Sự sụp đổ của A&A và Enron.doc

LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán là hoạt động nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của
các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị,
doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện
hành.
Kiểm toán làm gia tăng giá trị cho các Báo cáo tài chính (BCTC). Từ đó
những người quan tâm tới tình hình tài chính của đơn vị như: Nhà đầu tư, các
ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, nhà nước… để đưa ra
các quyết định kinh tế như: Đầu tư, cho vay, cấp tín dụng thương mại, bán
hàng, đưa ra các chính sách thuế phù hợp… Những nhận xét đánh giá của
những công ty này chính là căn cứ cho các nhà đầu tư khi họ cân nhắc có nên
đầu tư hay không dựa vào các báo cáo kiểm toán về tính trung thực và hợp lý
của các số liệu kế toán của một công ty. Điều gì sẽ xảy ra nếu các công ty
kiểm toán này đưa ra những nhận xét, đánh giá không xác đáng về BCTC của
công ty được kiểm toán? Chắc chắn những thành viên của gia đình kiểm toán
Việt Nam đã từng biết tới sự kiện tập đoàn năng lượng lớn nhất nước Mỹ tập
đoàn Enron sụp đổ dẫn tới sự sụp đổ của công ty kiểm toán A&A vì đã đưa ra
những báo cáo kiểm toán sai lệch về tình hình tài chính của Enron. Điều này
đã làm cho đại gia kiểm toán đứng thứ 5 của Mỹ Arthur Andersen phải sụp
đổ. Để làm sáng tỏ những hành vi nghiêm trọng này của A&A nhóm thuyết
trình sẽ trình bày diễn biến, nguyên nhân kết quả và trách nhiệm pháp lý của
sự kiện này.
1
I/ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN
1. Bản chât của Kiểm toán
Thuật ngữ kiểm toán mới xuất hiện và sử dụng ở nước ta hơn một chục
năm cuối thế kỷ XX.Trong quá trình đó cách hiểu và sử dụng khái niệm đó
chua được thống nhất,có thể khái quát cách hiểu của kiểm toán theo 3 quan
điểm sau đây. Theo quan điểm thứ nhất, kiểm toán được hiểu theo đúng thời
cuộc của nó “ kiểm toán lá hoạt động kiểm tra độ tin cậy của các thông tin do
kế toán cung cấp”.Hoặc cụ thể hơn theo quan niệm thứ 2 “Khái niệm: Kiểm
toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các Bảng khai tài chính của
các thực thể kinh tế được thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập dựa trên cơ
sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” Theo quan điểm thứ 3 quan điểm hiện đại vế
kiểm toán toàn diện Khái niệm”Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá
các bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo
về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết
lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên có đủ
năng lực và độc lập”.
Theo quan điểm này thì kiểm toán có 2 chức năng là xác minh và bầy tỏ ý
kiếnậi
1.1. Chức năng xác minh
Khái niệm: Xác minh là việc KTV thu thập và đánh giá các Bằng chứng về
những thông tin được kiểm tra nhằm đánh giá sự phù hợp của chúng với các
chuẩn mực đã được thiết lập.
>.Chức năng của kiểm toán là xác minh chứ không phải kiểm tra
1.2. Chức năng bày tỏ ý kiến
Khái niệm: Bày tỏ ý kiến là việc kiểm toán viên sau khi kết thúc kiểm toán
đưa ra kết luận về chất lượng thông tin được kiểm toán và đưa ra ý kiến tư
vấn thông qua chức năng xác minh.
Thể hiện ở hai mặt:
>Đưa ra kết luận về đối tượng kiểm toán
>Đưa ra ý kiến tư vấn đối với đơn vị được kiểm toán Để hiểu dõ hơn về kiểm
toán ta đi tìm hiểu về các loại kiểm toán
2. Phân loại Kiểm toán
Qua nghiên cứu về bản chất của kiểm toán,chung ta đã tiếp cận được các
loại kiểm toán khác nhau. Để nhận thức dõ hơn về kiểm toán và cơ sở tổ chức
tốt công tác kiểm toán cần đi sâu vào nghiên cứu các loại kiểm toán.Kiểm
toán được phân loại theo 2 tiêu thức: Phân loại theo đối tượng kiểm toán và
phân loại theo tổ chức nhà máy
2.1. Phân loại theo đối tượng kiểm toán
>Kiểm toán tài chính (Financial Statements Audit)
>Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit)
>Kiểm toán hoạt động (Operational Audit)
2.1.1. Kiểm toán tài chính (Financial Statements Audit):
2
Kiểm toán tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các Bảng
khai tài chính, được thực hiện bởi những người có chuyên môn, trình độ, có
đạo đức tương xứng dựa trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực. Cách thức
tiến hành kiểm toán:
Kiểm toán theo khoản mục
Kiểm toán theo chu trình
Chủ thể: chủ yếu là KTV nhà nước và KTV độc lập
