Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Chương 1 Lý luận chung về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Chương 1 Lý luận chung về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương
thức thanh toán tín dụng chứng từ.
1.1. Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ.
Phương thức tín dụng chứng từ (L/C): là phương thức thanh toán quốc tế
được sử dụng rộng rãi nhất và ưu việt nhất trong thanh toán quốc tế, chiếm
khoảng hơn 70% giá trị thanh toán. Lý do chính ở đây là nó đảm bảo quyền lợi
một cách tương đối cho cả người mua và người bán.
1.1.1. Khái niệm về thanh toán theo phương thức tín dụng
chứng từ.
*Khái niệm.
Thư tín dụng là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người
xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp
với các điều kiện và điều khoản của L/C.
Do có cách tuỳ ý về cách gọi nên trong thực tế ta thường gặp nhiều thuật
ngữ khác nhau được dùng để chỉ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
bằng tiếng Anh và tiếng Việt.
Bằng tiếng Anh: Letter of Credit (L/C) hoặc Documentary Credit
(D/C)
Bằng tiếng Việt: Tín dụng thư, Thư tín dụng, Tín dụng chứng từ,
hoặc sử dụng các từ viết tắt như L/C, D/C.
Cho dù với cách gọi như thế nào thì nó vẫn phải tuân thủ điều 2 của UCP
600. Và từ khái niệm trên ta thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được
áp dụng trong cả nội thương và ngoại thương. Trong ngoại thương, theo yêu cầu
của nhà nhập khẩu một ngân hàng phát hành một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng.
Nội dung chủ yếu của L/C là sự cam kết của ngân hàng phát hành, theo đó ngân
hàng phát hành sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu khi nhà xuất khẩu tuân thủ những
điều quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để được thanh
toán.
Thực chất, L/C là một cam kết bằng văn bản của một ngân hàng phát
hành được phát hành theo chỉ thị của người mua cho người bán hưởng và có thể
thanh toán theo phương thức trả ngay (at sight) hay trả chậm (usance payment)
Thuật ngữ "Tín dụng - Credit" ở đây được dùng theo nghĩa rộng tức là
"Tín nhiệm", chứ không phải để chỉ "một khoản cho vay" theo nghĩa thông
thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người nhập khẩu ký
quỹ 100% giá trị của L/C, thực chất ngân hàng phát hành không cấp bất cứ một
khoản tín dụng nào cho người mơ L/C mà chỉ cho người nhập khẩu vay sự tín
nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu không hề ký quỹ thì
một khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi ngân hàng phát hành tiến hành trả
tiền cho nhà xuất khẩu và ghi nợ nhà nhập khẩu. Như vậy, thuật ngữ tín dụng
trong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể hiện một khoản "Tín dụng trừu
tượng" bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho nhà nhập khẩu bằng vào uy
tín của ngân hàng cao hơn nhà nhập khẩu.
Qua phân tích cho thấy, trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng
không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ mà còn:
- Là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng
cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho nhà xuất khẩu nhận được
khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng.
- Là người đảm bảo cho nhà nhập khẩu nhận được số lượng
và chất lượng hàng hoá do bộ chứng từ đại diện và tương
ứng với số tiền mà họ đã bỏ ra.
Nhà nhập khẩu có cơ sở để tin rằng ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi
nhà xuất khẩu giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà xuất khẩu phải xuất trình
bộ chứng từ gửi hàng. Trong khi đó, nhà nhập khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được
tiền hàng xuất khẩu nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành bộ chứng từ đầy
đủ và phù hợp với quy định của L/C.
Một cách tổng quát, có thể xem L/C là một sự "bảo lãnh thanh toán có
điều kiện" bởi một ngân hàng cho một người thụ hưởng khi người này xuất trình
bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C. Hay nói cách khác, L/C là cam kết
thanh toán hoặc chấp nhận và thanh toán của ngân hàng phát hành đối với
chứng từ xuất trình phù hợp với yêu cầu của L/C.
