Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Toán Lớp 3 Năm Học 2009-2010

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Toán Lớp 3 Năm Học 2009-2010

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010

MỤC LỤC
Phần A. Mở đầu……………………………………………………….Trang 2
Phần B . Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận ……………………………………………….Trang 5
Chương 2: Thực Trạng…………………………………………………Trang 10
Chương 3: Giải pháp …………………………………………………..Trang 13
Phần C. Kết luận – đề xuất……………………………………………..Trang 34
tàiĐề :
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
1
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
KHI ÁP DỤNG DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ
NĂNG THỰC HÀNH PHÉP NHÂN CHO HỌC SINH LỚP 3.
PHẦN A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

1. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của dạy phép nhân trong việc dạy
mơn Tốn tiểu học.
Việc dạy học ở các trường tiểu học nước ta có một q trình phát triển
lâu.Chương trình mơn Tốn ở bậc Tiểu học gồm có 5 tuyến kiến thức chính là:
Số đại số, các yếu tố hình học, đo các đại lượng, giải tốn. Trong đó số lớn nhất
trọng tâm đóng vai trò “cái trục chính” mà bốn mạch chuyển động chung quanh
nó, phụ thuộc vào nó. Các biện pháp tính, của phép nhân và dãy tính. Trong ba
mảng kiến thức này thì mảng các biện pháp tính là quan trọng nhất, đặc biệt là
việc rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân, chia đóng vai trò hết sức chủ đạo,
nó là trọng tâm của tuyến kiến thức số học, đại số và là hạt nhân của tồn bộ
chương trình tiểu học.
Bắt đầu từ năm 2003-2004, bảng nhân 2, 3, 4, 5 chính thức được đưa vào
chương tình Tốn lớp hai ở bậc tiểu học. Nói như vậy thấy tầm quan trọng và
vai trò của phép nhân trong mơn Tốn.Trong các kỳ thi mơn Tốn của lớp 2, 3,
4, 5 đặc biệt là thi học sinh giỏi bậc tiểu học ln xuất hiện các bài tốn có liên
quan đến phép tính nhân.Vì vậy tính nhân, chính là “ chìa khố” và “ cầu nối”
giữa tốn học và thực tiễn đời sống. Nó chiếm vị trí rất quan trọng trong chương
trình mơn tốn lớp 3 và mơn tốn tiểu học nói chung nhất là về mặt thực hành
tính tốn.
2. Xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong cơng cuộc đổi mới giáo dục nói chung
và đổi mới dạy học mơn tốn ở tiểu học nói riêng.
Cơng cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra từng ngày từng giờ trên
khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có
năng lực, chủ động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng được với thực tiễn
đời sống xã hội ln ln phát triển. Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
2
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
nhà trường phải được điều chỉnh một cách hợp lý dẫn đến sự thay đổi tất yếu về
nội dung và phương pháp dạy học.
Đặc điểm của phương pháp dạy học cũ là có sự mất cân đối rõ rệt giữa
hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động của học sinh. Trong đó:
Giáo viên thường chỉ truyền đạt, giảng giải các tài liệu đã có sẵn trong
sách giáo khoa, sách giáo viên (hướng dẫn giảng dạy). Vì vậy giáo viên thường
làm việc một cách máy móc và ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo
của học sinh.
- Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng ghi nhớ
rồi làm theo bài mẫu. Do đó học sinh ít có hứng thú học tập, nội dung các hoạt
động học tập thường rất nghèo nàn, đơn điệu, các năng lực vốn có của học sinh
ít có cơ hội phát triển.
-Giáo viên là người duy nhất có quyền đánh giá kết quả học tập của học
sinh. Học sinh ít khi được tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau. Tiêu chuẩn
đánh giá học sinh là kết quả ghi nhớ, tái hiện những điều giáo viên đã giảng.
- Cách dạy học như vậy đang cản trở việc đào tạo những người lao
động năng động, tự tin, linh hoạt, sáng tạo, sẵn sàng với những đổi mới đang
diễn ra hàng ngày. Do đó chúng ta phải có cố gắng đổi mới phương pháp dạy
học để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu cơng nghiệp hố, hiện đại
hố của đất nước trong thế kỷ XXI.
3. Xuất phát từ thực trạng việc dạy học mơn tốn cụ thể là kỹ năng thực
hành phép nhân cho học sinh lớp 3 trong nhà trường Tiểu học hiện nay.
