BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1950 - 1953)


129
6- Cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện được đẩy mạnh như
thế nào sau chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947?
Chương III
BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN
TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1950 - 1953)
Chương III nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về sự
phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp khi
bước vào thu đông 1950:
- Mở đầu là Chiến d
ịch tiến công Biên giới thu - đông 1950
giành thắng lợi. Sau thắng lợi Biên giới, quân ta mở liên tiếp
nhiều chiến dịch tiến công và phản công trên cả ba chiến trường
(đồng bằng, trung du, miền núi), giành thắng lợi trong các chiến
dịch mở ra ở rừng núi (Hoà Bình đông - xuân 1951 - 1952, Tây
Bắc thu - đông 1952, Thượng Lào xuân - hè 1953).
Đế quốc Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh
xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp thực hiện Kế hoạch Đờ
Lát đờ Tátxinhi (De Lattre dễ Tassigny) với âm mưu giành lại
quyền chủ động chiến lược đã mất sau thất bái ở chiến dịch
Biên giới.
- Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ II (2-1951). Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt
động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam, chủ
trương củng cố hậu phương kháng chiến về mọi mặt, đẩy mạnh
cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
I- Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950
1- Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng

130
Từ cuối năm 1949 - đầu năm 1950, tình hình quốc tế có
nhiều thay đổi ảnh hưởng thuận lợi đối với cách mạng Việt
Nam. Ở châu Âu, các nước dân chủ nhân dân Đông Âu đã hoàn
thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân và chuyển sang cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Liên Xô đã hoàn thành kế hoạch 5 năm
lần thứ 4 với những thành tựu to lớn về kinh tế và quân sự, trở
thành chỗ dựa v
ững chắc cho phong trào cách mạng thế giới. Ở
châu Á, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà
Nhân dân Trung Hoa ra đời (1-10-1949) làm thay đổi so sánh
lực lượng có lợi cho cách mạng, đồng thời tạo điều kiện khách
quan thuận lợi cho nước ta tiếp xúc trực tiếp với phe xã hội chủ
nghĩa. Với sự ra đời nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, hệ
thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng và nối liền từ
Âu sang Á,
tạo chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vì độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa thuộc châu Á và châu Phi tiếp tục
phát triển mạnh mẽ.
Ở trong nước, từ năm 1948 đến mùa thu năm 1950, cuộc
kháng chiến của nhân dân ta liên tiếp giành được thắng lợi lớn
về mọi mặt. Phong trào chiến tranh du kích ngày càng lan rộng.
Các đội vũ
trang tuyên truyền, đại đội độc lập tiến sâu vào vùng
Pháp chiếm đóng, cùng cán bộ và nhân dân địa phương xây
dựng cơ sở kháng chiến. Lực lượng vũ trang ba thứ quân đã
được xây dựng hoàn chỉnh, gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa
phương và dân quân du kích. Trong các vùng tạm bị địch chiếm,
phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển mạnh mẽ, nhất là ở
các thành phố, thị xã.
Việc các nước xã hội chủ nghĩa công nhận Chính phủ Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà đầu năm 1950 cùng với những bước
phát triển mới của tình hình trong nước và quốc tế đã làm cho
cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vượt ra khỏi phạm vi
một nước và trở thành vấn đề quốc tế Thực dân Pháp và phe đế
quốc lo sợ ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam lan tràn xuống
khu vực phía nam châu Á.

131
Trong khi đó, thực dân Pháp ngày càng hao hụt về quân số
do phải phân tán lực lượng để đối phó với cuộc chiến tranh du
kích của ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Trong tình thế khó khăn và bị động, Pháp đã cử Đại tướng
Rơve (Revers), Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp cùng 6
nghị sĩ Quốc hội Pháp sang Đông Dương để nghiên cứu tình
hình. Sau một tháng (16-5 - 17-6-1949) nghiên cứu thực địa và
trao đổi với các tướng tá ở Đông Dương, trở về nước, Rơve đã
vạch ra một kế hoạch, gọi là Kế hoạch Rơve. Với chiến thuật
"khoá then cửa", Rơve chủ trương khoá chặt biên giới Việt -
Trung bằng một tuyến phòng thủ vững chắc trên Đường số 4 để
cô lập cách mạng Việt Nam. Đồng thời, chúng tung quân đánh
rộng ra vùng trung du, thiết lập hành lang Đông - Tây hòng ngăn
chặ
n con đường liên lạc giữa Việt Bắc với đồng bằng Liên khu
III và Liên khu IV. Tại Khu III, Pháp mở rộng phạm vi chiếm
đóng ra các tỉnh phía nam sông Hồng, kéo dài phòng tuyến đến
tận Hoà Bình. Ở Khu IV, Pháp mở rộng phạm vi hành lang Bình
- Trị - Thiên để cắt đứt liên lạc giữa Khu IV và Khu V.
Bên cạnh những thuận lợi mới, cuộc kháng chiến của nhân
dân ta cũng gặp không ít khó khăn. Trên chiến trường chính,
quân đội ta vẫn chưa nắm được quyền chủ động về chiến lược,
chưa giành được ưu thế về quân sự. Căn cứ địa kháng chiến Việt
Bắc vẫn còn nằm trong tình trạng bị địch bao vây, phong toả và
có nguy cơ bị chúng tấn công lần thứ hai; vùng trung du và đồng
bằng, nơi đông dân nhiều của, vẫn còn bị địch chiếm đóng.
Chính trong tình hình đó, để tạo những chuyển biến mạnh mẽ
cho kháng chiến, Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 của Đảng (từ
ngày 21-1 đến 3-2-1950) ra nghị quyết nêu rõ: Cần phải nhân đà
tiến bộ của bản thân ta, dựa vào sự giúp đỡ của các lực lượng
bạn, lợi dụng sự lúng túng của thực dân Pháp, gấp rút hoàn
thành nhiệm vụ chuẩn bị, giành thắng lợi lớn, làm thay đổi cục
diện chiến trường có lợi cho ta. Cùng thời gian này, Trung ương
Đả
ng chỉ thị cho Liên khu uỷ Việt Bắc: "Chuẩn bị chiến trường

132
Đông Bắc cho thật đầy đủ để khi có điều kiện sẽ mở một chiến
dịch lớn, quét địch ra khỏi Đường số 4, đánh bại trong vùng
Đông Bắc"
1
. Đến tháng 5-1950, Trung ương chỉ thị cho Liên
khu uỷ Việt Bắc "Về việc vận tải". Chỉ thị nhấn mạnh: "Hiện
nay việc giao thông liên lạc giữa nước ta với nước ngoài, đặc
biệt với Trung Quốc là rất cần thiết. Trung ương quyết định sửa
gấp những con đường lớn trong Liên khu Việt Bắc từ biên giới
vào"
2
.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, chỉ trong hơn 3 tháng,
bằng những nỗ lực to lớn của các đội thanh niên xung phong
công tác chiến sĩ công binh và nhân dân địa phương, hàng trăm
km đường đã được mở từ biên giới vào nội địa ốc chuẩn bị cho
trận đánh lớn của quân đội ta.
Tháng 6-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định
mở chiến dịch Biên giớ
i ở hướng Cao Bằng - Lạng Sơn, nhằm
thực hiện ba mục đích:
- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch.
- Giải phóng một phần biên giới, mở đường liên lạc với quốc
tế.
- Mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.
2- Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950
Chiến trường Biên giới có tầm quan trọng về chiến lược. Do
vậy thực dân Pháp bố trí ở đây một lực lượng quân sự khá
mạnh. Tổng số binh lực của địch ở Liên khu Biên giới Đông
Bắc có 11 tiểu đoàn, 9 đại đội lẻ, phần lớn là lính Âu - Phi tinh
nhuệ (gồm 10 tiểu đoàn). Ngoài ra, địch còn có lực lượng binh
chủng gồm 27 khẩu pháo, 4 đại đội cơ giới, 4 đại đội công binh
và 8 máy bay. Với binh lực lớn và tinh nhuệ, hể thống phong


1. Dẫn theo: Lịch sử Việt Nam (9-1945 - 1950)... Sđd, tr. 405.
2. Dẫn theo. Lịch sử Việt Nam (9-1945 – 1950)... Sđd, tr. 405.