Trong ngoại thương, người yêu cầu mở L/C là nhà nhập khẩu, còn người
thụ hưởng là nhà xuất khẩu. Như vậy, về bản chất L/C là một bức thư do một
ngân hàng viết ra theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, cam kết trả cho nhà xuất
khẩu một số tiền nhất định, trong một thời hạn nhất định với điều kiện là nhà
xuất khẩu phải thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định của L/C.
L/C có tính chất quan trọng, nó được hình thành trên cơ sở của hợp đồng
ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp
đồng này. Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận thì cho dù
nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không
làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan. Điều này hàm ý, khi
nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hệ thống với những quy
định trong L/C thì ngân hàng phát hành phải trả tiền vô điều kiện cho nhà xuất
khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hoá không hoàn toàn đúng như đã ghi trên
chứng từ, nếu hàng hoá không ghi đúng như trong chứng từ thì 2 bên tự giải
quyết với nhau không liên quan đến ngân hàng phát hành. Chỉ trong trường hợp
chứng từ không phù hợp với các điều khoản của L/C mà ngân hàng vẫn thanh
toán thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và nhà nhập khẩu có quyền
từ chối thanh toán cho ngân hàng phát hành.
Như vậy trong giao dịch L/C tất cả các bên tham gia chỉ căn cứ vào
chứng từ mà không căn cứ vào hàng hoá. Trong thực tế một số nhà nhập khẩu
có thể sử dụng L/C như là một công cụ dự phòng để cụ thể hàng hoá, chi tiết
hàng hoá hoặc bổ sung những điều khoản mà hợp đồng ngoại thương còn sót,
ngoài ra còn để đính chính, sửa chữa những nội dung bất lợi trong hợp đồng
ngoại thương đã ký. Nhưng việc này chỉ tránh được việc phải mở một L/C cho
nhà xuất khẩu hưởng còn nhà xuất khẩu có thể kiện nhà nhập khẩu ra toà trên cơ
sở các điều khoản của hợp đồng thương mại.
Ngân hàng thông báo/ Ngân hàng trả tiền Ngân hàng phát hành
3. Hàng hoá
1. Đơn xin mở L/C
6. Bộ C. Từ
2. L/C
5. Bộ c. từ +hối phiếu+ thư đòi tiền
8. Thanh toán
2. L/C
4. Bộ c.từ + hối phiếu
1.1.2. Phân loại L/C.
1.1.2.1. Theo công dụng của L/C.
* L/C có thể huỷ ngang (Revocable letter of credit): là loại L/C có
thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho người hưởng lợi. Nó
chứa đựng những rủi ro đối với người bán vì việc sửa đổi hoặc huỷ L/C có thể
xảy ra khi hàng hoá đang trên đường vận chuyển hoặc trước khi việc thanh toán
được thực hiện. L/c huỷ ngang tạo cho người mua tối đa sự chủ động vì nó có
thể được sửa đổi hoặc huỷ ngang mà không cần thông báo cho người bán. Vì
vậy L/C huỷ ngang chỉ có thể sử dụng trong các trường hợp:
o Việc giao hàng thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con
o Giữa người mua và người bán có quan hệ rất tốt.
* L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable letter of credit): Là loại
L/C sau khi đã được ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ
trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu không có sự thoả thuận của các bên tham
gia. L/C không huỷ ngang đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia, nên nó
được sử dụng rộng rãi.