Trong chương trình mơn học ở bậc tiểu học, mơn tốn chiếm số giờ rất
lớn. Bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia được sử dụng hầu hết vào các khâu
trong q trình dạy học tốn. Tuy vậy, phép nhân, phép chia là khái niệm trừu
tượng. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân,
phép chia là một vấn đề cấp bách và thường xun.
Một trong những mục tiêu của mơn Tốn ở bậc tiểu học là hình thành các
kỹ năng thực hành tính tốn. Bởi vậy, ngay từ lớp 2, học sinh đã được làm quen
với bảng nhân với 2, 3, 4, 5 trong phạm vi 100. Sang lớp ba, học sinh học bảng
nhân với 6, 7, 8, 9 và nhân chia ngồi bảng trong phạm vi 100000 (với số có một
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
3
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
chữ số). Việc rèn luyện các kỹ năng thực hành phép nhân giúp cho học sinh nắm
chắc một số tính chất cơ bản của các phép tính viết, thứ tự thực hiện các phép
tính trong các biểu thức có nhiều phép tính, mối quan hệ giữa các phép tính (đặc
biệt giữa phép cộng và phép nhân, phép nhân và phép chia). Đồng thời dạy học
phép nhân, phép chia trên tập hợp số tự nhiên nhằm củng cố các kiến thức có
liên quan đến mơn tốn như đại lượng và phép đi đại lượng các yếu tố hình học,
giải tốn. Ngồi ra rèn kỹ năng thực hành phép nhân, phép chia còn góp phần
trọng yếu trong việc phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành, đặc biệt là
khả năng phân tích, suy luận lơgíc và phẩm chất khơng thể thiếu được của người
lao động mới.
Xuất phát từ những lý do thực tế trên, qua nghiên cứu q trình dạy học
mơn tốn lớp 3 ở bậc tiểu học, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, kết hợp
với những hiểu biết đã có và những điều mới mẻ lĩnh hội được từ các tài liệu
tham khảo về “phương pháp dạy học Tốn ở Tiểu học”, trong khn khổ cho
phép của một đề tài sáng kiến kinh nghiệm, tơi quyết định chọn đề tài:
“Nâng cao chất lượng dạy và học khi áp dụng dạy học tích cực để rèn
luyện kỹ năng thực hành phép nhân cho học sinh lớp 3”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đề tài nhằm:
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận về đổi mới dạy học tích cực nói chung và
dạy học tích cực trong mơn Tốn nói riêng.
- Vận dụng dạy học tích cực để thiết kế bài dạy để rèn luyện kỹ năng thực
hành phép nhân góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tốn Tiểu học nói
chung và lớp 3 nói riêng.
- Đề tài này biểu hiện kết quả tự học, tự rèn luyện nâng cao tay nghề của
bản thân, tơi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp, q thầy cơ
để đổi mới, nâng cao hiệu quả dạy học rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân,
phép chia cho học sinh lớp 3.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
4
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
- Tìm hiểu những nội dung và phương pháp giảng dạy học cho học sinh lớp
3.
- Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp chương trình sách giáo khoa Tốn 3 và phân
loại các bài tốn có liên quan đến phép nhân ở lớp 3 thành những dạng cơ bản.
- Tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về dạy học tích cực để dạy học các nội
dung trên.
IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Việc áp dụng dạy học tích cực để rèn luyện kỹ năng thực hành phép nhân cho
học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Mỹ Tú A.
V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Học sinh lớp 3A
1
Trường Tiểu học Mỹ Tú A.

PHẦN B: NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ DẠY HỌC TÍCH CỰC
1. Dạy học tích cực là gì ?
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã
hội. Nhờ có tính tích cực mà con người đã lao động sản xuất sáng tạo ra nhiều
của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của xã hội, sáng tạo ra nền văn
hố, cải tạo mơi trường, chinh phục thiên nhiên, cải tạo xã hội.
Bởi vậy hình thành và phát triển tính tích cực xã hội là một trong các
nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động thích
ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Tính tích cực được xem là một điều kiện,
đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong q trình giáo dục.
2. Tính tích cực của học sinh trong học tập:
Tính tích cực của con người được biểu hiện trong hoạt động, đặc biệt
trong những hoạt động chủ động của chủ thể. Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
5
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
tuổi đi học. Tính tích cực trong hoạt động học tập tính tích cực nhận thức, đặc
trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong q trình chiếm
lĩnh tri thức.
