Sang_kien_kinh_nghiem_mon_Lich_su_(02)

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Sang_kien_kinh_nghiem_mon_Lich_su_(02)

PHẦN MỘT: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lý luận:
Tính hệ thống trong cấu tạo Chương trình các môn học nói chung và các bộ
môn Khoa Học Xã Hội (KHXH) nói riêng trong trường học:
Chúng ta đều biết, các môn học trong nhà trường Phổ thông là một hệ
thống hoàn chỉnh nhằm trang bị cho học sinh kiến thức thuộc tất cả các môn,
các lĩnh vực ở mức độ, tính chất “phổ thông”, giúp các em có một hành trang
cơ bản làm tiền đề cho các cấp học cao hơn. Các môn học đó không chỉ liên
quan chặt chẽ với nhau mà còn tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh, khoa học.
Cũng như các bộ môn Khoa Học Tự Nhiên (KHTN), các môn học thuộc
KHXH như Văn học, Lịch sử, Địa lý … có vai trò hết sức to lớn trong việc
hình thành và giáo dục nhân cách, đạo đức đối với học sinh nên lại càng liên
quan và hệ thống hơn.
Lý luận dạy học Hiện đại nói chung và Lý luận dạy học bậc Phổ Thông Trung
Học (PTTH) nói riêng:
Các nhà nghiên cứu lý luận dạy học hiện đại, điển hình là Tiến sỹ Đai - Ri
cho rằng, trong một tiết học, bài học, giáo viên có thể lược bỏ bớt những nội
dung kiến thức không phải là trọng tâm trong sách giáo khoa và có thể cung
cấp thêm cho học sinh một số kiến thức mở rộng nằm ngoài sách giáo khoa
môn học mình đang dạy. Những kiến thức đó thuộc nhiều kênh thông tin khác
nhau: có thể là trên sách báo, truyền hình, ngoài xã hội hoặc ở sách giáo khoa
các môn học khác. Tuy nhiên, việc cung cấp kiến thức đó phải sát với bài học,
phải đảm bảo tính phù hợp, vừa sức nhằm làm bật nổi trọng tâm bài học và
gây được hứng thú cho học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức. Việc làm này
càng có tác dụng đối với những bài học, tiết học được xem là “khô khan” như
nhiều tiết, bài Lịch sử vì chúng có quá nhiều số liệu mà học sinh cho là khó
nhớ. Tất nhiên, việc cung cấp kiến thức “bên ngoài” bao nhiêu, như thế nào
để đạt hiệu quả cao lại là chuyện khác. Tiến sỹ Đai- Ri đã đúc kết lý luận trên
bằng một “công thức” mang tính khái quát cao, dễ hiểu và áp dụng. (Xem sơ
1
đồ).
1 2
2 3
Mối quan hệ gần gũi giữa bộ môn Lịch sử với bộ môn Văn học trong cấu tạo
chương trình ở bậc PTTH.
Theo chúng tôi, thực ra cơ sở này vừa mang tính lý luận, vừa mang tính
thực tiễn. Suy cho cùng, đối tượng nghiên cứu của Văn học cũng như Sử học
đều là Con Người. Văn học ngợi ca vẻ đẹp của non sông, đất nước, ca ngợi
những con người mang những phẩm chất tốt đẹp, cao quý cũng như đả kích,
lên án cái xấu của họ thì Lịch sử cũng ghi nhận công lao, đóng góp của những
con người ấy (Nhân vật Lịch sử) và phán xét nghiêm minh đối với những
người có tội với dân, với nước. Không phải ngẫu nhiên mà trong chương trình
Văn học lại có phân môn Văn học sử và trong Chương trình Lịch sử lại có
phần Lịch sử Văn học.
Khi chúng ta, tức là những giáo viên giảng dạy Lịch sử giảng dạy đến Sự
kiện, biến cố lịch sử nào, nhân vật lịch sử nào thì dù muốn hay không, chúng
ta cũng thường liên tưởng đến những bài thơ, áng văn đã từng đề cập đến sự
kiện đó, con người đó mà chúng ta từng được đọc, được học. Trong thực tế,
có không ít người vừa là nhà Văn, nhà Thơ đồng thời là nhà Sử học mà Bác
Hồ kính yêu của chúng ta là một ví dụ điển hình.