Kết thúc kiểm toán: phát hành Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý (nếu có)Cơ
sở pháp lý: VSA, ISA (Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế) và các văn
bản pháp quy có liên qua
2.1.2. Kiểm toán tuân thủ(Compliance Audit):
Kiểm toán tuân thủ là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về mức độ
tuân thủ hay chấp hành luật pháp của Nhà nước, các nguyên tắc, thể lệ, chế độ
và quy định của đơn vị được kiểm toán
Chủ thể: chủ yếu là KTV nhà nước và KTV nội bộ
Kết thúc kiểm toán: phát hành Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý (nếu có)
Cơ sở pháp lý: chính bản thân các văn bản pháp quy hoặc nội quy, quy định
đó
Khách thể: một bộ phận hoặc toàn bộ đơn vị được kiểm toán
Tính chất pháp lý của cuộc kiểm toán: phụ thuộc vào KTV thực hiện
2.1.3. Kiểm toán hoạt động( Operational Audit):
Kiểm toán hoạt động là một quá trình đánh giá có hệ thống về sự hữu
hiệu, tính hiệu quả, và tính kinh tế của các hoạt động dưới sự kiểm soát của
nhà quản lý và báo cáo cho các cá nhân thích hợp về kết quả của việc đánh
giá, đồng thời đưa ra những kiến nghị để cải tiến
2.2. Phân loại theo bộ máy tổ chức kiểm toán
>Kiểm toán độc lập( Independent Audit)
> Kiểm toán Nhà nước( State/ Government Audit)
> Kiểm toán nội bộ( Internal Audit)
2.2.1. Kiểm toán Nhà nước( State/ Government Audit):
Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước
thực hiện chức năng kiểm toán đối với các đơn vị, tổ chức có sử dụng Ngân
sách Nhà nước, tài sản công
Ở thời trung đại,kiểm soát nhà nước xuất hiện để đối soát tài sản của vua
chúa.Qua quá trình phát triển cho đến nay kiểm toán của các nươc phát triển
đều thực hiện chức năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực công cộng . Ơ công
hoá PHÁP,cơ quan kiểm toán quốc gia là toà thẩm kê do Napoleon đệ nhất
thành lập từ năm 1807, đến năm 1976 mới được sủa đổi. Đến năm 1982,các
cơ quan kiểm toán địa phương đuợc thành lập để kiểm toán ngân sách của địa
phương,các tổ chức nhà nước,các xí nghiệp sử dụng vốn. Ơ MỸ,vă phòng
tổng kế toán được thành lập theo luật kế toàn năm 1921. Còn ở VIỆT NAM
trong nhưng năm áp dụng cơ chế hoá tập trung ,việc xét duyệt các báo các
quyết toán quyết toán do các vụ tài chính của bộ chủ quản, phòng tài chính
3
của các sở chủ quản tiến hành.Từ ngày 11 tháng 7 1994,kiểm toán nhà nước
chính thức được thành lập theo nghị quyết70/CP của chính phủ với chức
năng: xác nhận tính đúng đắn hợp pháp của số liệu,các đơn vị sự
ngiệp…..Cũng theo nghi quyết này “ kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ xây
dựng kê hoạch kiểm toán hang năm.
Chỉ sau 1 năm thành lập,kiểm toán nhà nước đã vừa ổn định bộ máy,xây
dựng các văn phòng pháp quy,huấn luyện nghiệp vụ cho các bộ kiểm toán và
thục hiện các cuộc kiểm táon có quy mô lớn, qua quá trình thành lập vị trí
kiểm toán nhà nước ngày càng tăng cường và được củng cố
2.2.2. Kiểm toán độc lập( Independent Audit):
Kiểm toán độc lập là bộ máy tổ chức của các kiểm toán viên chuyên
nghiệp, chuyên cung cấp các dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên
quan như tư vấn kế toán, tư vấn thuế, tài chính, tuyển dụng và đào tạo “Kiểm
toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên và doanh nghiệp
kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo
cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm
toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này”
Hiện nay thế mạnh cạnh tranh quốc tế của kiểm toán độc lập đã được thể hiện
ở các công ty kiểm toán có quy mô lớn quốc gia và xuyên quốc gia. Chỉ riêng
28 công ty lớn của thế giới đã có gần 500000 nhân viên và có gần 8000 văn
phòng doanh số trên 34000USD.Còn đối với Việt Nam,trước năm 1976 có
công ty kiểm toán độc lập của nước ngoài và các giám định viên kế toán hành
nghề độc lập ở các tỉnh và thành phố phía nam. Tuy nhiên sự hiện diện của
kiểm toán độc lập ở Việt Nam được đánh dấu bởi sự ra đời của cônt ty kiểm
toán độc lập Việt Nam(VACO)và công ty dịch vụ kế toán,kiểm toán và tư vấn
tài chính(AASC) từ tháng 5 năm 1991.Cho đến nay đã xuất hiện nhiều công
ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam: Công ty tư vấn và kiểm toán(A và C), công
ty tư vấn kiểm toán Sài Gonf(AFC), cônt ty kiểm toán dịch vụ tin học
(ATSC).....