Khác với q trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, q trình nhận
thức trong học tập khơng nhằm phát hiện những điều lồi người chưa biết mà
nhằm lĩnh hội những tri thức mà lồi người đã tích luỹ được. Tuy nhiên, trong
học tập, học sinh cũng phải khám phá ra những gì đã nắm được qua hoạt động
chủ động, nỗ lực của chính mình. Đó là chưa nói lên tới một trình độ nhất định
sự học tập tích cực sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng làm ra
những tri thức mới cho khoa học.
Tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với
động cơ học tập. Động cơ có đúng đắn tạo ra hứng thú. Hứng thú là tiền đề của
tự giác. Hứng thú và tự giác là 2 yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản
sinh tư duy độc lập suy nghĩ, độc lập suy nghĩ là mầm mống của sáng tạo.
Ngược lại phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác,
hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập.
Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu hăng hái trả lời các câu
hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của
mình trước vấn đề nêu ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn
đề chưa rõ, khơng chủ động vận dụng kiến thức kỹ năng đã học, kiên trì hồn
thành các bài tập, khơng nản trước những tình huống khó khăn.
Tính tích cực học tập đạt những cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo các mẫu hoạt động của thầy, của bạn...
- Tìm tòi: Độc lập giải quyết các vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải
quyết khác nhau về một số vấn đề...
- Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới độc đáo, hữu hiệu.
3. Độc lập với tính tích cực là tính thụ động:
Tính thụ động học tập của học sinh được biểu hiện ở chỗ:
- Học sinh chủ yếu ít nghe giảng, ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu.
- Học sinh ít hứng thú học tập, khơng thích phát biểu ý kiến.
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
6
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
- Trong lớp học sinh ít chú ý vào vấn đề đang học, khơng kiên trì nên
khơng hồn thành các bài tập. Khi gặp khó khăn học sinh dễ chán nản, bng
xi. Học sinh khơng tự giác đánh giá kết quả học tập của mình và của bạn.
Do cách học như vậy nên học sinh thiếu năng động, tự tin, làm việc máy
móc, khơng thể thích ứng được với những đổi mới đang diễn ra hàng ngày.
4. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực:
a) Dạy và học thơng qua các tổ chức các hoạt động học tập của học sinh:
Trong phương pháp tích cực, người học được cuốn hút vào các hoạt động
học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thơng qua đó tự lực khám phá những
điều mình chưa rõ chứ khơng phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo
viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học
trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách
suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm phương
pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó khơng rập theo những khn mẫu có sẵn,
được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy theo cách này thì giáo viên
khơng chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Chương
trình dạy học giải pháp giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham
gia vào các chương trình hành động của cộng đồng.
b) Dạy và học chú trọng phương pháp rèn luyện tự dạy và học: Phương
pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh khơng chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.
Trong xã hội hiện nay đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thơng tin, khoa
học, kỹ thuật, cơng nghệ phát triển như vũ bão thì khơng thể nhồi nhét vào đầu
óc trẻ khối lượng lớn kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho trẻ
phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải
được chú trọng.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn
luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học thì
tạo ra cho họ lòng tham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả
học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt
hoạt động học trong q trình dạy, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập bị
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
7
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
động sang học tập chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ
thơng, khơng chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự
hướng dẫn của giáo viên.
c) Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác:
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức tư duy của học sinh khơng thể
đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự
phân hố về trình độ, tiến độ hồn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học
được thiết kế thành một chuỗi cơng tác độc lập.
Áp dụng dạy học tích cực ở trình độ cao thì sự phân hố ngày càng lớn.
Việc sử dụng các cơng nghệ thơng tin trong nhà trường sẽ đáp ứng u cầu cá
thể học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh.
Tuy nhiên, trong học tập, khơng phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ đều
được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là mơi trường
giao tiếp giữa thầy và trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con
đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thơng qua thảo luận, tranh luận trong tập
thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học
nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được hiểu biết và kinh
nghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ khơng phải dựa trên vốn hiểu biết và
kinh nghiệm của thầy giáo.
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp cao
nhóm, tổ, lớp hoặc nhà trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt
động hợp tác trong nhóm 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học
tập nhất là lúc giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu
phối hợp giữa các cá nhân để hồn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo
nhóm nhỏ sẽ khơng thể có hiện tượng ỷ lại, tính cách năng lực của mỗi thành
viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương
trợ. Mơ hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các
thành viên quen dần với sự phân cơng hợp tác trong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xun quốc gia,
liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà
trường cần phải chuẩn bị cho học sinh.
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
8
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
d) Kết hợp đánh giá của thầy và sự đánh giá của trò:
Trong dạy học đánh giá học sinh khơng chỉ nhằm mục đích nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động của học sinh mà còn đồng thời tạo điều kiện
nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phát triển kỹ năng tự tạo điều
kiện thuận lợi để học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều
chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà
nhà trường phải trang bị cho học sinh.
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con
người năng động sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá
khơng thể chỉ dừng lại ở u cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã
học mà phải khuyến khích trí thơng minh, óc sáng tạo trong giải quyết các vấn
đề thực tế.
Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật, kiểm tra, đánh giá sẽ khơng còn
là một cơng việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thơng tin kịp thời
để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên khơng còn
đóng vai trò đơn thuần mà là người truyền đạt kiến thức sẽ trở thành người thiết
kế, tổ chức, hướng dẫn hoạt động độc lập theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực
chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái
độ theo u cầu của chương trình trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo
viên có vẻ nhàn nhã. Trước đó, khi soạn giáo án giáo viên đã phải đầu tư cơng
sức thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến bên ngồi tầm dự
kiến của giáo viên.
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
9
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
Chương 2:
THỰC TRẠNG VIỆC DẠY HỌC PHÉP NHÂN, CHIA
TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY
Qua việc tìm hiểu sách giáo khoa Tốn 3 chương trình Tiểu học, cùng với
việc điều tra thăm dò ý kiến đánh giá của các giáo viên đang thực hiện giảng
dạy, đặc biệt là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 3, Tơi rút ra một số
nhận xét như sau:
Nội dung dạy học các phép tính nhân, chia mơn Tốn lớp 3 tương đối
nhiều, đó là: Dạy bảng nhân 6, 7, 8, 9; dạy nhân số có 2, 3, 4, 5 chữ số có một
chữ số; dạy gấp một số lên nhiều lần, giảm một số đi nhiều lần, tính giá trị biểu
thức, so sánh hai số gấp nhau một số lần, dạy giải tốn hợp có liên quan đến việc
rút về đơn vị, dạy tính chu vi, diện tích hình vng, hình chữ nhật. Số lượng bài
tập nhiều. Mức độ u cầu của các bài tốn này hầu hết là các bài tập ở dạng cơ
bản, khơng có u cầu nâng cao, khơng có nhiều bài tốn khó như một số sách
tham khảo.
Theo ý kiến nhận xét của một số giáo viên đang trực tiếp giảng dạy thì do
khối lượng bài tập nhiều mà thời gian một tiết học chỉ có hạn (35 phút) nên học
sinh trung bình hoặc sức học chưa được vững khơng làm hết bài. Những em học
sinh khá, giỏi thì làm bài rất nhanh, thừa thời gian do đó giáo viên thường phải
nghĩ thêm một số bài nâng cao để cho các em luyện thêm.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng với số lượng và u cầu đặt ra cho mỗi bài
tốn như vậy cũng tạo cơ hội cho người giáo viên và học sinh có đủ thời gian tổ
chức hoạt động, nhất là hoạt động độc lập của học sinh. Đồng thời tạo cơ hội
cho người giáo viên phát huy khả năng của mình trong dạy học, giáo viên phải
đầu tư suy nghĩ để khai thác nội dung bài dạy ở nhiều khía cạnh khác nhau, đưa
ra những tình huống khác nhau chứ khơng nên lệ thuộc vào sách giáo khoa.
Tóm lại cả nội dung và phương pháp rèn kỹ năng thực hiện phép tính
nhân, chia ở lớp 3 có những điểm là hợp lý, vừa sức với học sinh, song cũng có
những điểm chưa thật sự hợp lý, kiến thức còn “nhẹ” so với trình độ nhận thức
của học sinh hiện nay; muốn dạy học tốt giáo viên phải hiểu rõ những điểm này
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
10
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
và dựa trên khả năng của học sinh mà xây dựng nội dung, sử dụng phương pháp
dạy học sao cho phù hợp.
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng việc dạy học và học ở
trường Tiểu học, Tơi thấy có một vấn đề như sau:
I. VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY CỦA GIÁO VIÊN
1. Những ưu điểm:
- Giáo viên nắm vững nội dung và phương pháp dạy học. Bên cạnh đó,
nội dung dạy học phép nhân của sách Tốn 3 tương đối đơn giản, trọng tâm nên
việc triển khai nói chung khơng gặp nhiều khó khăn. Chính vì những lý do trên
mà hiện nay dạy học phép nhân được giáo viên thực hiện tương đối đơn giản,
nhẹ nhàng và đạt u cầu.
Mặt khác, trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo
dục, Phòng giáo dục cùng các cấp quản lí giáo dục rất quan đến vấn đề đổi mới
phương pháp dạy học của giáo viên. Hằng năm, giáo viên được tham gia các lớp
chun đề của nhà trường tổ chức. Ngồi ra, giáo viên được dự giờ trao đổi kinh
nghiệm trong khối. Do vậy, mỗi giáo viên đã nhận thức được tinh thần đổi mới
phương pháp dạy học mơn Tốn.
Do qn triệt được tinh thần nên giáo viên đã thể hiện được tư tưởng đó
khi dạy học mơn Tốn nói chung, dạy phép tính nhân lớp 3 nói riêng. Cụ thể là:
- Giáo viên đã chủ động lập kế hoạch giảng dạy cho những tiết học, tuần
học, sắp xếp và dành nhiều thời gian cho học sinh làm việc với sách giáo khoa,
vở bài tập và các tài liệu tham khảo. Trong giờ học, khi truyền đạt nội dung mới
của bài, giáo viên đã biết kết hợp nhiều phương pháp truyền thống (giảng giải –
minh hoạ, trực quan, vấn đáp...) với các phương pháp dạy học hiện đại (dạy học,
nêu vấn đề, dạy học tập thể theo nhóm...) để dẫn học sinh tới kiến thức cần đạt
được. Khi củng cố rèn luyện các kỹ năng, kiến thức của giờ học, giáo viên đã dầu
tư, suy nghĩ hình thức củng cố bài học.
- Về cơng tác kiểm tra, đánh giá, giáo viên đã có sự kết hợp hài hồ giữa
việc thầy kiểm tra, trò tự kiểm tra đánh giá bài mình và kiểm tra đánh giá bài lẫn
lộn.
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
11
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
2. Những mặt còn tồn tại
Bên cạnh những ưu điểm trên thì việc dạy học phép nhân, chia của giáo
viên còn một số điểm tồn tại sau đây:
Bên cạnh một số đơng giáo viên đã tích cực thay đổi phương pháp dạy
học, khơng tránh khỏi một số đồng chí còn làm việc rất khn mẫu theo sách
hướng dẫn, sách giáo khoa. Giáo viên chỉ chú ý sao cho học sinh giải được bài
tốn cụ thể trong sách giáo khoa chứ chưa chú ý đến việc phát triển đề tốn
thành các bài tốn tương tự bằng việc u cầu học sinh thay đổi số liệu để giúp
học sinh nắm vững dạng tốn đồng thời giúp cho các em phát triển năng lực tư
duy. Đa số học sinh đều nắm vững kỹ thuật tính nhân nên đối với dạng bài tập
“Đặt tính rồi tính, tính giá trị biểu thức” học sinh làm tốt. Thế nhưng với những
dạng bài tập cần suy luận hay cần dựa vào mối quan hệ giữa các phép tính, dựa
vào các tính chất của phép nhân để giải thì học sinh làm chưa tốt. Đây cũng là
lỗi do sự lạm dụng sách giáo khoa và vở bài tập nên học sinh thường làm việc
như một cái máy. Bài nào khác dạng đi một chút là khơng làm được phải hỏi ý
kiến của giáo viên.
II. HÌNH THỨC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
1. Những ưu điểm:
Qua điều tra và trực tiếp giảng dạy ở lớp 3, chúng tơi thấy học sinh làm
tốt các bài tập về phép nhân trong sách giáo khoa. Kết quả đạt được là cao, song
đối với các bài tốn có u cầu nâng cao hơn, các em vẫn lúng túng. Đây là điều
dễ hiểu vì mức độ u cầu của các bài tốn trong sách giáo khoa khá đơn giản
trong khi thực tế hàng ngày có những bài tốn khơng phải là dễ.
2. Những mặt còn tồn tại:
- Bắt nguồn từ phía sách giáo khoa, với nội dung bài tập và mức độ u
cầu chưa cao nên việc khắc sâu, củng cố các dạng tốn chưa thật hiệu quả, tư
duy của học sinh chưa được chú ý đúng mức. Bởi thế các em sẽ gặp nhiều khó
khăn khi gặp các bài tập nâng cao hoặc những bài Tốn diễn ra trong thực tế
hàng ngày.