133
thủ vững chắc, Bộ chỉ huy Pháp đặt nhiều hi vọng vào khả năng
phòng thủ của Liên khu Biên giới. Tuy nhiên, Liên khu này có
nhiều điểm bất lợi: Thế bố trí thành tuyến kéo dài trên một con
đường độc đạo với những vị trí cô lập cách xa nhau hàng chục
km; địa hình rừng núi hiểm trở, phức tạp làm cho quân cơ động
ứng chiến bằng cơ giới khó phát huy được tác dụng...
Bộ chỉ huy chi
ến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm
Chỉ huy trưởng kiêm Chính uỷ và Bí thư Đảng uỷ mặt trận,
quyết định tập trung một lực lượng mạnh tham gia chiến dịch.
Lực lượng này gồm có Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung
đoàn 174, bốn đại đội sơn pháo cùng với lực lượng vũ trang của
Liên khu Việt Bắc và hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Phương án
dự kiến ban đầu là đánh
địch ở Cao Bằng để thu hút lực lượng
địch, nhưng sau khi cân nhắc kĩ, Bộ chỉ huy quyết định đánh
xuống Đông Khê - nơi địch tương đối mỏng để đảm bảo chắc
thắng. Phương châm chiến dịch là đánh điểm diệt viện.
Phương án trên đã được Ban Thường vụ Trung ương Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn y. Các mặt chuẩn b
ị cho chiến dịch
cũng được tiến hành khẩn trương. Chúng ta đã huy động hàng
chục vạn dân công tập trung để sửa đường vận tải, vận chuyển
một khối lượng lớn vật chất ra mặt trận. Với khẩu hiệu Tất cả
cho chiến dịch toàn thắng, cán bộ và nhân dân các dân tộc Việt
Bắc đem hết sức mình phục vụ tiền tuyến. Khoảng 121.700 dân
công thuộc các dân tộc Việt Bắc tham gia phục vụ tiền tuyến,
tổng cộng 1.716.000 ngày công. Khoảng 2/3 cán bộ các cấp của
các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kim, Lạng Sơn được huy động phục vụ
chiến dịch. Đồng bào các dân tộc còn đóng góp cho chiến dịch
hơn 100 tấn lương thực. Viện trợ của Chính phủ và nhân dân
Trung Quốc cũng là nguồn rất quan trọng góp phần đảm bảo cho
chiến dịch toàn thắng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã "chống gậy lên non xem trận địa",
trực tiếp kiểm tra kế hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị và động
viên cán bộ, chiến sĩ, dân công tham gia chiến dịch.

134
Sáng 16-9-1950, quân ta nổ súng đánh Đông Khê, mở màn
chiến dịch. Trong trận này đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến
đấu hi sinh dũng cảm tuyệt vời, đó là Đại đội trưởng Trần Cừ
lấy thân mình lấp lỗ châu mai mở đường cho đơn vị xông lên
diệt đồn địch; Lý Văn Mưu bị thương đã dùng bộc phá lao vào
phá huỷ lô cốt giặc; La Văn Cầu bị th
ương vào cánh tay đã
không chút do dự nhờ đồng đội chặt đứt khỏi vướng để tiếp tục
lao lên đánh bộc phá, hoàn thành nhiệm vụ. Các nữ dân công
Đinh Thị Dậu, Triệu Thị Soi nhiều lần băng mình qua lửa đạn
cứu thương binh, tiếp đạn cho bộ đội... Sau hai ngày chiến đấu
quyết liệt bộ đội ta tiêu diệt được vị trí Đông Khê. Thất Khê bị
uy hiếp trực tiếp. Cao Bằng hoàn toàn bị cô lập. Thế trận phòng
thủ của địch trên Đường số 4 bị rung chuyển.
Đúng như ta phán đoán, Đông Khê thất thủ đã gây nên phản
ứng dây chuyền trong giới cầm quyền quân sự và chính trị Pháp.
Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương phải ra lệnh
rứt quân khỏi Cao Bằng theo Đường số 4.
Kế hoạch trên được thực hiện bằng cuộc hành quân "kép".
Một mặt, địch cho binh đoàn từ Thất Khê, do Lơ Pagiơ (Le
Page) chỉ huy, tiến lên chiếm lại Đông Khê để đón binh đoàn từ
Cao Bằng, do Sáctông (Charton) chỉ huy, kéo về. Mặt khác,
chúng vét hầu hết lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ (gồm 6
tiểu đoàn) mở chiến dịch mang tên Phôcơ (Pho que: Chó biển)
đánh chiếm thị xã Thái Nguyên, hi vọng thu hút chủ lực của ta ở
mặt trận Biên giới để đỡ đòn cho đồng bọn và trấn an dư luận
trước việc thất thủ Đông Khê.
Nắm được ý đồ của địch, quán triệt phương châm "đánh
điểm diệt viện", trên mặt trận Biên giới, bộ đội ta kiên nhẫn mai
phục chờ đánh quân tiếp viện.
Sau một thời gian chuẩn bị, vừa thăm dò ý định của ta, ngày
30-9, địch cho binh đoàn Lơ Pagiơ tiến lên Đông Khê. Binh
đoàn của Sáctông ở Cao Bằng cũng bắt đầu rút về. Bộ chỉ huy
mặt trận chủ trương tập trung lực lượng, tiêu diệt từng cánh