2. Nhà Văn hóa, Nhà Giáo dục lớn và là người nghiên cứu Lịch Sử nổi
tiếng là tác giả của rất nhiều tác phẩm thơ, Văn nổi tiếng. “Tuyên ngôn độc
lập”, “Vi hành”, “Ngục trung nhật ký”… là những ví dụ tiêu biểu. Chính
Người đã từng dạy rằng:
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
II. Cơ sở thực tiễn:
1. Thực tiễn Dạy - Học Lịch sử ở trường Phổ thông trong những năm gần
2
đây.
“ Lịch sử là sự kiện”. Đó là một tổng kết mang tính chất kinh điển. Bản
thân những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất là những bài, những chương
viết về các trận đánh có rất nhiều những con số về ngày, tháng, năm xảy ra sự
kiện hoặc những số liệu về các thành tựu đã đạt được trên mọi lĩnh vực. Để
chuyển tải cho học sinh những số liệu một cách khô cứng như vậy, đòi hỏi
người giáo viên phải linh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp.
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, giáo viên giảng dạy môn Lịch sử
ở cấp THPT nói chung giảng dạy một cách khô khan, cứng nhắc, nặng về
cung cấp kiến thức, sự kiện một cách đơn thuần, do vậy không gây được hứng
thú học tập cho học sinh trong việc tiếp thu bài học. Tình hình này lại càng trở
nên đáng lo ngại hơn khi mà Daklak chúng ta, một khu vực miền núi, mặt
bằng kinh tế giáo dục cũng như dân trí thấp, đang thiếu giáo viên trầm trọng,
nên khi nhận giáo viên chưa thể có điều kiện sát hạch, lựa chọn mà chỉ cần
đến số lượng. Khi ra trường, trên thực tế nhiều giáo viên mới đang hổng kiến
thức rất nhiều. Mặt khác, tài liệu tham khảo cũng chưa đủ, nếu không muốn
nói là rất thiếu. Trong tình trạng đó, đại đa số giáo viên THPT mới ra trường
chỉ biết bám vào sách giáo khoa một cách lệ thuộc, truyền thụ kiến thức đơn
thuần theo phương pháp “đọc - ghi”, làm cho tiết học trở nên khô khan đối
với học trò. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm cho học
sinh chưa thích học bộ môn Lịch Sử.
Đối lập với thực trạng trên là một thực tiễn hoàn toàn khác. Cá nhân tôi đã
có 17 năm liên tục giảng dạy khối 12. Điều đáng nói ở đây là đã trải qua
nhiều môi trường giảng dạy (do phải chuyển trường). Từ thực tế đó tôi đã có
điều kiện để dự giờ nhiều và rất nhiều giờ của đồng nghiệp. Qua dự giờ, tôi đã
rút ra được một kinh nghiệm mà bản thân tôi cho là rất quý giá. Đó là: khi áp
dụng kiến thức thơ, văn vào việc giảng dạy Lịch sử rất gây hứng thú cho học
sinh trong việc tiếp thu bài. Điều này cũng đã được nhiều đồng nghiệp của tôi
thừa nhận và học hỏi sau khi họ dự giờ của cá nhân tôi. Từ kinh nghiệm này,
nhiều giáo viên đã bước đầu mạnh dạn đưa thơ, văn vào trong bài giảng nhằm
3
minh họa cho một số sự kiện Lịch sử trong bài dạy. Những tiết học như vậy
trở nên sinh động hẳn. Khi cô giáo đọc thơ minh hoạ, cả lớp chăm chú lắng
nghe và tỏ ra rất thích thú, sau tiết học, nhiều em còn nhờ cô giáo đọc để chép
vào sổ tay. Những tiết học như thế đã để lại trong lòng các em những ấn
tượng lâu bền. Chắc chắn những sự kiện trong bài học Lịch sử sẽ lưu lại trong
ký ức các em sâu hơn, lâu hơn. Qua trao đổi với các đồng nghiệp một cách
chân tình, tôi đã nhận được sự tán thưởng nnồng nhiệt của họ. Chính nhiều
người trong số các đồng nghiệp của tôi cũng đã thừa nhận rằng họ đã thể
nghiệm nhiều lần dạy hai cách ở 1 tiết học: một là “giảng chay”- nghĩa là
không vận dụng kiến thức thơ văn, hai là có vận dụng kiến thức thơ văn vào
trong tiết dạy thì thấy chất lượng hai tiết dạy hoàn toàn khác nhau, kể cả tâm
lý, hứng thú của người dạy cũng hoàn toàn khác nhau.
