RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM

RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.1 NHTM trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 KháI niệm
Ngân hàng ra đời gắn kiền với sự phát triển của sản xuất, trao đổi hàng hoá
và sự xuất hiện của tiền tệ. Sự giao lưu hàng hoá giữa các vùng, các quốc gia với các
loại tiền khác nhau đã gây ra những khó khăn trong việc mua bán, thanh toán,
chuyển đổi và bảo quản tiền tệ. Vì vậy, trong số các thương gia thời bấy giờ, một số
người đã từ bỏ việc buôn bán hàng hoá để trở thành các thương gia về tiền tệ thực
hiện công việc đổi tiền. Việc đổi các loại tiền của các vùng, khu vực khác nhau, giúp
cho các thương gia giao lưu hàng hoá thuận tiện hơn.
Khi các thương gia hàng hoá thực hiện buôn bán hai chiều, sẽ xuất hiện
những khoảng thời gian trễ giữa lúc bán hàng hoá này và mua tiếp hàng hoá khác,
lúc này họ không sử dụng đến số tiền hàng. Để đảm bảo an toàn, các thương gia này
muốn nhờ ai đó đáng tin cậy bảo quản hộ. Để đáp ứng nhu cầu đó, các thương gia
tiền tệ đã thực hiện công việc thứ hai là nhận gửi và bảo quản hộ tài sản có thu lệ
phí.
Khi nhận gửi, các thương gia tiền tệ viết cho khách hàng một tờ giấy chứng
nhận. Sau nhiều lần gửi và rút thuận tiện, các thương gia tiền tệ được tín nhiệm và
để cho việc mua bán diễn ra nhanh chóng, người mua đã sử dụng tờ giấy chứng
nhận khi thanh toán tiền hàng, sau đó người bán sẽ tới rút tiền ở chỗ các thương gia
tiền tệ. Như vậy, các thương gia tiền tệ đã thực hiện công việc chi trả hộ cho khách
hàng.
Trong quá trình nhận gửi và chi trả hộ, một số tiền lớn luôn đọng lại ở chỗ các
thương gia tiền tệ. Điều này đã làm nảy sinh các khả năng có thể sử dụng số tiền này.
Trong khi đó, các thương gia khi hoạt động kinh doanh luôn có nhu cầu mua hàng
đột xuất đồng thời cũng cần những khoản đầu tư lớn cho phát triển. Từ đó các
thương gia tiền tệ bắt đầu hoạt động cho vay đối với nền kinh tế.
Khi cho vay, các thương gia tiền tệ đã thu được lãi nhiều hơn là lệ phí nhận
gửi. Để tăng thêm lợi nhuận qua lãi cho vay, các thương gia tiền tệ đã bỏ không thu
phí tiền gửi, hơn nữa còn trả lãi cho tiền gửi với mục đích thu hút được số lượng lớn
tiền gửi để có thể tăng các hoạt động cho vay. Lúc này các thương gia tiền tệ được
gọi là các nhà ngân hàng, chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng. Theo
thời gian các tổ chức ngân hàng đã phát triển nhanh chóng và mở rộng thêm nhiều
nghiệp vụ mới như: chiết khấu, bảo lãnh, tư vấn, uỷ thác, đầu tư, mua bán chứng
khoán,...
Dựa vào tính chất, mục đích, đối tượng hoạt động của các NHTM chúng ta có
một định nghĩa về NHTM như sau:
“ NHTM là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, chiết khấu, đồng thời thực hiện các
nghiệp vụ thanh toán, tư vấn, môi giới và một số dịch vụ khác cho khách hàng ”
1.1.2 Vai trò, chức năng
1.1.2.1 Vai trò
- Trung gian tàI chính: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình,
thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần kinh tế khác
để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác.
- Thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng
hoá và dịch vụ( như bằng cách phát hành và bù trù séc, cung cấp mạng lưới thanh
toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền đúc).
- Bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh
toán( chẳng hạn phát hành thư tín dụng).
- Đại lý: Thay mặt khách hàng quản lí và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc
chuộc lại chứng khoán ( thường được thực hiện tại phòng uỷ thác).
- Thực hiện chính sách của NN: Thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ,
góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội.
1.1.2.2 Chức năng
- Trung gian tàI chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi dự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế, thứ nhất là các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu cho
tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn;
thứ hai là những cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại
của họ lớn hơn chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự
tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên là hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất
yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi.
Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm.
Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong
một khoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng.