135
quân địch. Trải qua 8 ngày chiến đấu ác liệt tại khu vực núi Cốc
Xá và khu Đồi 477 ở phía tây Đông Khê, bằng chiến thuật vận
động chiến, quân ta tiêu diệt và bắt gọn' hai binh đoàn địch gồm
7 tiểu đoàn. Ngày 8-10, địch cho một tiểu đoàn, do Đờ la Bôm
(De la Beaume) chỉ huy, từ Thất Khê kéo lên định ứng cứu cho
Lơ Pagiơ và Sáctông cũng bị đánh tan. Kế hoạch rút quân của
địch hoàn toàn sụp đổ.
Liên tiếp từ ngày 10 đến ngày 23-10, địch lần lượt rút chạy
khỏi các vị trí: Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lộc
Bình, Đình Lập, An Châu. Trong quá trình rút chạy, địch lại bị
quân ta truy kích tiêu diệt thêm một phần lực lượng.
Phối hợp với mặt trận Biên giới, trên các chiến trường khác,
quân ta tích cực đẩy mạnh các hoạt động tiến công địch.
Tại mặt trận Tây Bắc, quân và dân ta vừa hoàn thành nhi
ệm
vụ nghi binh, vừa tiêu diệt và buộc địch phải rút bỏ hàng loạt vị
trí, trong đó có thị xã Lào Cai và thị trấn Sa Pa.
Tại Việt Bắc, cuộc tấn công lên Thái Nguyên của 6 tiểu đoàn
địch đã bị quân và dân ta đập tan. Không thực hiện được ý đồ
áeo chủ lực của ta ở mặt trận Biên giới về, lại bị thiệt hại gần
1.000 tên. Ngày 11-10 quân Pháp buộc phải rút khỏi thị xã Thái
Nguyên.
Ở chiến trường Bắc Bộ, quân và dân ta đánh mạnh, tiêu diệt
700 địch, buộc chúng phải rút 44 vị trí, trong đó có thị xã Hoà
Bình. Ở Bình - Trị - Thiên, quân ta mở chiến dịch Phan Đình
Phùng, đột nhập thị xã Quảng Trị, đánh mìn trên đoạn dường
Huế - Đà Nẵng, thực hiện được nhiệm vụ tiêu hao và kiềm chế
địch tại chỗ, không cho chúng điều quân ra Bắc Bộ.
Sau khoảng một tháng chiến đấu dũng cảm và mưu trí của
quân và dân ta, chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi. Quân ta
đã tiêu diệt và bắt khoảng 8.300 địch, gồm 8 tiểu đoàn Âu - Phi
và 2 tiểu đoàn ngụy, thu trên 3.000 tấn vũ khí và phương tiện
chiến tranh; giải phóng một dải biên giới với chiều dài 750 km,

136
gồm 350.000 dân. Nếu tính cả các chiến trường phối hợp với
mặt trận Biên giới, tổng số địch bị tiêu diệt và bị bắt là 11.500
tên; một vùng rất rộng lớn khoảng 4.000 km
2
cùng với 400.000
dân được hoàn toàn giải phóng; địch buộc phải rút khỏi 217 vị
trí, trong đó có 5 thị xã quan trọng: Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào
Cai, Thái Nguyên và Hoà Bình; hành lang Đông - Tây của địch
bị phá vỡ. Con đường liên lạc giữa căn cứ địa Việt Bắc với đồng
bằng Bắc Bộ và Liên khu IV được thông suốt. Sự thông thương
giữa nước ta với quốc tế cũng được mở ra trên nhiều hướng. Từ

đây, hậu phương của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nối liền
với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, với Liên Xô và với
các lực lượng yêu chuộng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà đã thoát khỏi thế bao vây phong toả của các thế lực đế quốc,
có điều kiện tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.
Đối với địch, đây là một thất bại nặng nề chưa từng có từ
trước đến bấy giờ. Cả một loạt kế hoạch chính trị, quân sự mà
Pháp ra sức thực hiện từ sau thu - đông 1947 đã bị phá sản. Kế
hoạch Rơve cơ bản bị thất bại. Tất cả những tổn thất ấy đã khoét
sâu thêm khó khăn về quân sự và giáng một đòn mạnh vào tinh
thần tướng sĩ địch. Thất bại ở biên giới đã gây nên sự đảo lộn
lớn về chiến lược, chiến thuật của thực dân Pháp. Chúng phải bố
trí lại quân lực, thay đổi chỉ huy, thay đổi chiến thuật và ngày
càng lún sâu vào thế phòng ngự về chiến lược.
Đối với nhân dân ta; sau bốn năm kháng chiến toàn quốc, đây
là lần đầu tiên quân đội ta chủ động mở một chiến dịch tiến
công quy mô lớn và chiến thắng giòn giã. Chiến thắng này đánh
dấu bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật quân sự, nghệ
thuật chỉ đạo chiến dịch và trình độ tác chiến tập trung của quân
đội ta.
Với chiến thắng Biên giới, quyền chủ động về chiến lược trên
chiến trường chính (Bắc Bộ) đã thuộc về quân đội ta. Cục diện
chiến tranh đã thay đổi có lợi cho ta. Từ đó về sau, quân đội ta

137
liên tục chủ động tiến công và phản công địch. Chiến thắng Biên
giới mở ra bước ngoặt cơ bản, đưa cuộc kháng chiến của ta từ
hình thái chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy.
Chiến thắng Biên giới còn phản ánh kết quả của Đảng và
Chính phủ về xây dựng hậu phương kháng chiến. Chính kẻ địch
cũng phải thừa nhận: "Đây thực sự là một cuộc chiế
n tranh của
một dân tộc có tinh thần đấu tranh cương quyết bảo vệ độc lập
của nước mình"
1
.
II- Đế quốc Mĩ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược
Đông Dương – Kế hoạch Đờ Lát đờ Tătxinhi
1. Mĩ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông
Dương
Từ năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã giành
được nhiều thắng lợi to lớn về chính trị, ngoại giao và quân sự.
Uy tín và địa vị của Nhà nước ta được nâng cao trên trường
chính quốc tế. Sau khi thiết lập
được quan hệ ngoại giao với các
nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ của
bạn bè không chỉ về tinh thần mà cả vật chất. Năm 1950, hàng
viện trợ của Trung Quốc bắt đầu được chuyển đến Việt Nam.
Cùng với sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa, phong
trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển; phong trào đấu tranh
vì hoà bình và dân chủ cũng ngày càng lan rộng. Tại nước Pháp,
phong trào phản đối cuộc chiến tranh bẩn thỉu của thực dân
Pháp ở Đông Dương ngày càng dâng lên mạnh mẽ. Nhiều nghị
sĩ trong Quốc hội lên tiếng chất vấn, công kích Chính phủ theo
đuổi cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Đông Dương. Nhân dân các
nước Angiêri, Marốc, Tuynidi... lên tiếng đòi rút quân đội viễn
chinh Pháp ra khỏi Việt Nam.


1. Cuộc kháng chiến th.ần thánh của nhân dân Việt Nam. T. 2, tr. 527

138
Trước tình thế đó, thực dân Pháp nhận thấy khó có thể tiếp
tục cuộc chiến tranh nếu không có sự giúp sức của đế quốc Mĩ .
Vì vậy, dù mâu thuẫn với Mĩ, thực dân Pháp vẫn buộc phải dựa
vào Mĩ, cầu xin viện trợ Mĩ để theo đuổi cuộc chiến tranh xâm
lược Đông Dương. Về phía đế quốc Mĩ, nhân lực Pháp thất bạ
i
ở mặt trận Biên giới, chúng tăng thêm viện trợ cho Pháp và can
thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh Đông Dương, nhằm ngăn
chặn phong trào cách mạng lan xuống Đông Nam Á, từng bước
thay chân Pháp, độc chiếm Đông Dương.
Tháng 12-1950, Mĩ, Pháp cùng với các Chính phủ bù nhìn
Việt, Miên, Lào kí Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương.
Với Hiệp định này, Mĩ cam kết sẽ viện trợ quân sự cho chính
quyền bù nhìn ba nước
để phòng thủ Đông Dương. Cuối tháng
1-1951, Thủ tướng Pháp Plêven và Tổng Tham mưu trưởng
quân đội viễn chinh Pháp Ala hội đàm với Tổng thống Mĩ
Truman về viện trợ cho Đông Dương. Pháp yêu cầu Mĩ cung
cấp tối đa vũ khí và các trang bị cần thiết cho quân đội bù nhìn.
Tháng 9-1951, Mĩ và Chính phủ bù nhìn Bảo Đại kí hiệp ước
tay đôi dưới tên gọi Hiệp ước hợp tác kinh tế Việt
- Mĩ, nhằm
chuyển thẳng một phần viện trợ của Mĩ cho Chính phủ Bảo Đại.
Thông qua đó, Mĩ từng bước nắm chặt ngụy quyền Bảo Đại.
Tháng 12-1951, Mĩ cùng Bảo Đại kí tiếp bản Hiệp nghị an ninh
chung.
Dựa vào các bản hiệp định trên, viện trợ của Mĩ chiếm tỉ lệ
ngày càng cao trong ngân sách chiến tranh Đông Dương: Năm
1950: 52 tỉ phrăng (19% ngân sách)
Năm 1951: 62 tỉ phrăng (16% - )
Năm 1952: 200 tỉ phrăng (35% - )
Năm 1953: 285 tỉ phrăng (43% - )