Quy trình nghiệp vụ L/C không thể huỷ ngang

Hợp đồng ngoại thương
7. T.
toán
9. T
toán
Nhà nhập
khẩu
Nhà Xuất
khẩu
* Thư tín dụng xác nhận (confirming L/C): là loại thư tín dụng không thể huỷ
ngang, được một ngân hàng khác xác nhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết
thanh toán của ngân hàng phát hành L/C còn có thêm sự cam kết của ngân hàng
xác nhận. Ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo hoặc là một ngân
hàng thứ 3 tuỳ theo thoả thuận giữa người mua, người bán và ngân hàng phát
hành L/C. Trong thực tế việc yêu cầu xác nhận L/C không xuất phát từ mong
muốn của người mở L/C mà xuất phát từ yêu cầu của người hưởng lợi khi họ
nghi ngờ khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng phát hành L/C hoặc họ lo
lắng về tình hình an ninh chính trị của nước người nhập khẩu. Khi ngân hàng
xác nhận đã thanh toán cho người hưởng theo đúng quy định của L/C nó có
quyền truy đòi số tiền thanh toán từ ngân hàng phát hành. Để đảm bảo an toàn,
ngân hàng xác nhận có thể yêy cầu ngân hàng phát hành ký quỹ theo một tỷ lệ
nhất định. Ngược lại, để đảm bảo quyền lợi của mình, ngân hàng phát hành sẽ
thoả thuận với khách hàng để chọn ngân hàng đại lý của mình ở nước người
xuất khẩu làm ngân hàng xác nhận, tránh những rủi ro về vốn ký quỹ tại ngân
hàng xác nhận. L/C này, người hưởng lợi được đảm bảo chắc chắn của ngân
hàng xác nhận, cộng thêm vào sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C, người
hưởng lợi sẽ được ngân hàng các nhận thanh toán miễn truy đòi nếu xuất trình
chứng từ phù hợp, ngay cả trong trường hợp ngân hàng phát hành không thanh
toán được, người thụ hưởng cũng tránh được cả những rủi ro về ngoại hối hay
rủi ro quốc gia khác của ngân hàng phát hành L/C.
Quy trình nghiệp vụ của L/C xác nhận.
Hợp đồng ngoại thương
Nhà nhập
khẩu
Nhà xuất
khẩu
1. Đơn xin mở L/C
7.Bộ C.Từ
2. L/C
6. Bộ c. từ+hối phiếu
9. Thanh toán
3.L/C đã được xác nhận
5.Bộ c.từ + hối phiếu
4. Hàng hoá
1.1.2.2. Căn cứ vào thời gian thanh toán của L/C.
* L/C trả ngay (L/C payable by draff at sight): là loại L/C không thể huỷ
ngang và phải thanh toán ngay khi hối phiếu được xuất trình. Rủi ro trong loại
L/C này là thường phải thanh toán trước khi nhận hàng, vì hối phiếu và chứng
từ thường đến trước hàng hoá cập cảng.
* L/C trả chậm (L/C available by deffered Payment): là loại L/C trong đó
ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho người hưởng lợi số tiền của L/C
một số ngày sau khi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao
hàng.
Loại L/C này có 2 dạng:
- L/C có kỳ hạn: là loại L/C không huỷ ngang trong đó ngân
hàng phát hành sẽ chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn do người
hưởng lợi ký phát khi họ xuất trình được bộ chứng từ hoàn
hảo. Những hối phiếu này nhà xuất khẩu có thể giữ cho đến
thời hạn thanh toán và lúc ấy trình nộp ngân hàng để nhận
tiền hoặc bán, chuyển nhượng trên thị trường, các ngân
10.
Thanh
toán
Ngân hàng thông báo
xác nhận
Ngân hàng
phát hành
8.
Thanh
toán
1. Đơn xin mở L/C
2. L/C
3.L/C
4. Hàng hóa
5. Bộ c.từ + hối phiếu
6a.Bộ c.từ+hphiếu
7a. Bộ c.từ
7b.Chấp nhận thanh toán
6b. HF được c/n
hàng có thể mua hối phiếu chấp nhận thanh toán cho chính
mình.