Tuy nhiên quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do không phù hợp về quy mô,
thời gian, không gian...Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện
nảy sinh trung gian tài chính. Do chuyên môn hoá mà trung gian tài chính có thể
giảm chi phí giao dịch xuống, từ đó mà làm tăng thu nhập của người tiết kiệm, đồng
thời giảm chi phí cho người vay tiền xuống. Trung gian tài chính đã tập hợp những
người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của tín dụng
trực tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian tài chính sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu
rủi ro và sử dụng cá kĩ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí
giao dịch.
Hầu hết các lí thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của ngân hàng bằng
cách chỉ ra sự không hoàn hảo trong hệ thống tài chính. Chẳng hạn các khoản tín
dụng và chứng khoán không thể chia nhỏ để mọi người có thể mua. Ngân hàng cung
cấp một dịch vụ có giá trị trong việc chia nhỏ chứng khoán đó thành các chứng
khoán nhỏ hơn phục vụ cho hàng triệu người. Một đóng góp khác của ngân hàng là
họ sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các
chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền. Thực tế các ngân hàng tham gia vào kinh
doanh rủi ro. Ngân hàng cũng thoả mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Một lí do nữa để chức năng này phát triển là khả năng thẩm định thông tin, do khắc
phục được yếu tố thông tin không cân xứng, ngân hàng có thể thẩm định được khách
hàng của mình một cách tốt nhất, vì vậy mà giảm được rủi ro trong tín dụng.
- Tạo phương tiện thanh toán
Tiền có một chức năng quan trọng là phương tiên thanh toán. Các ngân hàng
đã không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện thanh
toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ do ngân hàng phát
hành với ưu điểm nhất định đã nhanh chóng trở thành phương tiện thanh toán rộng
rãi được nhiều người chấp nhận. Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã tạo ra phương
tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ.
Với nhiều ưu thế dần dần giấy nợ do ngân hàng phát hành đã thay thế tiền kim loại
làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy.
Việc in tiền giấy mang lại lợi nhuận lớn, đồng thời với nhu cầu về một đồng
tiền duy nhất của quốc gia đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền in tiền giấy
vào một tổ chức nhất định hoặc là Ngân hàng Trung ương hoặc là Bộ Tài chính. Từ
đó chấm dứt việc các ngân hàng thương mại phát hành các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhân
thấy nếu họ có số dư trên tài khoản tièn gửi thanh toán ở ngân hàng, họ có thể chi
trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư
trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng
nó để mua hàng hoá và dịch vụ, như vậy là ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh
toán.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các
khoản tiền gửi được mở rộng tư ngân hàng này sang ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng tiền vay để thanh toán thí sẽ tạo nên
khoản thu của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản
cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự
trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi gấp bội
thông qua hoạt động cho vay.
- Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiên thanh toán giá trị hàng hoá và
dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ
nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ...cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các
quỹ và cung cấp các tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện
thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các
trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao
khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán
hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi.
Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong
thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân
hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng
hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến thanh toán qua ngân hàng trở thành
trung tâm thanh toán quan trong và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế
toàn cầu.
1.1.3 Các nghiệp vụ chính
1.1.3.1 Huy động vốn
Đây là một nghiệp vụ quan trọng của NHTM và chính là thực hiện chức năng
tạo tiền, chức năng này được thực hiện thông qua hoạt đông tín dụng và đầu tư của
các NHTM trong mối quan hệ với hệ thống liên hàng, và đầu tư của các NHTM nhằm
tạo tiền mang ý nghĩa kinh tế to lớn.
Hệ thống tín dụng năng động là điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế
theo một hệ số tăng trưởng vững chắc, nếu tín dụng ngân hàng không tạo được tiền
đề để mở ra những điều kiện thuận lợi cho qúa trình sản xuất và những hoạt động
của nó thì trong nhiều trường hợp sản xuất không thực hiện được. Nguồn tích luỹ từ
lợi nhuận và các nguồn khác sẽ bị hạn chế. Hơn nữa các đơn vị sản xuất có thể phải
gánh chịu tình trạng ứ đọng vốn luân chuyển không được sử dụng trong quá trình
sản xuất. Một thực tế như thế có thể không mang lại hiệu quả trong khi xuất hiện
tình trạng vốn không được sử dụng vào giai đoạn cụ thể của quá trình sản xuất.
Nhưng trong các thời kỳ cao điểm mang tính chất thời vụ và các hoạt động doanh
nghiệp lại không trả vốn để thúc đẩy nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Sự ra đời của NHTM đã tạo ra bước phát triển về chất trong quá trình kinh
doanh tiền tệ và hoạt động bằng cách “ đi vay để cho vay”. Khoản chênh lệch lãi suất
sau khi đã trừ đi những chi phí khác là lợi nhuận của ngân hàng. NHTM có thể huy
động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và các
cá nhân với các mức lãi suất khác nhau như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ
hạn, tiền gửi tiết kiệm. Ngoài ra khi cần thêm vốn ngân hàng có thể huy động thêm
bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi hay vay vốn của Ngân hàng Trung ương
hoặc các tổ chức tín dụng khác.