139
Năm 1954: 555 tỉ phrăng (73% - )
1
.
Từ năm 1950 đến năm 1953, đế quốc Mĩ đưa vào Đông
Dương khoảng 400.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh.
Riêng trong hai năm (1952 - 1953), số tiền Mĩ cho Pháp vay là
314 triệu đôla.
Các phái đoàn viện trợ kinh tế, cố vấn quân sự Mĩ cũng lần
lượt sang Việt Nam.Tháng 5-1950, phái đoàn viện trợ Mĩ đến
Sài Gòn. Tháng 9-1950, phái đoàn cố vấn quân sự Mĩ (MAAG)
được thành lập ở Việt Nam. Năm 1952, các Phòng Thông tin Mĩ
được đặt ở nhiều nơi trong vùng thực dân Pháp chiếm đóng.
Các tướng, tá, chính khách Mĩ ở Đông Dương ngày càng tăng.
Các trung tâm và trường huấn luyện của Mĩ bắt đầu tuyển chọn
và đưa người Việt Nam sang học tại Mĩ .2 - Kế hoạch Đờ Lát
đờ Tátxinhi
Được Mĩ viện trợ, thực dân Pháp tập trung lực lượng phòng
ngự và bình định vùng tạm chiếm, nhất là khu vực đồng bằng
Bắc Bộ; đồng thời chuẩn bị mở các cuộc phản công với hi vọng
giành lại quyền chủ động về chiến lược trên chiến trường chính
Bắc Bộ. Ngày 6-12-1950, Chính phủ Pháp cử Đại tướng Đờ Lát
đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) - Tư lệnh lục quân Khối
Tây Âu - sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh, kiêm Cao
uỷ Đông Dương. Đây là lần đầu tiên sau 5 năm chiến tranh xâm
lược Đông Dương, Chính phủ Pháp tập trung quyền hành cả
quân sự và chính trị vào tay một viên tướng để thống nhất chỉ
đạo chiến tranh. Đờ Lát vạch ra một kế hoạch quân sự gồm 4
điểm chủ yếu: Gấp rút tập trung quân Âu - Phi để xây dựng
thành một lực lượng cơ động chiến lược mạnh; đồng thời phát
triển ngụy quân với quy mô lớn.

1. Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội
1974, tr.427.


140
- Xây dựng quân đội quốc gia của chính quyền bù nhìn Bảo
Đại.
- Xây dựng tuyến công sự phòng thủ bao quanh trung du và
đồng bằng Bắc Bộ nhằm đối phó với chủ lực của ta và ngăn
chặn ta đưa nhân lực, vật lực ra vùng tự do.
- Tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định vùng tạm bị
chiếm và vùng du kích; đồng thời phá hoại hậu phương kháng
chiến và chuẩn bị tấn công ra vùng tự do.
T
ư tưởng chủ đạo của kế hoạch Đờ Lát là tập trung nỗ lực
của đội quân viễn chinh Pháp vào chiến trường Bắc Bộ, làm cho
Bắc Bộ trở thành "cái then cửa" của vùng Đông Nam Á chống
lại phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ ở khư vực
này. Tiếp theo kế hoạch Rơ ve, Kế hoạch Đờ Lát càng thể hiện
rõ sự can thiệp của Mĩ vào cuộc chiến tranh xâm lược Đông
Dương và viện trợ Mĩ từ lúc này đã trở thành một điều kiện hết
sức quan trọng để thực hiện Kế hoạch Đờ Lát. vừa phải lo đối
phó với các chiến dịch tiến công của quân đội ta và ra sức càn
quét để ổn định vùng tạm chiếm, thực dân Pháp vừa đẩy mạnh
tốc độ thực hiện kế hoạch Đờ Lát.
Về chính trị, với việc Bảo Đại lên ngôi "Quốc trưởng" và
chính phủ Trần Văn Hữu làm lễ tuyên thệ (3-1951), thực dân
Pháp coi như đã hoàn thành việc lập chính quyền tay sai. Chúng
ra sức tuyên truyền cho nền độc lập giả hiệu và tô son trát phấn
cho chính quyền bù nhìn. Để tập trung quyền hành trong tay,
Trần Văn Hữu lần lượt thanh trừng lực lượng Đại Việt của
Nguyễn Hữu Trí ở Bắc Bộ, cách chức Phan Văn Giáo, thủ hiến
Trung phần, bao vây phong toả vùng kiểm soát của lực lượng
Cao Đài, thay thế khu tự trị công giáo" ở Bùi Chu, Phát Diễm
bằng tổ chức hành chính quân sự của ngụy quyền. Chính phủ
Trần Văn Hữu tiếp tục công nhận các công sở do Pháp bàn giao,
tổ chức bộ máy hành chính từ tỉnh, huyện xuống tới xã, thôn
trong vùng tạm chiếm.

141
Cùng với việc củng cố bộ máy ngụy quyền, thực dân Pháp và
tay sai còn tập hợp và tranh thủ các đảng phái phản động; đồng
thời tổ chức thêm nhiều đoàn thể tổ chức chính trị lừa bịp như
"Thanh niên kháng chiến hải ngoại", "Thanh niên lao động",
"Thanh niên diệt cộng", "Đoàn thanh niên kiến quốc"... để lôi
kéo quần chúng, phá hoại kháng chiến. Chúng dùng bọn cha cố
phản động nắm giáo dân, bắt phu, b
ắt lính, phá hoại việc thực
hiện các chính sách của ta, nhất là ở những vùng tập trung đồng
bào công giáo.
Ở vùng Tây Nguyên, thực dân Pháp nham hiểm và xảo quyệt
đẩy mạnh việc thực hiện "ba chính sách lớn" (chính sách có
mặt; chính sách muối, kí ninh, dụng cụ và chính sách không can
thiệp) để khống chế nhân dân các dân tộc vùng Tây Nguyên.
Thông qua bộ máy cai trị từ tỉnh xuống buôn làng, qua các cuộc
hành quân và nhất là bằng chính sách độc quyền nắm và phân
phát muối, thuốc chữa bệnh, công cụ sản xuất, thực dân Pháp ra
sức kìm kẹp nhân dân, buộc họ phải theo chúng chống lại kháng
chiến.
Trong các vùng tạm chiếm, với việc đẩy mạnh thực hiện
chính sách "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân
Pháp, nhân dân ta phải đóng góp rất nặng nề. Ở Bắc Bộ, ngoài
việc tăng các loại thuế, thực dân Pháp đặt ra nhiều thứ thuế mới:
thuế đò, thuế bến, thuế nhà ngói dọc đường, thuế binh bị quốc
phòng... Chúng còn triệt để thi hành chính sách "tam quang"
(cướp sạch, đất sạch, phá sạch), hòng triệt phá nguồn cung cấp
cho kháng chiến. Tháng 3-1951, ở Bắc Bộ, thực dân Pháp mở
chiến dịch cướp phá thóc lúa. Chúng ra lệnh binh lính phải theo
dõi từng bước việc gặt hái của nông dân, kiểm soát chặt chẽ các
chợ và đường giao thông, bắt nông dân phải tập trung thóc gạo
bán cho nhà chức trách. Mỗi khi càn quét, chúng ra sức cướp
phá; không lấy được hết, chúng đổ thóc gạo xuống sông, ao, hồ.
Ở một số nơi, chúng bắt dân tập trung thóc gạo lên đồn rồi phát
ăn từng ngày, cho quân "gặt cướp" ở các vùng giáp ranh.