2.2.3. Kiểm toán nội bộ( Internal Audit) :
Kiểm toán nội bộ là bộ máy tổ chức của các kiểm toán viên không
chuyên nghiệp, tiến hành hoạt động kiểm toán phục vụ cho mục đích quản lý
nội bộ đơn vị Mô hình tổ chức:
Các giám định viên kế toán
Bộ phận kiểm toán nội bộ
Lĩnh vực kiểm toán chủ yếu: kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động
Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán: hệ thống chuẩn mực kiểm toán nội bộ và
nội quy của đơn vị
Nếu như kiểm toán độc lập và kiểm toán nhà nước đã có mặt ở Việt Nam
đã lâu, khái niệm kiểm toán nội bộ vẫn còn xa lạ với nhiều nhà quản lý. Tuy
nhiên,yêu cầu hội nhập và sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng
khoán và những vụ bê bối về quản trị ở một số doanh nghiệp lớn của Nhà
nước gần đây cho thấy sự cần thiết của kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp.
4
Trên thế giới, kiểm toán nội bộ đã ra đời từ lâu nhưng chỉ phát triển từ
sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom và Enron (Mỹ) những năm
2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời năm 2002.
Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải
báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty.
Trong khi hoạt động của kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báo
cáo tài chính (mức độ trung thực và hợp lý), hoạt động của kiểm toán nội bộ
không bị giới hạn ở bất kỳ phạm vi nào trong công ty, từ mua hàng, sản xuất,
bán hàng đến quản lý tài chính, nhân sự hay công nghệ thông tin. Mục đích
của kiểm toán nội bộ là phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp, chứ
không phải cho đối tác bên ngoài. Kiểm toán nội bộ không chỉ đánh giá các
yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giá các rủi ro cả bên trong và bên
ngoài.
3. Vai trò của Kiểm toán viên (KTV)
Các kiểm toán viên độc lập đóng vai trò quyết định trong việc quản trị
công ty. Nếu không có báo cáo kế toán và thông tin tài chính chính xác, thì
ngay cả người có thiện chí nhất trong các thành viên HĐQT độc lập cũng sẽ
không thể thi hành nhiệm vụ. Về khía cạnh này, hoạt động của giới kiểm toán
trong thời gian qua thật là đáng thất vọng. Khó khăn chính, cũng như trong
trường hợp các thành viên HĐQT độc lập, là việc bổ nhiệm kiểm toán viên
độc lập hầu như trong tay của ban giám đốc. Trên lý thuyết thì các kiểm toán
viên độc lập, tương tự như các thành viên HĐQT độc lập, được cổ đông bổ
nhiệm trong đại hội cổ đông. Trong thực tế, thường thì kiểm toán viên nào
được tiến cử thì người đó sẽ được bổ nhiệm, mà việc tiến cử này lại do ban
giám đốc phụ trách.
Công nhận điểm yếu này, NYSE đã kiến nghị tăng cường quyền lực và
trách nhiệm của ủy ban kiểm toán, kể cả việc độc quyền quyết định thuê
mướn hay sa thải kiểm toán viên độc lập. Ủy ban kiểm toán phải có một số
nhiệm vụ tối thiểu hàng năm là tiếp nhận và xem xét báo cáo của kiểm toán
viên độc lập về quy trình kiểm soát nội bộ, đánh giá mối quan hệ giữa kiểm
toán viên độc lập và công ty. Ủy ban kiểm toán cũng phải có quyền được sự
cố vấn và hỗ trợ của các nhà cố vấn pháp lý, kế toán và các nhà cố vấn khác
không làm cho công ty, tiếp xúc riêng với ban giám đốc, kiểm toán viên nội
bộ, kiểm toán viên độc lập và cùng với kiểm toán viên độc lập rà soát bất kỳ
vấn đề hay gút mắc nào về kiểm toán.
Ngoài ra, Quốc hội Hoa Kỳ cũng đã tiến hành các bước nhằm tăng
cường sự độc lập của kiểm toán viên. Phần 201(a) của Đạo luật Sarbanes-
Oxley năm 2000 được thông qua gần đây, sửa đổi phần 10A của Đạo luật
Giao dịch Chứng khoán năm 1934 và ngăn cấm một số công ty kiểm toán có
đăng ký cung cấp cùng một lúc dịch vụ kiểm toán lẫn phi kiểm toán cho bất
kỳ công ty phát hành nào mà hãng này đang phục vụ. Một số dịch vụ phi
5
kiểm toán bao gồm:
- Giữ sổ sách kế toán hay các dịch vụ khác liên quan đến hồ sơ kế toán hay
báo cáo tài chính của khách hàng đang được kiểm toán;
- Thiết kế và thực hiện các hệ thống thông tin tài chính;
- Quản lý công ty hay quản lý nhân lực;
- Môi giới, tự doanh, cố vấn đầu tư, hay làm dịch vụ ngân hàng đầu tư;
- Cung cấp dịch vụ pháp lý và các dịch vụ chuyên môn không liên quan đến
việc kiểm toán;
- Đối với các dịch vụ phi kiểm toán khác, như các dịch vụ về thuế, thì phải
được sự chấp thuận trước của ủy ban kiểm toán của nhà phát hành cổ phiếu.