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
12
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
- Bắt nguồn từ phía giáo viên, một số đồng chí còn mang nặng dạy học
theo phương pháp cổ truyền nên học sinh tiếp nhận kiến thức giải các bài tốn
riêng lẻ mà chưa có phương pháp tổng qt để áp dụng cho các bài tốn khác
nhau.
Chương 3: GIẢI PHÁP VẤN ĐỀ
VỊ TRÍ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA DẠY PHÉP NHÂN
CHO HỌC SINH LỚP 3
A. Vị trí và tầm quan trọng của dạy phép nhân trong dạy học tốn lớp3:
- Dạy học các phép tính nhân là một chủ đề quan trọng trong chương trình
Tốn lớp 3 bậc Tiểu học, vì:
+ Đây là một trọng tâm lớn xun suốt trong trương trình Tốn lớp 2, 3, 4, 5.
+ Đây là những kỹ năng rất cần thiết để học lên các cấp học trên (khơng chỉ
trong mơn Tốn) và để giải quyết những bài tốn do thực tiễn cuộc sống đặt ra.
+ Đây là một mảng rất khó, trừu tượng và rất hấp dẫn, nó ảnh hưởng lớn đến
kết quả dạy Tốn đại trà và việc bồi dưỡng phát triển năng lực tư duy sáng tạo
cho học sinh giỏi bậc Tiểu học.
+ Những kiến thức, kỹ năng về phép nhân là “cầu nối” giữa Tốn học trong
nhà trường và ứng dụng trong đời sống xã hội.
+ Nhờ được rèn luyện các kỹ năng thực hành phép nhân mà học sinh giải
tốn nhanh hơn, tìm ra nhiều cách giải khác nhau của bài tốn.
+ Việc củng cố cho học sinh về tính chất của phép nhân, mối quan hệ giữa
các phép tính giúp học sinh có khả năng tính nhanh rất tốt. Thơng thường muốn
tính nhanh ta phải thực hiện “trong óc” những phép biến đổi khác nhau để thực
hiện phép tính về một dạng mới cho phép tránh được các tính tốn cồng kềnh
bằng bút, có thể thực hiện dễ dàng “trong óc” Có thể nói tính tốn (trong đó có
tính nhanh) là một mơn thể thao về tư duy. Khơng nên nghĩ rằng trong thời đại
tin học ngày nay, các máy tính bỏ túi xuất hiện nhiều với giá rẻ, khi mà các máy
tính với tốc độ tính tốn với hàng triệu phép tính trong một giây đã trở nên một
đồ dùng sinh hoạt bình thường trong gia đình...thì việc tính nhanh, tính miệng,
tính nhẩm khơng còn cần thiết nữa. Bởi vì các phương tiện tính tốn khơng thể
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
13
Sáng Kiến Kinh Nghiệm Năm học: 2009 - 2010
trợ lực hết cho ta trong mọi cơng việc hàng ngày. Nếu sử dụng một cách thái q
các cơng cụ ấy sẽ làm cho bộ óc trở nên lười biếng và trì trệ.
Ví dụ: 413 x 3
a. Cách làm thơng thường là tính viết:
413
3
1239
b. Song nếu để ý nhận xét 413 = 400 + 10 + 3 thì có thể tính nhanh bằng
cách nhẩm như sau:
413 x 3 = (400 + 10 + 3) x 3
= 400 x 3 + 10 x 3 + 3 x 3
= 1200 + 30 + 9
= 1239
Trong cách tính nhanh trên ta đã dùng tính chất phân phối của phép nhân
với phép cộng để tách phép nhân 413 x 3 thành nhiều phép nhân đơn giản có thể
làm bằng miệng.
B. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ
RÈN KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÉP NHÂN CHO HỌC SINH LỚP 3
I. Nội dung chủ yếu:
- Các bảng nhân 6, 7, 8, 9
- Bảng nhân tổng hợp: Từ bảng 1-> bảng 10
- Phép nhân ngồi bảng ( tính viết )
+ Nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số
+ Nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số
+ Nhân số có 4 chữ số với số có 1 chữ số
+ Nhân số có 5 chữ số với số có 1 chữ số
- Nhân nhẩm
- Tính giá trị biểu thức số có chứa đến 2 dấu phép tính
- Gấp một số lên nhiều lần
- So sánh hai số gấp kém nhau một số lần
Trang
Người thực hiện: Lưu Văn Thùy Giáo viên Trường Tiểu Học Mỹ Tú A.
14
x

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Toán Lớp 3 Năm Học 2009-2010