142
Ở vùng Bình - Trị - Thiên, thực dân Pháp liên tiếp tiến hành
các "trận phá lúa", các "chiến dịch vét thóc gạo". Tại Liên khu
V, địch tiến hành cuộc "chiến tranh gạo" rất gay gắt hòng bao
vây lương thực vùng tự do. Tại Nam Trung Bộ, địch càn quét dữ
dội vùng đồng bằng tạm chiếm ven biển, nhất là ở Ninh Thuận,
Khánh Hoà để vơ vét thóc gạo. Hàng ngàn dân bị dồn vào các
"khu chiêu an", "khu tập trung". Nhiều cơ sở kháng chiến bị vỡ.
Hệ thống đồn lốt tháp canh của địch trước đây bố trí theo tuyến,
nay chuyển sang bố từ theo diện. Phong trào kháng chiến ở Liên
khu V, nhất là ở vùng tạm chiếm đứng trước nhiều khó khăn
gay gắt. Lúc này ta chỉ nắm được 9.000 trên tổng số 180.000
dân ở Khánh Hoà, 10.000 trên 12.000 dân ở Ninh Thuận và
40.000 trên 950.000 dân ở Bình Thuận
1
. Hầu hết thóc gạo,
lương thực trong vùng tạm chiếm đều bị giặc Pháp chiếm đoạt,
làm cho nạn đói trở nên trầm trọng. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp
kiểm soát được phần lớn mạng lưới giao thông, nên càng đẩy
mạnh “chiến tranh kinh tế”. Chúng thường xuyên cho tàu chiến
tiến sâu vào các sông và kênh rạch, bắn phá bừa bãi các làng
xóm ven sông, gây cho nhân dân ta nhiều tổn thất về người và
cửa.
Dựa vào viện tr
ợ của Mĩ, thực dân Pháp đẩy nhanh việc xây
dựng quân đội ngụy, hoàn chỉnh hệ thống vành đai phòng thủ
bao quanh đồng bằng và trung du Bắc Bộ.
Tháng 5-1951, Bộ Quốc phòng ngụy được tổ chức lại, đặt
bên cạnh cơ quan cố vấn Pháp do tướng Đờ Latua (De Latour)
phụ trách. Từ sau khi Bảo Đại kí đạo dụ "tổng động viên" (15-7-
1951), giặc Pháp và ngụy quyền tay sai ráo riết thực hiện dồn
dân, bắt lính. Kết hợp với biện pháp vây bắt, cưỡng bức, chúng
dùng nhiều thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo thanh niên vào
lính. Bằng những thủ đoạn này, trong đợt tổng động viên, địch
đã bắt được 6 vạn người vào lính và tốp sĩ quan người Việt đầu


1. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp…Tập 2, Sđd, tr.112

143
tiên được tập trung huấn luyện, làm nòng cốt xây dựng "quân
đội quốc gia". Sau sáu tháng kể từ khi ban hành lệnh "tổng động
viên", "quân dội quốc gia" đã có 45 tiểu đoàn, tăng 24 tiểu đoàn
so với đầu năm 1951, trong đó có 28 tiểu đoàn được tổ chức
thành 4 sư đoàn bộ binh. Các sư đoàn này đều do sĩ quan Pháp
chỉ huy và chịu sự chỉ huy hành quân của các bộ chỉ huy quân
sự các miền củ
a Pháp.
Một số cơ quan và đơn vị binh chủng được tổ chức, như công
binh, pháo binh, nha quân cụ, toà án quân sự, hiến binh quốc
gia... Các trường huấn luyện sĩ quan cũng được chấn chỉnh lại.
Trường võ bị liên quân ở Huế chuyển vào Đà Lạt. Một trường
võ bị đào tạo sĩ quan trù bị được mở tại Nam Định. Các sĩ quan
trù bị sau khi huấn luyện được đưa v
ề các đơn vị tiểu đoàn Việt
Nam (BVN), thay thế các sĩ quan người Pháp. Một số trường
đào tạo hạ sĩ quan và chỉ huy chuyên môn cũng được mở.
Song song với việc xây dựng và phát triển lực lượng chính
quy, Pháp và tay sai cũng chú ý chấn chỉnh và tăng cường tổ
chức quân sự. Ở các địa phương. Ở tỉnh, thường có một đại đội
bảo chính đoàn, đặt bên cạnh tiểu
đội quân Liên hiệp Pháp. Ở
quận, có từ một đến hai trung đội do quận trưởng chỉ huy. Ở
tổng, tổng dũng nắm các đội hương dũng, các đội vũ trang ở
thôn ấp. Tất cả các lực lượng này vẫn phải đặt dưới sự điều
khiển của cơ quan chỉ huy quân sự của Pháp ở địa phương.
Lực lượng ngụy quân mới xây dựng chủ yếu làm nhiệm vụ
chiếm đóng, thay thế cho lực lượng quân viễn chinh rút ra làm
nhiệm vụ tác chiến. Nhờ đó, thực dân Pháp đã rút được một bộ
phận quân tinh nhuệ tổ chức thành các binh đoàn cơ động làm
nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường. Đến tháng 10-1951,
trên toàn Đông Dương, Pháp đã tổ chức được 7 binh đoàn cơ
động (GM) và 9 tiểu đoàn dù dự bị chiến lược, nâng lực lượng
cơ động chiến lược lên gấp ba lần so với năm 1950. Mặc dù vậy,
để đối phó với chiến tranh du kích phát triển ngày càng mạnh
mẽ ở vùng sau lưng địch và giữ đất ở vùng đồng bằng đông dân,