Việc cấm đoán các công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ tư vấn hay các
dịch vụ khác cho khách hàng được họ kiểm toán sẽ có tác dụng phần nào
trong việc phục hồi sự độc lập của kiểm toán viên, nhưng tự nó không thể
hoàn toàn giải quyết vấn đề. Với một số công ty kiểm toán bị cáo buộc là cẩu
thả trong việc kiểm toán, có lẽ các kiểm toán viên sẽ chú ý hơn rất nhiều đến
việc kiểm toán cho khách hàng của họ, ít nhất là trong tương lai gần. Những
sự cấm đoán và khó khăn liên quan đến công việc phi kiểm toán cũng sẽ góp
phần giúp các kiểm toán viên tập trung hơn vào công việc chính của mình.
4. Tham khảo những kiến nghị được trình lên NYSE ngày 6 tháng 6 năm
2002 bao gồm:
(1) Yêu cầu các công ty niêm yết phải có đa số thành viên HĐQT độc
lập.
(2) Định nghĩa rõ hơn thế nào là một thành viên HĐQT “độc lập”. Ví dụ,
một thành viên độc lập không được có quan hệ vật chất với công ty và không
thể là một nhân viên cũ cho đến năm năm sau khi thôi việc.
(3) Trao thêm quyền cho các thành viên HĐQT độc lập để họ thực hiện
nhiệm vụ kiềm chế ban giám đốc một cách hiệu quả hơn; yêu cầu họ có
những phiên họp thường kỳ ở cấp điều hành không có ban giám đốc hiện
diện; đồng thời, yêu cầu các thành viên HĐQT độc lập chỉ định và tiết lộ công
khai danh tánh của thành viên HĐQT sẽ chủ tọa các phiên họp này, nhằm tạo
điều kiện cho một thành viên HĐQT độc lập làm đối trọng với quan chức điều
hành cao nhất (CEO) trong công ty.
(4) Yêu cầu các công ty niêm yết phải có một ủy ban tiến cử/quản trị
công ty gồm toàn thành viên HĐQT độc lập để xem xét việc bổ nhiệm những
người mới vào HĐQT và định hình cơ chế quản trị của công ty. Tương tự, ủy
ban phụ trách về thù lao cũng phải gồm toàn thành viên HĐQT độc lập.
(5) Gia tăng quyền lực và trách nhiệm của ủy ban kiểm toán, kể cả giao
cho họ quyền quyết định thuê mướn hay sa thải các kiểm toán viên độc lập, và
phê duyệt bất kỳ quan hệ phi kiểm toán đáng kể nào với các kiểm toán viên
độc lập.
6
(6) Các công ty niêm yết phải công bố những nguyên tắc quản trị công ty
của mình, bao gồm các tiêu chuẩn về năng lực, trách nhiệm, mức thù lao của
thành viên HĐQT, v.v...
(7) Yêu cầu các công ty niêm yết chấp nhận thực hiện cũng như công bố
thông tin một bộ qui tắc về hành vi cũng như đạo đức kinh doanh áp dụng cho
các thành viên HĐQT, các quan chức và nhân viên của công ty, và nhanh
chóng công bố mọi trường hợp khước từ bộ qui tắc này đối với các thành viên
HĐQT hay các quan chức điều hành.
Còn quá sớm để có thể nói, liệu những sáng kiến này có giúp tăng cường
vai trò của các thành viên HĐQT độc lập hay không. Một vấn đề cơ bản là,
không tránh được việc ban giám đốc tiếp tục đóng vai trò đáng kể trong việc
bổ nhiệm các thành viên HĐQT độc lập, cho dù vai trò của các ủy ban tiến cử
được củng cố. Mặt khác, hy vọng rằng trong thời kỳ hậu-Enron, các thành
viên HĐQT độc lập sẽ cương quyết hơn và không tin tưởng ban giám đốc một
cách mù quáng như trước. Đồng thời, để ngăn ngừa lòng tham của ban giám
đốc, một hiện tượng không thể chối cãi qua các sự kiện gần đây, các kế hoạch
trả thù lao cho ban giám đốc sẽ gắn các khoản thưởng với thành tích hoạt
động lâu dài của công ty; ví dụ, các kế hoạch về quyền chọn mua cổ phiếu
(share option schemes) – là một loại tiền thưởng – đòi hỏi nhiều thời gian hơn
trước khi được thực hiện, và như thế, liên quan trực tiếp hơn với thành tích
hoạt động dài hạn của công ty.
II/ GIỚI THIỆU VỀ TẬP ĐOÀN ENRON VÀ CÔNG TY KIỂM TOÁN
ARTHUR ANDERSEN (A&A)
1. Khái quát về tập đoàn năng lượng Enron
Tập đoàn năng lượng Enron tên ban đầu là công ty Northern Natural Gas
được thành lập năm 1931 tại Omaha Nebraka và được tái cơ cấu năm 1979
khi công ty này được sáp nhập Holding Company Inter-North. Năm 1985
công ty mua lại Houston Gas Natural và đổi tên thành tập đoàn Enron . Sau
này chính CEO của Houston đã chuyển trụ sở của enron về Houston, Texas,
USA.
