bằng phương pháp đánh dấu phân tử với kỹ thuật
PCR sử dụng 2 primer chuyên biệt ERIC 1 và ERIC 2, đã chia 137 dòng nấm R. solani
Kuhn thu thập ở đồng bằng sông Cửu Long thành 33 nhóm nấm mang tính đa dạng di
truyền khác nhau (dẫn theo Nguyễn Việt Long , 2001).
Nguyễn Thị Huệ (2003), dựa trên kỹ thuật RFLP của vùng rDNA-ITS cho
biết hai dòng nấm R. solani phân lập từ cây húng quế và cây bông cho các đoạn cắt
giới hạn có kích thước khác nhau khi được cắt bởi enzyme Mbo I.
Hồ Viết Thế (2005), khi cắt bằng enzyme Hae III trên vùng rDNA-ITS của 4
dòng R. solani (KT-63-01, BN-61-01, BC 63-01 và ĐX-61-01) đều cho hai đoạn cắt
giới hạn có kiểu gen giống nhau. Do đó, không phân tích được tính đa hình về mặt di
truyền của 4 dòng này khi cắt bằng enzyme Hae III.