144
nhiều của, thực dân Pháp vẫn phải dành phần lớn binh lực để
làm nhiệm vụ chiếm đóng. Năm 1951, lực lượng chiếm đóng
tăng từ 77 tiểu đoàn lên 109 tiểu đoàn chính quy, chiếm 67%
tổng số quân toàn Đông Dương.
Coi chiến trường Bắc Bộ là "cái then cửa của vùng Đông
Nam Á", thực dân Pháp bố trí ở chiến trường này một binh lực
khá lớn: 54% lực lượng pháo binh và lính dù, 50% l
ực lượng
pháo binh, 42% cơ giới thiết giáp, 71 % lực lượng công binh
1
.
Tại Bắc Bộ, Pháp tiếp tục xây dựng tuyến phòng thủ mạnh
gồm hệ thống công sự bằng bê tông cốt thép (boongke) gồm 800
lô cột lập thành hàng chục cứ điểm lớn, nhỏ do 25 tiểu đoàn lính
Âu - Phi tinh nhuệ chiếm đóng, kéo dài từ Hòn Gai, Đông Triều,
Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, qua Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà
Đông, đến Ninh Bình. Ở vòng ngoài, song song với phòng tuyến
boongke là một "vành đai trắng" có chiều rộng t
ừ 5 - 10 km.
Trên khắp chiến trường từ Nam đến Bắc, quân địch đẩy
mạnh bình định ở những vùng chúng kiểm soát. Chúng liên tiếp
mở các chiến dịch càn quét với quy mô lớn. Ở Hà Nam, Nam
Định, Ninh Bình, dựa vào tổ chức ngụy quyền và lực lượng
phản động trong các giáo phái, địch mở các cuộc hành quân
"diệt du, quét cán, càn thanh" (diệt du kích, quét cán bộ, càn
thanh niên), đồng thời đánh phá vùng du kích của ta.
Ở vùng biển Hải Phòng, Kiến An, địch khẩn trương xây dựng
thêm nhiều công sự boongke kiểu mới, mở rộng sân bay Cát Bi
nhằm biến khu vực Hải Phòng - Kiến An - Đồ Sơn - Quảng Yên
thành "pháo đài mạnh ven biển". Chúng thay đổi chỉ huy và càn
quét dữ dội, đánh phá các cơ sở của ta.
Tại Nam Sách (Hải Dương), ngụy quyền tổ chức thí điểm đội
"quân thứ hành chính lưu động" (GAMO), một tổ chức hành

1.
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp 1945 - 1954. Tập 2... Sđd, tr. 92.


145
chính - chính trị - quân sự chuyên làm nhiệm vụ bình định,
thành phần gồm sĩ quan, binh lính, gián điệp, chỉ điểm, nhân
viên hành chính, y tế giáo đục, văn hoá... Thông qua đội quân
này, chúng truy quét cơ sở kháng chiến, lập lại ngụy quyền,
dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo quần chúng.
Ở Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông... địch ráo riết thực hiện thủ
đoạn "chiêu an". Chúng thành lập các tổ chức cứu tế xã hội",
"trại hồi cư”, "hội giúp đỡ đồng bào hồi cư” nhằm mua chuộc,
lôi kéo cán bộ và nhân dân ở vùng tự do về vùng tạm chiếm.
Chúng dồn dân vào các khu tập trung gọi là "đại xã" để dễ dàng
kìm kẹp, khống chế nhân dân và cô lập lực lượng kháng chiến.
Tại vùng đồng bằng Nam Trung Bộ, Pháp phát triển đồn bốt,
tháp canh, kết hợp quân ứng chiến với quân chiếm đóng; rào
làng, dồn dân, tập trung lúa của dân vào đồn, phát triển tề
điệp
để khống chế và kiểm soát dân. Ở vùng chiếm đóng Bắc Quảng
Nam, đầu năm 1950 có 125 tháp canh, đến cuối năm tăng lên
174; ở Khánh Hoà, năm 1951 địch đóng 109 đồn và 213 tháp
canh, lùa dân vùng này đi gặt lúa vùng khác đưa về đồn, tối bắt
dân ngủ ở đồn. Ở Ninh Thuận, địch bắt dân rào hết các làng
1
.
Đối với Tây Nguyên, để nắm được địa bàn chiến lược quan
trọng này, từ tháng 2-1951, thực dân Pháp đã tách Tây Nguyên
khỏi Trung phần, thành lập khu độc lập trực thuộc Bộ Tổng chỉ
huy quân viễn chinh. Tại đây, chúng thành lập các trung đội
"xung kích xuyên sơn”, các tiểu đoàn sơn chiến gồm người dân
tộc ít người để tác chiến ở vùng núi. Ngoài ra, chúng còn thực
hiện một thủ đoạn mới rất thâm độc là phát triển các ổ vũ trang
phản động ở các địa phương, gọi là Gum để biến dần người dân
bình thường thành người lính chống lại kháng chiến.
Tại Nam Bộ, cùng với chính sách kìm kẹp và cướp đoạt, thực

1.
Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975. NXB Chính trị quốc gia.
Hà Nội 1995, tr. 146.


146
dân Pháp và tay sai ra sức lợi dụng các tôn giáo để mê hoặc và
lôi kéo quần chúng chống lại kháng chiến. Chúng thành lập các
đội quân giáo phái và chuyển giao cho Bộ tham mưu ngụy chỉ
huy để sử dụng vào kế hoạch bình định, càn quét. Bằng nhiều
thủ đoạn nham hiểm và tàn bạo, đến cuối năm 1951, thực dân
Pháp đã bắt hàng vạn thanh niên, có cả thiếu niên 14 - 15 tuổi,
vào lính. Trong các thành phố lớn, địch cũng ráo riết bình định.
Ở Hà Nội, từ tháng 7-1951, tiếp theo những cuộc vây càn lớn,
địch chuyển sang đánh phá sâu vào các tổ chức của ta. Chúng
cài cắm tay chân vào các đoàn thể, các cơ sở kháng chiến của ta
để hoạt động phá hoại. Một số đơn vị bảo chính đoàn được
chúng điều động trở lại đóng bốt để làm chỗ dựa cho bọn tay sai
lập hội tề, bảo an: ở thành phố Hải Phòng, ngoài hàng ngàn lính

động, còn có cả một hệ thống cảnh sát, mật vụ, chỉ điểm cài
cắm khắp các ngõ phố, nhà máy , bến cảng . . .
Thực dân Pháp còn huy động lực lượng cơ động mở các cuộc
càn lớn để tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta, phá nát các làng
chiến đấu và căn cứ du kích dập tắt phong trào chiến tranh du
kích đang ngày một lan rộng ở khắp các tỉnh thuộc đồng bằng
Bắc Bộ. Kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi đã gây cho ta nhiều khó
khăn mới, nhất là ở vùng sau lưng địch. Tại một số vùng, nhiều
làng xóm bị tàn phá, cơ sở kháng chiến bị tổn thất, phong trào
đấu tranh của nhân dân bị giảm sút. Chỉ riêng cuộc càn quét của
địch vào đầu tháng 10-1951, chúng đã chiếm lại khu vực ba
huyện Tiên Hưng - Duyên Hà - Hưng Nhân, với 363 làng, gồm
280.000 dân. Căn cứ du kích liên hoàn ba huyện ở phía bắc tỉnh
Thái Bình trở thành vùng tạm chiếm.
Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với mọi mặt hoạt động của kháng chiến.
III- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thử II của Đảng Cộng sản
Đông Dương (2-1951)
Bước vào những năm 50 của thế kỉ XX, tình hình thế giới và