Enron ban đầu hoạt động trong lĩnh vực truyền tải và phân phối điện, gas
trên toàn nước Mỹ ; xúc tiến, xây dựng, đưa vào hoạt động các nhà máy điện ,
các hệ thống đường ống khí thiên nhiên. Enron sở hữu một mạng lưới lớn các
đường ống khí thiên nhiên xuyên biển, xuyên biên giới như: Northern
Natural Gas, Florida Gas Transmission , công ty Transwestern Pipenline cùng
với 1 đối tác phía Canada. Doanh thu của Enron chủ yếu thu từ các hoạt động
trên và nó tài trợ cho các hoạt động đàu tư mao hiểm của Enron. Năm 1998
7
Tập đoàn này lấn sân sang lĩnh vực cung cấp nước và thành lập tập đoàn
Azurix. Tuy nhiên Azurix đã thất bại thảm hại đặc biệt tại Bunos Aires. Thất
bại này đã khiến Enron mất một khoản tiền lớn . Tháng 8/2001 Enron có ý
định phá sản Azurix và bán tài sản của tập đoàn này đi.
Trước khi sụp đổ năm 2001 Enron có khoảng 22000 công nhân và là một
trong những tập đoàn năng lượng dẫn đầu trong lĩnh vực cung cấp khí thiên
nhiên, điện , sản xuất bột giẩy, truyền thông doanh thu năm 2000 đạt 111 tỷ
USD.
Enron đã từng là một công ty năng lượng tăng trưởng nhanh và tự chuyển
đổi thành một tập đoàn năng lượng lớn nhất thế giới Có thời kỳ Enron là một
trong 7 tập đoàn lớn nhất nước Mỹ xét về giá trị cổ phiếu trên thị trường
chứng khoán.Giá cổ phiếu của Enron lên đến đỉnh cao 90 đô la vào tháng
8/2000. Một năm sau đó, vàotháng 10/2001 công ty thông báo lỗ 638 triệu đô
la trong quý 3/2001 và giá trị vốn cổđông giảm 1,2 tỉ đô la. Tháng 11/2001
giá cổ phiếu của công ty tụt xuống dưới 1 đô la. Tháng 12/2001 công ty tuyên
bố có thể phá sản và cho nghỉ việc hàng ngàn nhân viên.Tháng 1/2002 Bộ Tư
pháp Hoa Kỳ bắt đầu cuộc điều tra hình sự về công ty Enron.Vậy nguyên
nhân từ đâu
2. Khái quát về công ty kiểm toán A&A
Công ty kiểm toán Arthur Anderson có trụ sở đặt tại Chicago đã từng là
công ty kiểm toán lớn thứ năm thế giới hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán ,
thuế , dịch vụ tư vấn...
Công ty do Arthur Andersen thành lập vào năm 1913 khi ông ở tuổi 28.
khách hàng đầu tiên của A&A là công ty sản xuất bia Jojeph Shilte brewing.
Vào năm 2002 do có sự sai phạm nghiêm trọng trong việc kiểm toán tập
đoàn năng lượng Enron công ty đã bị thu hồi giấy phép hành nghề kiểm toán
độc lập và chính điều này đã làm mất hơn 85000 việc làm của nhân viên
trong công ty.
Thuật ngữ kiểm toán đã ra đời và tồn tại cách đây hơn 100 năm, cùng
với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chính trong thời điểm
đó đã xuất hiện sự phân chia quyền lợi giữa các ông chủ xí nghiệp và những
người quản lý làm thuê. Và kiểm toán độc lập ra đời như là một hình thức
"trọng tài" chuyên kiểm tra tính chính xác và trung thực của các báo cáo tài
chính trước các ông chủ xí nghiệp. Như vậy, trọng trách của kiểm toán chính
là bảo vệ quyền lợi của các ông chủ thông qua việc xác nhận tính chính xác
của các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Nhưng, không hẳn chỉ dừng ở chỗ đó, các kiểm toán viên còn muốn gửi
gắm vào các báo cáo tài chính của mình hình ảnh và danh tiếng của một nghề
cần được trọng vọng. Cho tớithời điểm này, trên thế giới có hàng trăm công ty
kiểm toán đăng ký hoạt động và được công nhận, thế nhưng, trong số hàng
trăm công ty lớn nhỏ trên toàn cầu chỉ có 5 công ty - thường được gọi là "Big
Five" - là những "đại gia" hàng đầu trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn
(PricewaterhouseCoopers, Andersen, Deloitte & Touche, KPMG, Ernst &
8
Young). Vậy điều gì khiến 5 đại gia này trở nên nổi tiếng và khác biệt với tất
cả các công ty kiểm toán khác trên thế giới?