1.1.3.2 Cho vay
- Cho vay thương mại
Ngay ở thời kì đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là
cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân
hàng để lấy tiền trước). Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng
(là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh
doanh.
- Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá
nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ
tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho
vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại
hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
- Tài trợ cho dự án
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày càng
trở nên năng động trong việc tài trợ trung, dài hạn: tài trợ xây dựng nhà máy, phát
triển ngành công nghệ cao. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào bất động
sản.
1.1.3.3 Bảo quản hộ tàI sản
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài sản
khác cho khách hàng trong két (vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két). Ngân hàng
thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan
trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện. Dịch vụ này
phát triển cùng với nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá cho khách,
thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ...
1.1.3.4 Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và
do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong
bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày
càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng
của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay
vốn của tổ chức tín dụng khác...
1.1.3.5 Mua bán, trao đổi ngoại tệ
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại
tệ: mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.
1.1.3.6 Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành
trọng tâm chú ý của các chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách
trong khi thu không đủ, chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay
của ngân hàng. Ngày nay, chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát
các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải
cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của chính phủ và tài trợ cho
chính phủ. Các ngân hàng thường mua trái phiếu chính phủ theo một tỷ lệ nhất định
trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được.
1.1.4 Rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng
Trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất kinh doanh có những sự
cố, những tai hoạ, tai nạn bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra gây thiệt hại về người và tài
sản không thể dự báo trước, những tình huống bất ngờ như vậy gọi là rủi ro. Khi nói
đến rủi ro người ta thường nghĩ đến điều không tốt lành, hoặc một thiệt hại, tổn thất
nào đó về vật chất hữu hình hoặc vô hình bất ngờ mang đến do những nguyên nhân
khách quan hoặc chủ quan gây nên
Như vây- Rủi ro là sự việc xảy ra ngaòi ý muốn chủ quan của con người, đem
lại những hậu quả mà người ta không thể dự doán được
Phần lớn nguồn tiền của ngân hàng là các khoản tiền gửi phải trả khi có yêu
cầu. Quá trình gia tăng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng, giữa các ngân hàng
với các thể chế tài chính khác dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, cùng với quá
trình toàn cầu hoá, khu vực hoá thị trường tài chính, nguồn tiền cuả các NHTM đang
có thay đổi mạnh mẽ. Các nguồn tiền gửi của cá nhân và doanh nghiệp trở lên dễ
dàng di chuyển hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn, tạo thuận lợi cho một ngân hàng
trong việc tìm kiếm các nguồn tiền song lại làm tăng tính kém ổn định của cả hệ
thống.Sau đây là một số loại rủi ro phổ biến:
1.1.4.1 Rủi ro tín dụng
Là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng
vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc trả không đầy đủ vốn và lãi. khi thực hiện
một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản vay đó sẽ bị tổn
thất, tuy nhiên mọi khoản vay luôn hàm chứa rủi ro.
1.1.4.2 Rủi ro hối đoái
Là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu khi tỉ giá thay đổi
vượt quá thay đổi mà ngân hàng đã dự tính. Trong cơ chế thị trường thì điều này là
luôn xảy ra, nó có thể tạo ra thu nhập hoặc tổn thất cho ngân hàng, nhưng có những
thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
Các tỷ giá và các mức lãi suất giữa các quốc gia có mối tương quan không
chặt chẽ với nhau. Do đó, NH có thể tận dụng đặc điểm này bằng cách đa dạng hoá
cơ cấu tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ nhằm giản rủi ro hối đoái.
1.1.4.3 Rủi ro thanh khoản
Là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế
vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến làm gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu
thanh khoản hoặc làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán.
Ngày nay, thị trường tiền tệ phát triển với nhiều công cụ phong phú, đa dạng,
tiện dụng và hiệu quả. Chính vì vậy, nhiều Nh cho rằng, có thể đi vay một lượng vốn
lớn bất cứ thời điểm nào để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần thiết. Do đó, đã
coi nhẹ việc duy trì một lượng tài sản có thanh khoản nhằm đáp ứng nhu cầu thanh
khoản thường xuyên của NH. Nhà quản lý cần lưu ý rằng, NH có thể bị đóng cửa nếu
như không tăng đủ và kịp thời nguồn thanh khoản cho dù khả năng thanh toán cuối
cùng của NH là tốt. Điều này hàm ý, không thể thờ ơ với rủi ro thanh khoản trong
kinh doanh NH.