147
trong nước có nhiều chuyển biến lớn. Hệ thống các nước xã hội
chủ nghĩa đã được củng cố và tăng cường về mọi mặt. Hội đồng
tương trợ kinh tế (SEV) - thành lập từ tháng 1-1949, với mục
tiêu phối hợp hoạt động kinh tế để củng cố và phát triển sự hợp
tác giữa các nước, phát triển một cách có kế hoạch nền kinh t
ế
quốc dân và nâng cao đời sống nhân dân - ngày càng có nhiều
nước tham gia.
Ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, cơn bão táp cách
mạng tiếp tục phát triển, từ Đông Nam Á sang Trung Đông và
châu Phi. Phong trào bảo vệ hoà bình thế giới trở thành phong
trào quần chúng rộng rãi. Từ ngày 16 đến ngày 22-11-1950, Đại
hội hoà bình thế giới lần thứ hai được tổ chức tại Vácsava, với
sự tham gia của hơn 2.000 đại biểu thuộc 81 n
ước. Đại hội đã
thông qua Lời hiệu triệu gửi nhân dân toàn thế giới, đòi chấm
dứt chiến tranh ở Triều Tiên,
Việt Nam..., đòi cấm chế tạo và sử dụng bom nguyên tử, đòi
giải trừ quân bị... Đại hội cũng quyết định thành lập Hội đồng
hoà bình thế giới, gồm đại biểu của tất cả các dân tộc.
Ở trong nướ
c, sau gần 16 năm kể từ Đại hội lần thứ I của
Đảng (3-1935), tình hình đã có nhiều chuyển biến rất căn bản.
Qua hơn 5 năm chiến đấu, lực lượng kháng chiến đã lớn lên
nhiều về mọi mặt, nhất là về quân sự. Từ sau chiến thắng Biên
giới thu - đông 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân
dân ta phát triển sang thời kì mới. Hậu phương kháng chiến
được nối liền với phe xã hội chủ nghĩa. Cuộc kháng chiến của
nhân dân hai nước bạn Lào và Campuchia cũng giành được
những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược.
Tuy nhiên, cuộc kháng chiến của ta lúc này gặp nhiều khó
khăn mới do âm mưu của đế quốc Pháp, Mĩ .
Tình hình trên đòi hỏi cuộc kháng chiến phải tăng cường hơn
nữa tính chất toàn diện và sự lãnh đạo của Đả
ng.
Mặt khác, từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Đảng

148
ta trở thành Đảng cầm quyền. Nhưng do hoàn cảnh vô cùng
phức tạp và để giữ vững khối đoàn kết, Đảng ta tuyên bố tự giải
tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật. Điều này ảnh hưởng
đến vai trò lãnh đạo của Đảng Yêu cầu phát triển của cuộc
kháng chiến đòi hỏi phải có sự lãnh đạo công khai của Đảng.
Xuất phát từ những lí do trên, Đảng C
ộng sản Đông Dương
triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tại xã Vinh
Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang), từ ngày 11 đến
ngày 19-2-1951. Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và
53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 76 vạn đảng viên trong
cả nước.
Sau bài Diễn văn khai mạc của Tôn Đức Thắng, Đại hội đã
thảo luận Báo cáo chính trị c
ủa Hồ Chí Minh, Báo cáo Bàn về
cách mạng Việt Nam của Trường Chinh, báo cáo về Tổ chức và
Điều lệ Đảng, các báo cáo bổ sung về mặt trận dân tộc thống
nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội nhân dân, kinh tế
tài chính...
Báo cáo chính trị đã khẳng định những thắng lợi to lớn của
cách mạng, bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng qua
các thời kì vận động cách mạ
ng; khẳng định đường lối, chính
sách đúng đắn của Đảng; cán bộ, đảng viên của Đảng là những
chiến sĩ dũng cảm, tận tụy hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân
tộc. Báo cáo cũng nghiêm khắc vạch rõ những khuyết điểm
trong cán bộ, đảng viên, đó là việc học tập chủ nghĩa Mác - Lê
nin còn yếu, tư tưởng chưa vững vàng, lề lối làm việc còn quan
liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi, công thần... Trên cơ sở đó Báo cáo
chính trị nêu nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt
Nam là "Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mĩ,
giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới".
Để thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu đó, phải động viên tinh
thần yêu nước, ra sức thi đua ái quốc, đẩy mạnh xây dựng lực
lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng, tăng cường mặt trận
đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, thực hiện chính sách ruộng

149
đất.
Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam trình bày toàn bộ đường
lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam; phân tích tính chất xã hội Việt Nam từ sau
Cách mạng thảng Tám là "phức tạp và phát triển không đều, có
tính chất dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong
kiến..."
1
. Trong xã hội nổi lên mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc
Việt Nam với bọn đế quốc xâm lược, mâu thuẫn giữa số đông
nhân dân với giai cấp địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa lao
động với tư bản trong nước. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam
với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chính. Kẻ thù chủ yếu trước
mắt của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc xâm lược
(thực dân Pháp và can thiệp Mỉ và bọn bù nhìn Việt gian bán
nước, đại biểu quyền lợi cho đại địa chủ phong kiến và tư sản
mại bản. Do đó, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam "là
tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, đánh đổ bọn bù nhìn Việt gian
phản nước, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất,
xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho
người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây
mầm mống cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam"
2
. Bản báo cáo
phân tích mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và phản
phong, khẳng định lực lượng cách mạng ở Việt Nam "là giai cấp
công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, rồi đến giai
cấp tư sản dân tộc; ngoài ra là những phần tử cá biệt xuất thân từ
giai cấp địa chủ (phần nhiều là tiểu địa chủ) đang đi với nhân
dân, được gọi là nhân sĩ dân chủ và thân sĩ yêu nước..."
3
.
Đại hội đề ra những chính sách cơ bản về công tác xây dựng

1.
Bàn về cách mạng Việt Nam: Xem: Trường Chinh tuyển tập 1937 -
1954. NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 456, 459, 469.

2.2.
Bàn về cách mạng Việt Nam. Xem: Trường Chinh Tuyển tập
1937 - 1954. NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 456, 459, 469.



150
và củng cố chính quyền, tăng cường quân đội, mở rộng mặt trận
đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, phát triển kinh tế - tài
chính, văn hoá - giáo dục... nhằm đẩy mạnh kháng chiến toàn
diện.
Xuất phát từ tình hình cụ thể và yêu cầu cách mạng của ba
nước Đông Dương, Đại hội quyết định thành lập ở mỗi nước
một Đảng Mác - Lê nin riêng biệ
t, có cương lĩnh thích hợp với
đặc điểm phát triển của từng dân tộc.
Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên
mới là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng có nhiệm vụ lãnh đạo
cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, giúp đỡ và phối hợp
với các Đảng cách mạng vào và Campuchia, đưa sự nghiệp
kháng chiến của ba dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương
giành thắng lợi hoàn toàn.
Đại hội thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới
của Đảng; quyết định xuất bản báo Nhân dân làm cơ quan ngôn
luận của Đảng.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 19 uỷ
viên chính thức và 10 uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 7 uỷ
viên chính thức và 1 uỷ viên dự khuyết
1
. Hồ Chí Minh được
bầu giữ chức Chủ tịch Đảng và Trường Chinh được bầu lại làm
Tổng Bí thư của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai được
tiến hành trong lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược của nhân dân ta có nhiều chuyển biến mới. Đại hội đã tổng
kết những kinh nghiệm vận động cách mạng của Đảng, đồng
thời nêu rõ những nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn dân
và toàn quân, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến đi tới thắng
lợi. Đại hội được gọi là Đại hội kháng chiến thắng lợi .

1. Bộ Chính trị gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc
Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Than
h và
1 uỷ viên dự
khuyết là Lê Văn Lương.