- L/C trả dần: là loại L/C không thể huỷ ngang, trong đó quy
định cho người hưởng sẽ được thanh toán dần toàn bộ số
tiền của L/C theo những thời hạn đã quy định rõ trong L/C
đó. Khác với loại L/C có kỳ hạn, loại L/C này không đòi
hỏi hối phiếu do người bán ký phát. Do vậy, người bán
không có quyền lợi pháp lý đối với hối phiếu và quyền truy
đòi đối với hối phiếu đó. Quy trình này chỉ khác với quy
trình nghiệp vụ L/C không huỷ ngang ở chỗ việc thanh
toán được thực hiện theo từng kỳ hạn nhất định.
Quy trình nghiệp vụ của L/C có kỳ hạn.
Giai đoạn 1: Thực hiện L/C trả chậm.
Giai đoạn 2: Khi hối phiếu đáo hạn, chuyển sang nhờ thu hối phiếu đã được
chấp nhận.
Hợp đồng ngoại
thương
Nhà nhập
khẩu
6b.HF
được
c/n
Ngân hàng phát
hành
Ngân hàng thông
báo
Nhà xuất
khẩu
Nhà nhập
khẩu
Nhà xuất
khẩu
* L/C chấp nhận (L/C available by acceptance): là loại L/C trong đó ngân
hàng phát hành L/C thực hiện chấp nhận hối phiếu hoặc chỉ định bên thứ 3 chấp
nhận hối phiếu, với điều kiện người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy
định của L/C. Ngân hàng phát hành L/c trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải
thanh toán hối phiếu đã chấp nhận, khi các điều kiện của L/C đã được đáp ứng
đầy đủ.
1.1.2.3. Trên giác độ quan hệ đối tác.
* L/C trực tiếp (Straight L/C): là loại L/C trong đó nghĩa vụ thanh toán
của ngân hàng phát hành L/C chỉ giới hạn duy nhất đối với người thụ hưởng của
L/C. Dạng L/C này thường yêu cầu người thụ hưởng xuất trình chứng từ trực
tiếp cho ngân hàng phát hành L/C hết hạn hiệu lực tại thời điểm giao dịch của
ngân hàng)
* L/C cho phép chiết khấu (L/C available by Negotiation): là loại L/C
trong đó ngân hàng phát hành L/C uỷ quyền cho một ngân hàng nhất định
(trường hợp hạn chế - Restricted Negotiation) hoặc cho phép bất kỳ ngân hàng
nào (trường hợp không hạn chế - Freely Negotiation) mua lại bộ chứng từ hoàn
hảo do người thụ hưởng xuất trình. L/C chiết khấu có thể được xác nhận hoặc
không được xác nhận. Thông thường ngân hàng được uỷ quyền sẽ chỉ mua
chứng từ với điều kiện boả lưu, nghĩa là ngân hàng chiết khấu giành quyền truy
đòi lại từ người hưởng lợi một số tiền đã chiết khấu giành quyền truy đòi từ
người hưởng lợi số tiền đã chiết khấu nếu không thu được từ ngân hàng phát
hành L/C.
3.
thanh
toán
4. Ghi nợ Tk
nhà nhập
khẩu
3. Thanh toán
2.Hp đã c/n+điện đòi
tiền
1.Hp
được
c/n
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
thông báo
1.1.2.4. Một số loại L/C đặc biệt.
* L/C có điều khoản đỏ (Red clause L/C): là loại L/C trong đó có một
điều khoản ghi rõ điều khoản đặc biệt ngân hàng phát hành sẽ chuyển tiền hoặc
uỷ quyền cho một ngân hàng thông báo (hoặc ngân hàng thông báo, ngân hàng
xác nhận, ngân hàng chiết khấu) để thực hiện ứng trước cho người hưởng lợi
một số tiền nhất định trước khi giao hàng, thông thường số tiền ứng trước tính
theo tỷ lệ % so với giá trị L/C và phải xuất trình chứng từ tại ngân hàng mà họ
đã nhận tiền ứng trước và phải bồi hoàn lại số tiền này nếu không xuất trình đủ
chứng từ hợp lệ trong thời hạn quy định. Số tiền ứng trước được thực hiện theo
yêu cầu của người mở L/C. Rủi ro trong thanh toán L/C điều khoản đỏ là tiền
ứng trước có thể bị sử dụng sai mục đích, chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình
có thể không phù hợp hoặc người chứng khoán không hoàn thành được việc sản
xuất hàng hoá mà cũng không hoàn lại được tiền ứng trước.
