Sach giao vien Tin hoc Quyen 3

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Sach giao vien Tin hoc Quyen 3

Phần 1
A. những vấn đề chung
I. Nội dung chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Tin học cấp trung học cơ sở
1. Mục tiêu
• Kiến thức:
o Trang bị cho học sinh một số hiểu biết nhập môn về thuật toán và ngôn ngữ lập trình,
các cấu trúc chương trình cơ bản: tuần tự, rẽ nhánh và lặp ở mức phổ thông.
o Biết được các lợi ích của việc viết các chương trình máy tính để giải quyết những bài
toán khác nhau trong các lĩnh vực của đời sống.
o Biết cách sử dụng được các phần mềm học tập trình bày trong SGK.
o Hiểu được ý nghĩa của các phần mềm máy tính ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau
của cuộc sống.
• Kĩ năng:
o Giải được một số bài toán đơn giản trên máy tính bằng cách vận dụng thuật toán đơn
giản, dữ liệu chuẩn trên ngôn ngữ lập trình bậc cao cụ thể.
o Sử dụng và khai thác thành thạo các phần mềm học tập được giới thiệu.
o Rèn luyện khả năng thao tác nhanh với bàn phím và chuột máy tính.
• Thái độ:
o Ham thích môn học, tác phong làm việc nghiêm túc, cẩn thận và tinh thần làm việc
theo nhóm.
o Nghiêm túc khi học và làm việc trên máy tính không phân biệt phần mềm học tập hay
phần mềm trò chơi. Có ý thức sử dụng máy tính đúng mục đích.
o Nâng cao ý thức và lòng say mê học tập các môn học.
2. Nội dung chương trình
• Lập trình đơn giản
- Thuật toán và ngôn ngữ lập trình;
- Chương trình Turbo Pascal (TP) đơn giản;
3
- Tổ chức rẽ nhánh;
- Tổ chức lặp;
- Kiểu mảng và biến có chỉ số;
- Một số thuật toán tiêu biểu.
• Khai thác phần mềm học tập
3) Chuẩn kiến thức, kĩ năng
CHủ Đề MứC Độ CầN ĐạT GHI CHú
Lập trình đơn
giản
1. Thuật toán và
ngôn ngữ lập
trình
Kiến thức
• Biết được khái niệm bài toán, thuật toán.
• Biết rằng có thể mô tả thuật toán bằng cách liệt
kê các bước hoặc sơ đồ khối.
• Biết được một chương trình là mô tả của một
thuật toán trên một ngôn ngữ cụ thể.
Kĩ năng
• Mô tả được thuật toán đơn giản bằng liệt kê các
bước
- Nên chọn thuật toán
của bài toán gần gũi,
quen thuộc với học sinh
2. Chương trình
TP đơn giản
Kiến thức
• Biết sơ bộ về ngôn ngữ lập trình Pascal
• Biết cấu trúc của một chương trình TP: cấu trúc
chung và các thành phần.
• Biết các thành phần cơ sở của ngôn ngữ Pascal.
• Hiểu được một số kiểu dữ liệu chuẩn.
• Hiểu được cách khai báo biến.
• Biết được các khái niệm: phép toán, biểu thức
số học, hàm số học chuẩn, biểu thức quan hệ.
• Hiểu được lệnh gán.
• Biết các câu lệnh vào/ra đơn giản để nhập thông
tin từ bàn phím và đưa thông tin ra màn hình.
Kĩ năng
• Viết được chương trình TP đơn giản, khai báo
đúng biến, câu lệnh vào/ra để nhập thông tin từ
bàn phím hoặc đưa thông tin ra màn hình.
- Có thể sử dụng ngôn
ngữ lập trình khác theo
hướng dẫn thực hiện
chương trình.
- Minh hoạ các khái
niệm bằng một chương
trình TP đơn giản.