151
IV- Xây dựng và củng cố hậu phương kháng chiến về mọi
mặt
Hậu phương có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong
những nhân tố thường xuyên có tính chất quyết định thắng lợi
của chiến tranh. Nhận thức rõ tầm quan trọng của hậu phương,
Đảng ta sớm đề ra đường lối, chủ trương, chính sách về xây
dựng hậu phương vững mạnh toàn diện.
H
ậu phương chiến tranh nhân dân là một hệ thống căn cứ,
bao gồm các cơ sở chính trị ở thành thị và nông thôn, các khu du
kích và căn cứ du kích trong vùng tạm bị địch chiếm; các vùng
tự do rộng lớn nằm trên khắp lãnh thổ đất nước.
Trải qua 5 năm kháng chiến, hậu phương căn cứ địa được mở
rộng. Ngoài vùng tự do liên hoàn nối thông từ Liên khu Việt
Bắc xuống Liên khu III vào Liên khu IV, còn có vùng tự do gồm
n
ửa tỉnh Quảng Nam và các tỉnh Quảng Ngài, Bình Định, Phú
Yên cùng với các khu căn cứ Ba Tơ, Trà Bồng, Di Lăng, Minh
Long, Bắc Ái, Sơn Hà tạo thành hậu phương trực tiếp của chiến
trường Liên khu V và một phần Nam Bộ. Các chiến khu Đ,
Đồng Tháp, Dương Minh Châu, U Minh của Nam Bộ vẫn được
giữ vững.
Ở vùng tự do, nơi có những điều kiện thuận lợi, nhân dân ta
đã xây dựng chế độ mớ
i, phù hợp với bước đi của cách mạng
nước ta. Chế độ mới được xây dựng trên tất cả các mặt: kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội; cả về cơ sở vật chất và ý thức tư
tưởng. Đây chính là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của hậu
phương kháng chiến.
Về kinh tế:
Kháng chiến càng kéo dài, càng trở nên quyết liệt, nhu cầu
cung cấp cho mặt trận quân sự ngày càng lớn. Những thắng lợi
giành được trên lĩnh vực kinh tế trong những năm 1948 - 1950
tuy to lớn, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu ngày
càng cao của cuộc kháng chiến.

152
Từ năm 1950, các chiến dịch đánh vận động ngày càng
nhiều; do đó nhu cầu cung cấp cho kháng chiến tăng lên gấp bội.
Riêng trong chiến dịch Biên giới, để bảo đảm chiến đấu cho gần
30.000 người tham gia, ta đã phải chuẩn bị 2.250 tấn lương thực,
190 tấn súng đạn, 660 tấn các loại thực phẩm, quân trang, quân
dụng và huy động hơn 120.000 dân công (tương đương với
1.700.000 ngày công). Trừ 100 t
ấn lương thực, thực phẩm huy
động tại chỗ, còn toàn bộ phải huy động dân công kết hợp với
bộ đội vận tải bằng ô tô và một số xe thô sơ vận chuyển từ hậu
phương tới .
Trong khi đó, kinh tế, tài chính của chúng ta còn gặp nhiều
khó khăn (năm 1950 tổng số thu chỉ bằng 23% tổng số chi).
Nước ta bị chia cắt thành nhiều vùng; nền kinh tế trong c
ăn cứ
địa Việt Bắc rất thấp kém, rừng núi chiếm nhiều, đất canh tác ít,
lại bị địch bao vây, phong toả, phá hoại.
Việc tổ chức và chính sách kinh tế, tài chính của ta còn mang
nặng tính du kích, chưa có sự quản lí thống nhất. Do vậy, nhân
dân tuy hăng hái đóng góp cho kháng chiến, nhưng tiền của còn
rải rác ở các địa phương. Phần thu của Nhà nước không đảm bảo
cho số chi ngày càng tăng của cuộc kháng chiế
n.
Năm 1951, sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn nghiêm trọng.
Thiên tai lũ lụt xảy ra làm cho mùa màng ở nhiều nơi bị thiệt hại
nặng. Riêng tỉnh Nghệ An bị thiệt hại từ 20 đến 40% hoa màu;
Hà Tĩnh hư hỏng 80% diện tích khoai lang, 40% diện tích lúa,
1.000 tấn muối bị ngập nước. Bình - Trị - Thiên gần như bị mất
toàn bộ diện tích lúa và hoa màu, giặc Pháp lại ra sức tàn phá;
riêng trong một trận càn ở huyện Phong Điền, chúng bắn chết
một lúc 300 con trâu, bò... Ở Liên khu V, do hạn hán kéo dài và
một số công trình thuỷ lợi bị địch phá hoại, nên sản lượng lương
thực giảm sút. Nạn đói đe doạ cả bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên...
Vấn đề thiếu lương thực trước đây hầu như chỉ đặt ra đối với
Việt Bắc, lúc này trở thành khó khă
n chung của cả nước.

153
Tình hình trên đòi hỏi phải có sự chuyển hướng mạnh mẽ về
kinh tế tài chính. Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương,
chính sách và biện pháp mới toàn diện và có hiệu quả. Với tư
tưởng chỉ đạo Tất cả để chiến thắng, Đảng đề ra nhiệm vụ phát
triển kinh tế nhằm đảm bảo cung cấp cho nhu cầu của cuộc
kháng chiến và phá tan âm mư
u lấy chiến tranh nuôi chiến
tranh của địch.
Để phát triển tiềm lực kháng chiến, Hội nghị Trung ương
Đảng lần thứ 1 (3-1951) xác định phương hướng cụ thể: muốn
kháng chiến trường kì phải luôn luôn tăng cường tiềm lực kinh
tế, tài chính; phải cơi kinh tế, tài chính là nhiệm vụ rất quan
trọng; các cấp phải tăng cường lãnh đạo kinh tế, chính sách kinh
tế là tăng gia sản xuấ
t, chính sách tài chính là tăng thu giảm chi,
giúp đỡ tư sản dân tộc kinh doanh và gọi vốn tư nhân để phát
triển công thương nghiệp, phát triển công thương, mở mang
mậu dịch với nước bạn...
Tháng 4-1951, Hội đồng Chính phủ mở cuộc vận động Thi
đua sản xuất, lập công nhằm phục vụ nhu cầu kháng chiến.
Chính phủ quyết định thành lập và kiện toàn các cơ quan chỉ
đạo kinh tế
như Khuyến nông, Khai hoang, Tín dụng, Lâm
chính, Địa chính, Thuỷ nông...
Hưởng ứng cuộc vận động Thi đua sản xuất, lập công, cả
nước dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất rất sôi nổi.
Diện tích trồng cây lương thực và hoa màu tăng lên nhiều so với
các năm trước.
Riêng toàn Liên khu Việt Bắc đã cày cấy thêm 25.913 mẫu
lúa và 12.698 mẫu hoa màu. Uỷ ban kháng chiến - hành chính
Liên khu Việt Bắc lập quỹ luân chuyển có vốn 26 triệu đồng
giúp các tỉnh mua sắm nông cụ. Cơ quan nông chính cấp 37 tấn
thóc giống cho các địa phương làm vụ mùa.
Với khẩu hiệu Tự làm lấy ăn để đánh giặc, quân và dân Nam
Bộ đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự cấp tự túc. Bộ đội miền Đông