Để tăng thêm độ an toàn cho các khoản tiền ứng trước các bên có thể
thoả thuận về việc phát hành một L/C điều khoản đỏ có bảo đảm, còn gọi là tín
dụng điều khoản xanh. Nghĩa là bên cạnh các chứng từ như bình thường, người
hưởng lợi còn phải xuất trình thêm thư bảo lãnh của một ngân hàng hoặc giấy
phép chứng minh việc hàng tập kết chuẩn bị giao cho mua. Điều khoản ứng
trước này phải được người yêu cầu mở L/C quy định cụ thể và chịu trách nhiệm
đối với ngân hàng phát hành L/C về điều khoản cụ thể.
Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C điều khoản đỏ.
* L/C tuần hoàn (Revolving L/C): là loại L/C không thể huỷ ngang mà
sau khi sử dụng xong hoặc sau khi hết hạn hiệu lực L/C thì sẽ tự động khôi phục
lại giá trị như cũ mà không cần mở L/C mới. Quy trình giống như L/C không
huỷ ngang, sau khi thực hiện bước 9 thì quy trình được lặp lại từ bước thứ 3 cho
tới khi hết tổng giá trị L/C. Loại L/C tuần hoàn thường được sử dụng trong
thanh toán với các bạn hàng quen biết, với số lượng hàng, chủng loại hàng mua
ổn định trong một thời gian dài.
L/C tuần hoàn có thể khống chế việc thực hiện theo 2 cách
- Theo thời gian: Là khống chế thời hạn hiệu lực của L/C trong mỗi lần
tuần hoàn và tổng giá trị L/C. Theo cách này có thể là L/C tích luỹ hoặc không
tích luỹ. L/C tuần hoàn không tích luỹ không cho phép cộng số tiền của L/C
trước để tăng giá trị của L/C sau nếu L/C trước chưa sử dụng hết. L/C tuần
Nhà nhập
khẩu
8. Thanh toán
9.
Thanh
toán
Hợp đồng ngoại thương
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng thông
báo, ngân hàng trả
tiền
Nhà xuất
khẩu
hoàn tích luỹ cho phép cộng dồn số tiền trước nếu các L/C trước chưa sử dụng
hết.
- Theo giá trị: L/C tuần hoàn theo giá trị là L/C được phép khôi phục lại
giá trị ngay khi giá trị cũ đã được sử dụng. Loại L/C này ít được sử dụng vì nó
tạo ra một cam kết vô hạn của ngân hàng phát hành. Do đó, khi phát dinh nhu
cầu thanh toán L/C tuần hoàn, các ngân hàng thường phát hành L/C khống chế
theo thời gian hoặc khống chế số tiền vừa khống chế theo thời gian.
Có 3 cách tuần hoàn: Tự động, không tự động và hạn chế.
- Tuần hoàn tự động: L/C tiếp sau tự động có giá trị, không
cần thông báo của ngân hàng phát hành L/C.
- Tuần hoàn không tự động: Chỉ khi nào ngân hàng phát
hành L/C thông báo cho người bán thì L/C mới có giá trị
hiệu lực.
- Tuần hoàn hạn chế: nếu sau vài ngày kể từ ngày L/C cũ hết
hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết mà không có ý kiến gì
của ngân hàng phát hành thì L/C kế tiếp có giá trị hiệu lực.