Danh tiếng của 5 đại gia này được nâng dần lên cùng thời gian và năm
tháng, và cùng với danh tiếng đó là lợi nhuận khổng lồ mà không phải công ty
nào cũng có thể có được. PricewaterhouserCoopers là một ví dụ. Các partner
của công ty này hiểu rằng cái chính mà họ có là danh tiếng chứ không hẳn là
dịch vụ kiểm toán hay tư vấn nào khác, đã vượt qua các đối thủ nặng ký khác
trong cuộc đua tranh giành quyền kiểm phiếu cho giải Oscar và công khai mở
một loạt dịch vụ kiểm toán trong nhiều lĩnh vực.
Thị trường cung cấp dịch vụ kiểm toán cũng có điều gì đó gần giống như
thị trường cung cấp vũ khí. Mỹ chẳng hạn, khi bán vũ khí cho một nước thứ
ba bao giờ cũng có đảm bảo việc trợ giúp về mặt chính trị hoặc quân sự.
Trong khi đó, các nước khác, trong đó có Nga, thường chỉ bán nguyên liệu và
công nghệ mà không kèm theo sự ủng hộ về chính trị hay quân sự nào. Các
công ty kiểm toán cũng vậy. Hàng trăm công ty kiểm toán lớn nhỏ trên thế
giới có thể lập các báo cáo tài chính xuất sắc với các kết luận không kém gì
Big Five, vậy nhưng các khách hàng lại sẵn sàng móc hầu bao "chi đẹp" cho
các dịch vụ của Big Five để mua thêm danh tiếng của họ về cho mình.
Có thể nhận định rằng, danh tiếng của mỗi một công ty kiểm toán thuộc
Big Five đáng giá hàng tỷ dollar. Tuy nhiên, cũng thật thú vị khi biết rằng,
không một công ty kiểm toán nào trong số này lọt vào Top 75 best brands do
Hãng Interbrand tổ chức bình chọn, mặc dù nếu tính về số lượng nhân viên
cũng như lợi nhuận thu được thì các thành viên thuộc Big Five đáng lẽ ra phải
là những công ty dẫn đầu.
Sử dụng dịch vụ của Big Five thường là các công ty, tập đoàn mà do
nguyên nhân này hay nguyên nhân khác muốn củng cố hoặc đánh bóng uy tín
và danh tiếng của mình trước một đối tác thứ ba trong các trường hợp sau:
* Tham gia vào các Quỹ Quốc tế (đối tác thứ ba là các thành viên của Quỹ)
* Thu hút vốn đầu tư trực tiếp (các nhà đầu tư)
* Tìm kiếm và thiết lập mối quan hệ với các khách hàng lớn tiếng tăm mới
* Tham gia vào các cuộc đấu thầu quốc gia
Danh tiếng và uy tín của các công ty kiểm toán thuộc Big Five - nói một
cách hơi thái quá - chính là một thứ "bùa hộ mệnh" cho các khách hàng khi
muốn làm đẹp mặt mình trước các đối tác thứ ba. Và ngược lại, chính các
công ty hay tập đoàn lớn, khi trở thành khách hàng của các công ty kiểm toán
thuộc Big Five lại củng cố thêm địa vị và danh tiếng của công ty kiểm toán.
Một sự bù trừ thú vị cho cả chủ lẫn khách mà qua việc hợp tác với nhau, bên
lợi nhất vẫn là các công ty kiểm toán, bởi danh tiếng càng cao, lợi nhuận của
họ cành nhiều, khách hàng càng ngày càng đến với họ đông hơn. Và ngay cả
các kiểm toán viên cũng chính là những "kẻ may mắn" kinh doanh carrer của
9
mình dựa trên danh tiếng và uy tín của các công ty mà họ đang làm việc. Bất
cứ ai đã từng làm việc cho một trong các công ty kiểm toán thuộc Big Five,
khi rời khỏi công ty đến với một nới làm việc mới cũng thường mang theo
một phần danh tiếng của nơi họ đã từng làm việc, và ít nhất trong CV xin việc
của họ, bóng dáng của các Big Five này cũng góp phần đánh bóng bản thân
ứng viên. Lợi nhuận nhiều, nhưng mất mát cũng không ít.
Như đã nói ở trên, danh tiếng và uy tín của các công ty kiểm toán thuộc
Big Five càng ngày càng tăng. Công ty càng ăn nên làm ra, khách hàng càng
nhiều, và trong bảng danh sách các khách hàng của bất cứ một công ty kiểm
toán nào thuộc Big Five cũng có mặt rất nhiều tên tuổi các tập đoàn tiếng tăm
trên thế giới từ lĩnh vực sản xuất, thương mại cho đến bảo hiểm, tài chính
ngân hàng hoặc viễn thông.