Sự phong phú của nguồn thơ, văn, ca dao, dân ca, chuyện cổ… viết về Lịch sử
hoặc liên quan đến Lịch sử.
Có thể nói, nền văn học nước ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, sứ
mệnh của nó: phản ánh hiện thực, đặc biệt là Văn học hiện đại. Cách mạng
tháng Tám năm 1945 đã đổi đời cho không biết bao nhiêu nhân tài văn học.
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại lại đem tới cho họ
nguồn cảm hứng vô tận để họ kịp thời đưa những sự kiện Lịch sử hào hùng
của dân tộc lên trang giấy. Trong số đó phải kể đến hai cây đại thụ. Đó là lãnh
tụ Hồ Chí Minh kính yêu và nhà thơ lớn Tố Hữu. Chúng tôi xin phép không
liệt kê ra đây những tác phẩm, công trình đồ sộ của họ.
Thực tế học tập của học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng trong
những năm gần đây.
Bước sang thập kỷ 90, Đảng và nhà nước ta thực hiện chủ trương đổi mới
một cách toàn diện và sâu rộng. Nhờ đó, bộ mặt kinh tế, xã hội nước ta ngày
càng phát triển không ngừng, từng bước bắt nhịpvà hòa nhập với cộng đồng
quốc tế. Tuy nhiên, trong khi chúng ta mở rộng cửa để đón nhận những luồng
gió mới trong lành thì cũng đồng thời cũng phải hứng chịu không ít luồng gió
4
độc. Một trong những luồng gió độc đó là sự xâm nhập của tư tưởng hưởng
thụ, lối sống thực dụng. Cuốn theo dòng thác đổi mới và phát triển của đất
nước, tư tưởng, lối sống đó đã len lỏi vào tận học đường, gây không ít xáo
trộn trong suy nghĩ, hành động của học sinh, sinh viên. Một thực tế là trong
những năm gần đây, số học sinh THPT dự thi vào các trường Sư phạm, vào
các ngành KHXH thưa dần và tăng quá tải ở các ngành, các trường tự nhiên,
kỹ thuật. Một số lượng không nhỏ có suy nghĩ rằng: học các ngành Tin học,
Kiến trúc, Ngoại ngữ, Xây dựng, Điện tử… ra trường dễ kiếm việc làm hơn,
lương lại cao hơn, dễ kiếm tiền hơn. Chúng ta không phủ nhận thực tế đó
nhưng rõ ràng, bản thân các em đã hướng động cơ học tập vào việc làm giàu,
chạy theo đồng tiền. Khi đo nhu cầu hiểu biết về thơ văn, lịch sử, về cội
nguồn, về truyền thống … dần dần phai nhạt và mất chỗ trong suy nghĩ của
các em học sinh. Tất nhiên, trường chúng ta cũng không thoát ra khỏi guồng
quay đó của xã hội. Mặt khác, hiện tại, nhà trường còn thiếu thốn nhiều bề,
nhất là tài liệu nghiên cứu, tư liệu tham khảo… nói chung là phương tiện trực
tiếp phục vụ dạy và học. Trong điều kiện đó, tôi không hy vọng gì hơn là
“sáng kiến kinh nghiệm” này sẽ góp một tiếng nói riêng và cung cấp cho các
đồng nghiệp một số kinh nghiệm tâm đắc được đúc rút từ lý luận và thực tiễn
bản thân trong gần 20 năm kinh nghiệm dạy học.
PHẦN II – GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Như đã nói ở trên, nguồn thơ, văn… của chúng ta (liên quan đến Lịch sử)
rất phong phú. Trong điều kiện chủ quan và khách quan cho phép, chúng tôi
chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Bước đầu khai thác và vận
dụng một số kiến thức thơ,văn (chủ yếu là thơ) vào việc giảng dạy một số bài
trong chương trình Lịch sử Lớp 12 THPT.
Các chương trình lịch sử lớp 10, 11 sẽ được chúng tôi đề cập tới trong
những thời gian tiếp theo khi điều kiện cho phép.
PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Như đã xác định, đối tượng, phạm vi vận dụng của đề tài là chương
5

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Sang_kien_kinh_nghiem_mon_Lich_su_(02)