Rủi ro trong thanh toán L/C tuần hoàn là với khoàng thời gian dài như
vậy thì tình hình tài chính của người nhập khẩu có thể xấu đi hoặc có những
biến động trên thị trường tài chính của người nhập khẩu, biến động trên thị
trường tiêu thụ của người nhập khẩu, hàng hoá bị ứ đọng nhưng vẫn phải nhập
tiếp hàng, không huỷ được L/C. Rủi ro của nhà nhập khẩu sẽ đem đến rủi ro cho
ngân hàng phát hành vì vậy loại L/C này chỉ được sử dụng trong việc mua bán
những hàng hoá với số lượng đều đặn và nhiều lần trong năm. Để hạn chế rủi
ro, ngân hàng phát hành nên chủ động chỉ định L/C tuần hoàn hạn chế hoặc
không tự động hơn là tuần hoàn tự động.
* L/C có thể chuyển nhượng(transferable L/C): là một L/C mà người
hưởng đầu tiên có thể yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển nhượng toàn bộ
hoặc một phần giá trị L/C gốc cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ 2. Mục
đích của loại L/C này nhằm giúp cho nhà xuất khẩu (thực chất là đối tác trung
gian) tiến hành dịch vụ xuất khẩu mà không cần đến vốn của mình. Trong L/C
chuyển nhượng, người hưởng lợi thứ nhất không tự động cung cấp được hàng
hoá và người mua cuối cùng, L/C chỉ được chuyển nhượng một lần. Các bên
tham gia chuyển nhượng gồm:
- Nhà nhập khẩu.
- Ngân hàng phát hành.
- Nhà xuất khẩu (người hưởng lợi thứ nhất)
- Ngân hàng thông báo/ chuyển nhượng/ ngân hàng chấp
nhận hoặc chiết khấu.
- Người cung cấp/ người hưởng lợi thứ 2.
L/C chuyển nhượng thường được sử dụng khi người hưởng lợi thứ nhất
là đại lý cho nhà nhập khẩu, khi đó họ không cần phải giữ bí mật về người cung
cấp hàng hoá, còn trong trường hợp người hưởng lợi chỉ là người trung gian
cung cấp hàng hoá cho nhà nhập khẩu thì họ rất muốn giữ bí mật về người cung
cấp. Trong nghiệp vụ L/C chuyển nhượng thì người hưởng lợi thứ 2 chịu nhiều
rủi ro hơn cả. Họ chỉ nhận được tiền khi người hưởng lợi thứ nhất được người
mua thanh toán. Vì vậy họ gánh chịu rủi ro không những về người mua và ngân
hàng phát hành mà còn phải gánh chịu cả rủi ro về người hưởng lợi thứ nhất và
ngân hàng chuyển nhượng.
Quy trình nghiệp vụ của L/C chuyển nhượng
- Trường hợp thứ nhất: người trung gian là đại lý cho người
cung cấp
5. hàng hoá
Ngân hàng thông báo/ ngân hàng chuyển nhượng
Ngân hàng phát hành

Trường hợp thứ 2: người trung gian không có hoặc không đủ hàng hoá để
cung cấp cho nhà nhập khẩu.
Người cung
cấp
Người
trung
gian
Nhà nhập
khẩu
11.
Thanh
toán
9.
Thanh
toán
8. Bộ
chứng
từ
6. Bộ c. từ+
hối phiếu
3.Yêu
cầu
chuyển
nhượng
L/C
2.
L/C
2. L/C
1.
Đơn
xin
mở
L/C
10. Thanh toán
7. C.từ + hối phiếu
4. L/C đã c. nhượng
5. hàng hoá
12b.
Thanh
toán
12a.
Thanh
toán
11.
Thanh
toán
10. Thanh
toán
9.
C.từ
6. bộ c.từ +
hối phiếu
4. L/C đã được chuyển
nhượng
7.
H.
đơ
n
tha
y
thế
3.
Yc
C.nh
g
L/C
2.
L/C
8.C.từ +
hphiếu
2. L/C
1.
Đơn
xin
mở
L/C
Ngân hàng
phát hành
Ngân hàng
thông báo/
chuyển
nhượng
Người trung
gian
Nhà nhập
khẩu
Người cung
cấp