Tuy nhiên, tấm huân chương nào cũng có hai mặt. Lợi nhuận nhiều, uy
tín tăng, nhưng nếu không cẩn thận sẽ xảy ra nhiều trường hợp mà như ông
cha vẫn thường nói "kiếm củi ba năm thiêu một giờ" như trường hợp của
Andersen sau vụ scandal bê bối liên quan đến việc kiểm toán cho Tập đoàn
năng lượng Enron năm ngoái đây là một ví dụ. Hay như vụ phá sản của ngân
hàng Anh Barings mà Ernst & Young tham gia với tư cách là một thành viên
trong hội đồng thanh lý tài sản của ngân hàng này. Năm 1994 công ty kiểm
toán này đã phải chi 400 triệu dollar tiền đền bù do sơ suất của mình trong
việc nghiên cứu thị trường bất động sản tại xứ sở sương mù. Rồi vụ phá sản
của hãng bảo hiểm Independent cũng một thời gây tai tiếng cho một trong
năm công ty kiểm toán lớn. Tháng 5 năm 2001, Pricewaterhouse Coopers đã
phải móc hầu bao chi 55 triệu dollars trong vụ kiểm toán cho hãng
Microstrategy. Lịch sử tách rời Andersen Consulting và Arthur Andersen
cũng như PricewaterhouseCoopers và chi nhánh văn phòng tư vấn luật
Landwell cũng không thể trả lại thanh danh và uy tín cho các công ty này.
Như vậy, danh tiếng và uy tín của các công ty kiểm toán lớn không
những được tăng lên nhờ vào chất lượng công việc mà còn có khả năng bị tổn
hại nếu không cẩn thận trong từng bước đi của mình. (Tổng hợp từ tài liệu của
Ward Howell International ).
A&A ở Việt Nam, Công ty TNHH Kiểm toán và Đầu tư Tài chính Nam
Việt (Viet Auditors Co., Ltd.) được thành lập bởi các kiểm toán viên người
Việt đã làm việc nhiều năm cho Arthur Andersen và KPMG - hai trong số
năm công ty kiểm toán lớn nhất thế giới (the Big Five).
Với phong cách làm việc mang tính quốc tế, cùng bề dày kinh nghiệm và
sự am hiểu sâu rộng về tài chính kế toán Việt Nam, Công ty luôn đảm bảo
mang lại cho khách hàng các dịch vụ đa dạng với chất lượng tốt nhất.
Bên cạnh các loại hình về kiểm toán, kế toán thông thường, Nam Việt
cũng đã triển khai sâu rộng các lĩnh vực liên quan như:
- Xây dựng, đánh giá độ tin cậy và đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nội bộ;
10
- Thẩm định tài chính doanh nghiệp, trong đó các chuyên gia sẽ giúp các
nhà quản lý doanh nghiệp “buộc các con số trong báo cáo tài chính phải lên
tiếng”.
- Tư vấn quyết toán thuế: Bên cạnh kinh nghiệm nhiều năm làm kiểm toán,
các chuyên gia của công ty cũng đã tham gia giữ vai trò Giám đốc tài chính
doanh nghiệp, đúc kết nhiều phương thức làm việc chuyên nghiệp trong việc
quyết toán thuế, thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá
nhân..., đảm bảo các rủi ro về nghĩa vụ thuế và các trách nhiệm liên quan của
doanh nghiệp ở mức thấp nhất.
Trước năm 2002, thị trường tư vấn tài chính và kiểm toán thế giới chịu
sự thống trị tuyệt đối của ngũ đại gia: KPMG, Deloitte & Touche, Ernst &
Young, PriceWaterhouseCooper, và Arthur Andersen. Họ chiếm ba phần tư
doanh số của thị trường tư vấn - kiểm toán trị giá hàng trăm tỉ đô la mỗi năm.
Trong 100 công ty lớn nhất thế giới, 99 công ty sử dụng dịch vụ của ngũ đại
gia.
Nhưng từ đầu năm 2002, người ta đã hiểu là một trong ngũ đại đã diệt
vong, và từ nay chỉ còn "tứ đại gia".
Bắt đầu từ vụ vỡ lở vào cuối năm 2001 và đầu năm 2002, mọi người mới
nhìn kỹ hơn đến nhà kiểm toán Arthur Andersen. Đây không phải lần đầu đại
gia này bị lâm vào rắc rối.
Nhưng tất cả các lần rắc rối trước, Andersen đều thoát ra bằng cách chi
tiền "dàn xếp" với bên nguyên đơn. Luật pháp Mỹ cho phép bên bị đơn chi
tiền để dàn xếp các vụ kiện dân sự trong khi vẫn không nhận lỗi. Nhưng đến
vụ Enron thì Andersen không còn có thể dàn xếp, vì đây là vụ án hình sự.
Dưới đây là diễn biến, nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của đại gia Kiểm
toán A&A và trách nhiệm pháp lý mà công ty này phải gánh chịu do những
những vi phạm đạo đức nghiêm trong đã gây ra.