1.1.4.4 Rủi ro lãi suất
Là khả năng xảy ra những tổn thất khi lãi suất thay đổi ngoài dự kiến. Lãi
suất ngân hàng thường xuyên biến động với các mức độ khác nhau có thể dẫn đến
tổn thất. Nếu NH duy trì tài sản có và tài sản nợ với những kỳ hạn không cân xứng
nhau, thì phải chịu rủi ro lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản có và tài sản nợ. Rủi ro
lãi suất gắn liền với rủi ro tín dụng.
Việc làm cho các kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ cân xứng với nhau là giải
pháp tốt nhất để phòng ngừa rủi ro lãi suất. Tuy nhiên, nó lại đối lập với chức năng
chuyển hoá tài sản của NH. Nghĩa là, tại cùng một thời điểm, NH không thể vừa là
người trực tiếp phòng ngừa rủi ro cho bảng cân đối tài sản của mình, vừa là người
chuyển hoá tài sản. Khi đó, giảm được rủi ro lãi suất đồng nghĩa với việc giảm khả
năng sinh lời của NH, bởi lẽ nó làm cho các cơ hội đầu tư vào những lĩnh vực có rủi
ro song khả năng sinh lời lớn.
1.1.4.5 Rủi ro hoạt động ngoai bảng
Một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ trong hoạt động của các NH hiện đại
là việc mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng
Các hoạt động ngoại bảng có ảnh hưởng đến trạng tháI tương lai của bảng
cân đối tài sản nội bảng, bởi vì các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những tài
sản có và tài sản nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng
Xuất phát từ tính chất của cá hoạt động ngoại bảng là nh thu được phí trong
khi không phảI sử dụng đến vốn kinh doanh cho nên đã khuyến khích phát triển các
hoạt động ngoại bảng. Tuy nhiên, những hoạt động này cũng tiềm ẩn rủi ro, những
trường hợp thua lỗ nghiêm trọng trong hoạt động ngoại bảng đã trở thành nguyên
nhân chính khiến cho NH có thể đI đến phá sản.
1.1.4.6 Rủi ro công nghệ và hoạt động
Đổi mới công nghệ nh đã trở thành chủ đề được các ngân hàng quan tâm hơn
bao giờ hết trong những năm gần đây. Trong những năm 80 và 90 các ngân hàng đã
tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động bằng những khoản đầu tư khổng lồ vào lĩnh
vực như vi tính, thông tin, cơ sở hạ tầng, công nghệ. Mục tiêu phát triển công nghệ
ngân hàng là nhằm giảm chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm.
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công nghệ
không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở rộng quy mô
hoạt động. Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậu quả là khả năng cạnh tranh của
ngân hàng giảm xuống đáng kể và nguyên nhân của sự phá sản ngân hàng trong
tương lai. Ngược lại, lợi ích từ việc đầu tư công nghệ tạo cho ngân hàng một sức bật
quan trọng trong cuộc cạnh tranh dữ dội trên thương trường và đồng thời cho phép
các ngân hàng phát triển các sản phẩm mới, tiên tiến, hiện đại, giúp cho ngân hàng
tồn tại và phát triển bền vững.
Rủi ro hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể phát
sinh bất cứ khi nào nếu hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc là khi hệ thống hỗ trợ
bên trong ngừng hoạt động.
1.1.4.7 Rủi ro quốc gia và các rủi ro khác
- Rủi ro quốc gia: Một trong những đảm bảo cho việc thu hồi được vốn gốc và lãI
khi đầu tư ở nước ngoài là việc phải kiểm soát được trạng thái cung cầu vốn và tín
dụng trong tương lai của quốc gia mà ngân hàng có ý định đầu tư. Ngay cả trong
trường hợp công ty có khả năng sẵn sàng hoàn trả vốn vay nhưng cũng có thể thực
hiên được, bởi vì, chính phủ nước này cấm hoặc hạn chế việc thanh toán cho nước
ngoài do dự trữ ngoại hối hạn hẹp hoặc vì lý do chính trị
- Những rủi ro khác: thay đổi thuế đột ngột, ảnh hưởng của chiến tranh làm cho
các điều kiện trên thị trường tài chính thay đổi không thể dụư tính trước được, sự
sụp đổ đột ngột của thị trường chứng khoán, trộm cắp, lừa đảo
- Các rủi ro bắt nguồn từ yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát gia tăng, sự biến động
giá cả hàng hoá, thất nghiệp đều có ảnh hưởng đến sự biến động lãI suất, bộc lộ rủi
ro tín dụng và rủi ro thanh khoản.
1.2 Tín dụng Ngân hàng
1.2.1 Khái niệm
“ Tín dụng ngân hàng phản ánh quan hệ vay mượn vốn tiền tệ giữa các ngân
hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế ”

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM