Xem bản đẹp trên 123doc.vn

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM -CHỐNG ĐUY RINH (ĐIIH RING)- CỦA F.ENGHEN

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH (ĐIIH RING)” CỦA
F.ENGHEN (Ông Đuy Rinh làm đảo lộn khoa học)
I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của tác phẩm.
- Cuối những năm 70-80 của thế kỷ XIX, tư tưởng tiểu tư sản cơ hội của phái
Lát Xan chi phối mạnh mẽ phong trào công nhân Đức. Người có ảnh hưởng lớn
không chỉ với phong trào công nhân mà ngay cả với những người cộng sản Đức là
Đuy Rinh.
- Đuy Rinh là phó giáo sư vật lý của trường đại học Béclinh, nhưng có nhiều
tham vọng về triết học. Ông ta đã viết “Giáo trình triết học với tư cách là một thế
giới quan khoa học chặt chẽ và sự hình thành cuộc sống” năm 1875, “Giáo trình
kinh tế-chính trị và kinh tế -xã hội gồm các điểm chủ yếu của chính sách tài chính”
năm 1876, “Lịch sử phê phán của khoa kinh tế-chính trị và của chủ nghĩa xã hội “
tháng 9 năm 1875... Ông ta đã nêu ra “triết học hiện thực” và coi triết học của mình
là tuyệt đích cuối cùng. Với lối viết văn kết hợp các kiến thức khoa học tự nhiên
nên các tác phẩm của ông ta rất có sức thuyết phục. Thậm chí ngay cả BêBen - một
lãnh tụ của đảng cộng sản - cũng đã ca ngợi và coi Đuy Rinh là “người cộng sản
mới”.
- Được đồng chí và bè bạn của mình biên thư thông báo, thấy được tính độc
hại của học thuyết Đuy Rinh, C.Mac và F.Enghen quyết định chống lại Đuy Rinh.
Lúc đầu, hai ông giới hạn trong những nhận xét phê phán cá biệt đối với Đuy Rinh
thông qua một số bài báo, sau đó thì tiến hành phê phán một cách toàn diện.
- Tháng 5 năm 1876, F.Enghen đã vạch ra đề cương của cuốn sách. Tháng
1/1877 những phần đầu của cuốn sách đã được đăng. Tháng 7/1878 toàn bộ tác
phẩm được đăng dưới dạng ba loạt bài báo là ba phần của tác phẩm được in tách
biệt. Đồng thời cũng tháng 7/1878, ở Lépních (Leipzig) lần đầu tiên đã in toàn bộ
tác phẩm với lời nói đầu của F.Enghen. Lần tái bản thứ ba in năm 1894 được
F.Enghen xem lại và bổ sung. Lần in đầu tác phẩm có tựa đề “Ông Đuy Rinh làm
đảo lộn khoa học”, sau nay đổi lại là “Chống Đuy Rinh”.
- Tác phẩm in lần thứ 5 của nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1984 đã được đối
chiếu với C.Mac và F.Enghen toàn tập - Bản tiếng Nga - Tập 20.
- Theo F.Enghen, trong quá trình biên soạn cuốn sách, C.Mac đã đóng góp
một cách tích cực. Thế giới quan được trình bày trong tác phẩm phần lớn do C.Mac
xác lập và phát triển, F.Enghen chỉ đóng góp một phần rất nhỏ. Trong tác phẩm,
chương X phần II bàn về khoa kinh tế-chính trị là do C.Mac viết.
- Tác phẩm này là sự tổng kết sự phát triển của chủ nghĩa Mác trong ba mươi
năm (1848 - 1878). Nó là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của chủ nghĩa
Mác. Trong tác phẩm này, lần đầu tiên F.Enghen trình bày một cách hoàn chỉnh thế
giới quan mác-xít: Chủ nghĩa duy vật biện chứng; Chủ nghĩa xã hội khoa học; Kinh
tế-chính trị. F.Enghen chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời mà luôn luôn phụ
thuộc lẫn nhau giữa ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. F.Enghen chỉ ra,
chúng tác động liên hệ nhau với tư cách là một hệ thống lý luận, nhưng các bộ phận
cấu thành thì tương đối độc lập, nhưng chỉ hiểu được đúng nó trong mối liên hệ bên
trong giữa chúng với tổng thể.
- F.Enghen đã sử dụng các thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên và kinh
nghiệm đấu tranh của cuộc đấu tranh giai cấp để bảo vệ và phát triển triết học Mác
về những vấn đề cơ bản. Theo F.Enghen, cuốn sách là “một cuốn khái luận có tính
chất bách khoa về các quan niệm của chúng tôi về các vấn đề triết học, khoa học tự
nhiên và lịch sử” (C.Mac - F.Enghen toàn tập - Bản tiếng Nga - Tập 36 - Trang
119).
II. Bố cục của tác phẩm.
Bố cục tác phẩm được giới thiệu ở đây là tái bản lần thứ 5 của Nhà xuất bản
Sự Thật - Hà Nội 1984 và Tác phẩm được in trong C.Mac - F.Enghen tuyển tập -
Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1983 - Tập 5 - Trang 9 đến 462. Tác phẩm này
ngoài các lời tựa ra, nó được kết cấu gồm lời mở đầu và ba phần: Triết học, Kinh tế
chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học.
- Lời tựa F.Enghen viết cho ba lần xuất bản: Tr 13 - 28 (trong tác phẩm in
riêng từ trang 5 - 21)
+ Lời tựa F.Enghen viết 11/06/1878: Tr 13 - 17 ( Tr 5 -9 trong Tác phẩm in
riêng).
+ Lời tựa F.Enghen viết 23 / 09 / 1885: Tr 18 - 27 (9 -20).
+ Lời tựa F.Enghen viết 23 / 05 / 1894: Tr 27 - 28 (20 - 21.
- Lời mở đầu: Gồm hai chương từ Trang 29 - 51 (23 - 52)
+ Chương I: Nhận xét chung Tr 29 - 44 (23 - 44).
+ Chương II: Ông Đuy Rinh hứa những gì Tr 45 - 51 (45 - 52).
- Phần thứ nhất: Triết học.
Phần này gồm 12 chương. Từ Tr 52 - 206 (53 - 241).
+ Chương III: Phân loại chủ nghĩa tiên nghiệm Tr 52 - 62 (55 - 66).
+ Chương IV: Đồ thức luận về vũ trụ Tr 62 - 69 (67 - 75).
+ Chương V: Triết học về tự nhiên. Không gian và thời gian Tr 69 - 83 (76 -
93).
+ Chương VI: Triết học về tự nhiên. Thiên thể học, vật lý học, hoá học Tr 83
- 96 (94 - 110).
+ Chương VII: Triết học về tự nhiên. Giới hữu cơ Tr 96 - 110 (111 - 127).
+ Chương VIII: Triết học về tự nhiên. Hết Tr 110 - 121 (128 - 140).
+ Chương IX: Đạo đức và pháp quyền. Chân lý vĩnh cửu Tr 121 - 137 (141 -
159).
+ Chương X: Đạo đức và pháp quyền. Bình đẳng Tr 137 - 155 (160 - 180).
+ Chương XI: Đạo đức và pháp quyền. Tự do và tất yếu Tr 155 - 170 (181 -
198).
+ Chương XII: Biện chứng. Lượng và Chất Tr 170 - 184 (199 - 215).
+ Chương XIII: Biện chứng. Phủ định cái phủ định Tr 184 - 203 (216 - 237).
+ Chương XIV: Kết luận Tr 203 - 206 (238 - 241).
- Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học gồm 10 chương từ Tr 207 - 360 (243 -
422).
+ Chương I: Đối tượng và phương pháp Tr 207 - 224 (243 - 264).
+ Chương II: Lý luận về bạo lực Tr 224 - 234 (265 - 276).
+ Chương III: Lý luận về bạo lực (tiếp theo) Tr 235 - 247 (277 - 290).
+ Chương IV: Lý luận về bạo lực (Hết) Tr 247 - 262 (291 - 307).
+ Chương V: Lý luận về giá trị Tr 262 - 278 (308 - 326).
+ Chương VI: Lao động giản đơn và lao động phức tạp Tr 279 - 286 (327 -
326).
+ Chương VII: Tư bản và giá trị thặng dư Tr 286 - 299 (336 - 350).
+ Chương VIII: Tư bản và giá trị thặng dư (Hết) Tr 299 - 312 (351 - 366).
+ Chương IX: Những quy luật tự nhiên của kinh tế. Địa tô Tr 312 - 320 (367
- 376).
+ Chương X: Về quyển “Lịch sử phê phán” Tr 320 - 360 (377 - 422).
- Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội gồm 5 chương từ Tr 361 - 462 (423 - 556).
+ Chương I: Lịch sử Tr 361 - 376 (425 - 445 Tiểu luận về).
+ Chương II: Lý luận Tr 376 - 401 (446 - 480 Tiểu luận về).
+ Chương III: Sản xuất Tr 401 - 421 (481 - 504).
+ Chương IV: Phân phối Tr 421 - 443 (505 - 532).
+ Chương V: Nhà nước, Gia đình, Giáo dục. Tr 443 - 462 (533 - 556).
Các trang còn lại trong tác phẩm in riêng từ 557 - 570 là danh mục từ riêng.
III. Nội dung cơ bản về triết học của các chương trong tác phẩm
- Trong lời tựa viết cho lần xuất bản ngày 11 tháng 6 năm 1878 F.Enghen đã
bộc lộ rằng, tác phẩm này ông viết không là kết quả của một thôi thúc nội tâm nào
mà chỉ là một sự đáp lại yêu cầu của nhiều người bạn cùng chiến đấu nhằm chống
lại cái lý luận chủ nghĩa xã hội của Đuy Rinh. F.Enghen đã mất đến một năm mới
quyết định gác những công việc khác để tập trung vào việc phê phán Đuy Rinh. Sở
dĩ phải như vậy, ”vì đây là một thứ quả mà khi người ta đã ngoặm vào thì nuốt cho
kỳ hết. Thêm nữa, không những nó rất chua, mà lại còn rất to. Lý luận xã hội chủ
nghĩa mới này hiện ra như một kết quả thực tiễn cuối cùng của một hệ thống triết
học mới. Vì vậy phải nghiên cứu nó trong mối liên hệ bên trong với hệ thống ấy,
phải theo dõi ông Đuy Rinh trên cái lĩnh vực rộng rãi mà ông ta đã đứng để giải
thích mọi thứ vấn đề, và cả những vấn đề bên ngoài lĩnh vực đó.”
1

Chính trong lời tựa này, F.Enghen đã chỉ ra Đuy Rinh là một trong những
điển hình tiêu biểu nhất cho cái thứ khoa học giả hiệu vô liêm sĩ của nước Đức lúc
bấy giờ. F.Enghen cũng khiêm tốn nói rằng, dù tri thức của ông về vật lý, hoá học
còn nghèo nàn, nhưng vì ông quá hiểu Đuy Rinh, mà cho dù chưa nhìn thấy tác
phẩm “Những định luật cơ bản mới của vật lý học hợp lý” của Đuy Rinh, mà vẫn
khẳng định được rằng “những định luật về vật lý học và hoá học mà ông ta trình
bày trong đó, về trình độ sai lầm và khuôn sáo, thì cũng xứng đáng đặt ngang hàng
với những định luật về kinh tế học, về đồ thức luận vũ trụ, v.v., do ông đã khám
phá ra trước đây và được nghiên cứu trong sách này, và cái đê-nhiệt-kế, khí cụ để
đo những nhiệt kế cực kỳ thấp, do ông Đuy Rinh đã chế tạo ra, sẽ không dùng để
đo những nhiệt độ cao hay thấp, mà chỉ đơn thuần dùng để đo cái kiêu căng ngu dốt
của ông Đuy Rinh mà thôi.”
2

- Trong lời tựa viết cho lần xuất bản ngày 23 tháng 9 năm 1885, F.Enghen
bất ngờ cho việc tái bản tác phẩm của ông, vì nó đã được trích đăng và đăng toàn
bộ thành nhiều bản cho hàng ngàn độc giả. F.Enghen cũng chỉ ra, dưới chủ nghĩa
đế quốc tác phẩm của ông bị cấm và vì vậy nó càng tăng thêm gấp đôi, gấp ba
lượng tiêu thụ sách của ông và khiến cho các tác phẩm của ông được tái bản nhiều
hơn.
F.Enghen khẳng định rằng những quan niệm được trình bày trong sách phần
lớn là do C.Mac xây dựng và phát triển, F.Enghen chỉ dự vào một phần rất nhỏ.
Trong lần tái bản này, tác phẩm hầu như không sửa chữa gì thêm, vì theo F.Enghen
đây là tác phẩm bút chiến mà đối thủ của Người là Đuy Rinh đã không thể sửa
chữa được gì, thì bản thân F.Enghen cũng không cần sửa chữa gì cả. Tuy nhiên, có
chương hai phần ba “Tiểu luận về lý luận” thì có giải thích thêm cho rõ vì nó đã
được sửa và in trong một cuốn sách khác có nhan đề “Chủ nghĩa xã hội phát triển
từ không tưởng đến khoa học”.
Trong lời tựa này, F.Enghen cũng thừa nhận cho đến 1877, chính Moóc-gan
mới là người cung cấp cho chúng ta chìa khoá tìm hiểu về lịch sử nguyên thuỷ nhân
loại. Còn trong phần bàn về lý luận về khoa học tự nhiên “phần này trình bày rất
vụng về, nhiều điểm bây giờ có thể diễn đạt dưới một hình thức rõ ràng và chính
xác hơn”.
3
F.Enghen viết: “Từ khi C.Mac qua đời, thời giờ của tôi đã phải dành cho
nhiều nhiệm vụ cấp bách hơn, và tôi đã phải ngừng việc nghiên cứu trên lĩnh vực
khoa học tự nhiên lại. Bây giờ tôi đành cứ tạm dùng những tài liệu đã ghi trong
cuốn sách này, đợi về sau có dịp nào sẽ tập hợp lại và công bố những điều mà tôi
1 F.Enghen - Chống Đuy Rinh - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội 1976 - Trang 6.
2 S đ d trang 9.
3 S đ d trang 13.
thu hoạch được, có lẽ cùng một lúc với việc công bố những bản thảo toán học rất
quan trọng mà C.Mac đã để lại cũng nên”.
4

F.Enghen cũng khẳng định: “Chính là chỉ có tiếp thu được những kết quả mà
hai ngàn năm trăm phát triển của triết học đã đạt được thì khoa học tự nhiên mới có
thể, một mặt thoát khỏi mọi thứ triết học tự nhiên tách riêng ra, đứng ngoài và đứng
trên khoa học, mặt khác thoát khỏi cái phương pháp tư duy hẹp hòi của bản thân
khoa học đó, do chủ nghĩa kinh ngjhiệm Anh truyền lại.”
5
- Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thư ba ngày 23 tháng 5 năm 1894,
F.Enghen lấy làm mãn nguyện mà nhận thấy rằng, kể từ lần xuất bản trước những
quan điểm trình bày trong Chống Đuy Rinh của ông đã được truyền bá rộng rãi
trong ý thức của giới khoa học và của giai cấp công nhân, không chỉ ở Đức mà cả
trên khắp các nước văn minh của thế giới.
Trong lần xuất tái bản này, F.Enghen chỉ bổ sung thêm những điều trọng yếu
vào chương mười phần thứ hai “Về lịch sử phê phán”. Vì phần chính trong chương
này là của C.Mac và F.Enghen có nhiệm vụ phải ghi lại hết sức đầy đủ và đúng
từng câu chữ những đoạn văn trong đó C.Mac đã đặt những người như Pet-ty,
Noóc, Lốc-cơ, Hium vào đúng vị trí của họ trong quá trình sản sinh ra môn kinh tế-
hính trị học cổ điển. Việc làm đó của F.Enghen một mặt vì trước đó ông đã lược đi,
mặt khác theo ông “chính những chỗ ấy chính là cái phần, cho đến cả ngày nay
nữa, vẫn còn giữ được ý nghĩa lớn lao nhất và bền vững nhất”.
6

1. Lời mở đầu gồm hai chương:
a) Chương 1: Nhận xét chung:
F.Enghen khái quát về sự phát triển của lý luận cho đến khi tác phẩm của
Đuy Rinh ra đời. Ở đây F.Enghen tập trung hai vấn đề:
- Khái quát sự phát triển của lý luận về chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến
khoa học. Ở đây, F.Enghen đã phân biệt rõ các khái niệm tư tưởng xã hội chủ
nghĩa, chủ nghĩa xã hội không tưởng, chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán và
chủ nghĩa xã hội khoa học. F.Enghen chỉ ra: “Đi đôi với những cuộc khởi nghĩa vũ
trang cách mạng ấy của một giai cấp còn chưa trưởng thành thì có những biểu hiện
lý luận tương ứng; Như trong thế kỷ XVI và XVII có những bức tranh không tưởng
về một chế độ xã hội lý tưởng; Đến thế kỷ XVIII có những lý luận cộng sản chủ
nghĩa rõ rệt (Mô-ren-ly, Ma-bơ-ly), yêu sách về bình đẳng không còn hạn chế trong
lĩnh vực những quyền lợi chính trị, mà mở rộng ra cả đến địa vị xã hội của mỗi cá
nhân; Không những cần xóa bỏ những đặc quyền giai cấp mà còn cần phải xoá bỏ
cả những sự khác nhau về giai cấp nữa”.
7

4 S đ d trang 16.
5 S đ d trang 20.
6 S đ d trang 20.
F.Enghen cũng chỉ ra sự giống nhau của ba ông Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê và
Ô-oen, là họ không tự coi mình là đại biểu cho lợi ích của giai cấp vô sản mà lịch
sử đã đẻ ra trong giai đoạn đó. Họ chỉ muốn lập tức giải phóng cho toàn thể loài
người chứ không trước hết cho một giai cấp nào. Theo F.Enghen: “Thứ chủ nghĩa
xã hội chiết trung ấy là một sự hỗn hợp đủ các sắc thái hết sức khác nhau, bao gồm
những nhận xét phê phán kém cỏi nhất của các nhà sáng lập ra các phái, những luận
điểm kinh tế của họ và những quan niệm của họ về xã hội tương lai - và sự hỗn hợp
này càng được tạo ra một cách dễ dàng, nhất là vì trong mỗi yếu tố cấu tạo ra nó,
các góc cạnh sắc nhọn của sự chính xác đã mòn đi qua các cuộc tranh cãi, cũng
giống như những hòn đá cuội đã mòn đi dưới dòng suối chảy. Muốn làm cho chủ
nghĩa xã hội thành một khoa học trước hết phải đặt nó trên một miếng đất hiện
thực.”
8
“Quan niệm duy vật về lịch sử và việc dùng quy luật giá trị thặng dư để bóc
trần cái bí mật của sản xuất tư bản chủ nghĩa là công lao của C.Mac. Chính nhờ hai
phát hiện này, chủ nghĩa xã hội đã trở thành chủ nghĩa xã hội khoa học, mà nhiệm
vụ bây giờ phải hoàn thiện thêm trong tất cả các chi tiết (và các mối liên hệ) của
nó.”
9
- F.Enghen đã khái quát về sự lịch sử phát triển của hai phương pháp biện
chứng, siêu hình và vạch ra vai trò của phép biện chứng duy vật đối với nhận thức
nói riêng, đối với hoạt động cải biến và vận động của thế giới nói chung.
F.Enghen viết: “Đối với nhà siêu hình học thì những sự vật và phản ánh của
chúng vào trong tư tưởng, tức là các khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu
riêng biệt, phải xem xét từng cái một, tách rời nhau, là những đối tượng cố định,
cứng đờ, mãi vẫn như thế... Trái lại, đối với phép biện chứng là phương pháp nắm
sự vật và những phản ánh cuả sự vật trong tư tưởng, chủ yếu trong mối liên hệ,
trong sự ràng buộc, sự vận động, sự ra đời và biến đi cuả chúng... Giới tự nhiên là
hòn đá thử vàng của phép biện chứng, và khoa học tự nhiên cận đại trong khi đem
lại những tài liệu phong phú và ngày càng nhiều thêm, đã chứng minh rằng trong tự
nhiên, xét đến cùng thì mọi sự vậtđều diễn ra một cách biện chứng chứ không phải
siêu hình... Nhưng cho đến bây giờ, người ta vẫn có thể đếm được trên đốt ngón tay
số những nhà khoa học biết suy nghĩ một cách biện chứng, vì vậy cho nên mâu
thuẫn giữa những kết quả thu được và phương pháp tư duy cổ truyền đã giải thích
tại sao hiện nay cói tình trạng vô cùng hỗn độn trong lý thuyết của các nhà khoa
học tự nhiên, sự biến đổi đó làm cho cả thầy lẫn trò, cả người viết sách và người
đọc đều đâm ra thất vọng.”
10

b)Chương 2: Ông Đuy Rinh hứa những gì?
7 S đ d trang 28.
8 S đ d trang 31.
9 S đ d trang 44.
10 S đ d trang 34, 36, 37.
Ở đây, F.Enghen chế diễu Đuy Rinh vì Đuy Rinh cho rằng học thuyết của
ông ta là tuyệt đích cuối cùng, bản thân ông ta là con người hoàn mỹ, trong khi đó
ông ta miệt thị và coi tất cả những người trước ông là vô dụng. F.Enghen vạch ra:
“Những câu ông Đuy Rinh ca ngợi ông Đuy Rinh trên đây, còn có thể kể ra gấp
mười lần như thế nữa một cách dễ dàng. Song chỉ chừng ấy cũng đủ làm cho trong
bộ óc độc giả nẩy ra một số nghi vấn, không biết rằng đây có phải thực là một nhà
triết học hay là một - nhưng chúng tôi yêu cầu độc giả hãy chờ đến khi biết rõ khả
năng thâm nhập đến tận gốc rễ cuối cùng đã nói ở trên rồi hãy phán đoán. Chúng
tôi dẫn ra những câu ca tụng trên đây. là chỉ để tỏ ra rằng trước mặt chúng ta đây,
không phải là một nhà triết học và một nhà xã hội chủ nghĩa tầm thường chỉ phát
biểu ý kiến của mình một cách giản dị và nhường cho lịch sử quyết định giá trị của
những ý kiến đấy, nhưng mà là một nhân vật hoàn toàn đặc biệt, tự cho mình là
toàn thiện toàn mỹ không kém gì giáo hoàng, và có một học thuyết cứu thế, mà
người ta phải tiếp thu một cách đơn giản, nếu không muốn rơi vào tội ác nghiêm
trọng nhất về ta giáo. Như vậy là ở đây hoàn toàn không phải là một trong những
công trình mà người ta thấy nhan nhản trong các sách báo xã hội chủ nghĩa ở tất cả
các nước và gần đây cả ở nước Đức nữa - Trong những công trình này, nhiều người
thuộc đủ hạng đã hết sức thành khẩn tìm cách làm rõ những vấn đề mà ít nhiều họ
có thể thiếu tài liệu để giải quyết; Trong những công trình đó mặc dầu có những
thiếu sót về mặt khoa học hay về mặt văn học, người ta bao giờ cũng phải thừa
nhận cái thiện chí xã hội chủ nghĩa của chúng. Ngược lai, ông Đuy Rinh đưa ra cho
chúng ta những nguyên lý mà ông tuyên bố là “những chân lý cuối cùng, tuyệt
đích”, do đó mà bên cạnh những chân lý này thì bất cứ ý kiến nào khác cũng đều bị
coi là sai lầm ngay từ trước rồi; Cùng với cái chân lý độc tôn ấy, ông còn nắm giữ
cả cái phương pháp nghiên cứu duy nhất triệt để khoa học bên cạnh thì mọi phương
pháp khác đều là không khoa học. Hoặc là ông nói đúng - và như vậy là chúng ta
đang đứng trước bậc thiên tài vĩ đại nhất của tất cả các thời đại, vị siêu đệ nhất, vì
đó là người đầu tiên toàn thiện toàn mỹ; Hoặc là ông nói sai - và trong trường hợp
đó, thì bất kể sự phán đoán của chúng ta như thế nào, mọi sự nể vì của chúng ta đối
với cái thiện chí có thể có của ông, đều là những đòn nhục mạ chí tử nhất đối với
ông.”
11

Bàn về những lời mắng nhiếc của Đuy Rinh đối với các vị tiền bối trong đó
có C.Mac, F.Enghen viết: “về phần ông Đuy Rinh, nếu ông có một chút giáo dục
nào, thì những lời mắng nhiếc tử tế ấy có lẽ đã phải ngăn cấm không cho ông thấy
được cái gì là làm tổn thương và là hỗn xược cả. Cho nên giờ đây chưa vội biểu lộ
chút hoài nghi nào về sự đúng đắn căn bản của những lời mắng nhiếc ấy, sợ rằng
trong trường hợp trái lại có thể người ta lại cấm luôn cả không cho chúng tôi chọn
một loại ngu ngốc mà chúng tôi sẽ được xếp vào đó. Chúng tôi cho rằng nhiệm vụ
của chúng tôi chỉ là: một mặt đưa ra một ví dụ về cái mà ông Đuy Rinh gọi là “kiểu
mẫu của cách diễn đạt thanh nhã và thật khiêm tốn”, mặt khác, chứng minh rằng
11 S đ d trang 47, 48.