III/ SỰ SỤP ĐỔ CỦA TẬP ĐOÀN NĂNG LƯỢNG ENRON KÉO
THEO SỰ SỤP ĐỔ CỦA A&A
1. Diễn biến sự việc
1.1. Bắt đầu từ sự kiện sụp đổ của tập đoàn năng lượng số một của Mỹ
- Tập đoàn Enron
Được thành lập từ năm 1985 trên cơ sở sáp nhập hai công ty Houston
Natural Gas và Internorth of Omaha, cái tên Enteron (ruột) xuất phát từ ý
tưởng cho rằng đó là bộ phận không thể thiếu trong quá trình tiêu hóa. Nhờ
những quy định mới về tự do hóa thị trường năng lượng Mỹ trong thập niên
90, họ đã gây dựng từ một hãng làm ăn mờ nhạt thành tập đoàn có thể thay
đổi sự cân bằng trong lĩnh vực kinh doanh năng lượng. Luật chính sách năng
lượng năm 1992 buộc các công ty nhỏ phải mở cửa đường truyền tải điện cho
hệ thống phân phối của Enron. Ngoài ra, Enron kiếm rất nhiều tiền từ việc
mua bán trên thị trường năng lượng. Trên thực tế, họ chỉ là những nhà buôn
sắp xếp hợp đồng giữa người mua và bán rồi lấy tiền hoa hồng. Trong tay
Enron, thị trường năng lượng ngang hàng với một sự đầu cơ tài chính. Hãng
11
này đã xây dựng những nhà máy trị giá hàng triệu USD khắp thế giới nhưng
chỉ sở hữu chúng khi giá năng lượng lên ngôi, khi gặp khó khăn thì bán ngay
lập tức. Nhờ hoạt động tài chính thuận lợi, Enron đã vươn sang các mặt hàng
như giấy, nước, nhựa, kim loại và phương tiện viễn thông.
Năm 2000, Enron là một trong 7 công ty Mỹ có doanh số hơn 100 tỷ USD,
lợi nhuận lên tới 10 tỷ USD. Hệ thống thông tin đại chúng, điển hình là tạp
chí Fortune, luôn công bố những thông tin thiếu thực tế điều mà Enron là
công ty có nhiều tiềm năng nhất với số vốn kinh doanh 63 tỷ USD.
Sai lầm của công ty này chính là phụ thuộc quá nhiều vào các giao dịch
tài chính. Vào tháng 8/2001, Giám đốc Điều hành Jeffrey Skilling từ chức vì
lý do cá nhân. Enron công bố lỗ 618 triệu USD trong quý III nhưng thực tế
lên tới 1,2 tỷ USD. Khi công ty khó khăn, họ thuyết phục nhân công nhận
lương và thưởng bằng cổ phiếu. Làm cách đó, giá trị của Enron đã bị giảm sút
nghiêm trọng. Khi Ủy ban Chứng khoán Mỹ điều tra, Giám đốc tài chính
Fastow phải ra đi, cổ phiếu của Enron tụt giá thảm hại, lòng tin của khách
hàng đã mất khiến họ không đầu tư nữa và công ty khánh kiệt.
Theo các chuyên gia kinh tế, một công ty hoạt động lành mạnh phải
công khai tài chính với các đối tác và ngược lại. Thế nhưng, nhiều đối tác của
Enron đã không tuân theo các nguyên tắc kế toán khiến họ bất lực trong việc
kiểm soát tình hình tài chính. Một công ty được đánh gí là có doanh thu trên
100 tỷ USD mà lợi nhân đạt ở mức khó tưởng 10tỷ USD. Đây chính là cơ sở
nghi nhờ khiến vụ việc này bị phanh phui. Số nợ 1,2 tỷ USD bị che giấu đã
gây hoảng loạn trên thị trường chứng khoán khi nó bị tiết lộ.
Chính những thông tin sai lệch về khả năng quản lý, Enron được quảng
cáo rất hiệu quả qua công ty kiểm toán Arthur Andersen và các nhà phân tích
phố Wall, nhờ vậy số người mua cổ phiếu của công ty cao kỷ lục. Chi nhánh
Houston của Arthur Andersen đã đưa ra những Báo cáo Kiểm toán sai lệch
nhằm có lợi cho Enron nên đã nhận được 1 triệu USD/tuần còn tham gia cả
việc tìm kiếm đối tác cho Enron. Số tiền kếch xù trên đã làm mờ mắt các nhân
viên kiểm toán và họ dễ dàng bỏ qua nguyên tắc. Điều trần trước Quốc hội
Mỹ trong tháng trước, Tổng giám đốc điều hành Arthur Andersen, ông Joe
Berardino thừa nhận họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Tuy khẳng định rằng
Arthur Andersen đã làm tất cả để hạn chế thấp nhất khả năng đổ vỡ của
Enron, nhưng họ lại hủy hầu hết tài liệu có liên quan đến vụ việc, ngay cả khi
Ủy ban Chứng khoán đã mở cuộc điều tra.
Nhiều nhà phân tích chứng khoán hồi tháng 11/2001 còn tư vấn cho
khách hàng mua cổ phiếu Enron. Nhiều người thừa nhận không hiểu sâu về
công việc làm ăn của Enron nhưng tin rằng đây là công ty có triển vọng bởi
cổ phiếu của họ liên tục tăng giá trong thời gian dài. Trong khi các chuyên gia
phân tích phải đánh giá tình hình tài chính của Enron một cách độc lập thì họ
lại phụ thuộc chủ yếu vào báo cáo tài chính do Arthur Andersen cung cấp.
Đến khi công ty tuyên bố phá sản với số nợ 31,2 tỷ USD, không ít nhà đầu tư
bị mất trắng.
12