- Cần xây dựng các bài
thực hành và tổ chức
thực hiện tại phòng
máy để học sinh đạt
được những kỹ năng
theo yêu cầu
3. Tổ chức rẽ
nhánh
Kiến thức
• Hiểu được câu lệnh rẽ nhánh (dạng thiếu và
dạng đủ).
• Hiểu được câu lệnh ghép.
Kĩ năng
• Viết đúng các lệnh rẽ nhánh khuyết, rẽ nhánh
đầy đủ.
- Nhấn mạnh 3 cấu trúc
điều khiển là tuần tự, rẽ
nhánh và lặp.
- Trình bày được thuật
toán của một số bài
toán rẽ nhánh thường
gặp, chẳng hạn giải
4
CHủ Đề MứC Độ CầN ĐạT GHI CHú
• Biết sử dụng đúng và có hiệu quả câu lệnh rẽ
nhánh.
phương trình bậc nhất.
4. Tổ chức
lặp
Kiến thức
• Hiểu được câu lệnh lặp kiểm tra điều kiện
trước, vòng lặp với số lần định trước.
• Biết được các tình huống sử dụng từng loại lệnh
lặp.
Kĩ năng
• Viết đúng lệnh lặp với số lần định trước.
- Kĩ năng chỉ yêu cầu
sử dụng lệnh lặp với số
lần định trước.
5. Kiểu mảng và
biến có chỉ số
Kiến thức
• Biết được khái niệm mảng một chiều
• Biết cách khai báo mảng, truy cập các phần tử
của mảng
Kĩ năng
• Thực hiện được khai báo mảng, truy cập phần
tử mảng, sử dụng các phần tử của mảng trong
biểu thức tính toán
- Yêu cầu học sinh viết
được chương trình của
một số bài toán sau:
nhập giá trị phần tử của
mảng, in, tính tổng các
phần tử
6. Một số thuật
toán tiêu biểu
Kiến thức
• Hiểu thuật toán của một số bài toán thường gặp
như: tìm số lớn nhất, số nhỏ nhất; kiểm tra 3 số
cho trước có phải là độ dài 3 cạnh của tam giác
không.
Khai thác phần
mềm học tập
Kiến thức
• Biết cách sử dụng phần mềm học tập đã lựa
chọn
Kĩ năng
• Thực hiện được các công việc khởi động/ra
khỏi, sử dụng bảng chọn, các thao tác tương tác
với phần mềm.
- Lựa chọn phần mềm
học tập theo hướng dẫn
thực hiện chương trình.
II. Giới thiệu sách giáo khoa tin học dành cho trung học cơ sở - quyển 3
1. Cấu trúc, nội dung và phân bổ thời lượng
Sách giáo khoa Tin học dành cho THCS Q3 được biên soạn theo một số định hướng cụ
thể sau:
 Thể hiện đúng các nội dung, yêu cầu của chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo
phê duyệt là cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực và có hệ
thống ban đầu về thuật toán và kĩ thuật lập trình.
 Tiếp cận được trình độ giáo dục phổ thông của các nước tiên tiến trong khu vực và trên
thế giới.
5
 Nội dung sách giáo khoa tập trung vào những kiến thức định hướng để từ đó học sinh có
thể phát huy những yếu tố tích cực của các thành tựu công nghệ thông tin và tăng cường
khả năng tự học.
 Nội dung, cách trình bày và diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu thông qua mô tả và các ví dụ
minh hoạ cụ thể.
• Cấu trúc
Tương ứng với Chương trình giáo dục phổ thông môn Tin học, cấp Trung học Cơ sở
(THCS), phần III, sách giáo khoa (SGK) gồm hai phần:
Phần 1- Lập trình đơn giản: gồm 9 bài lí thuyết, 7 bài thực hành;
Phần 2 - Phần mềm học tập: gồm 4 bài lí thuyết kết hợp với thực hành.
• Nội dung
TIN học dành cho THCS - quyển 3
Phần 1- Lập trình đơn giản
Bài 1. Máy tính và chương trình máy tính
Bài 2. Làm quen với Chương trình và Ngôn ngữ lập trình
Bài thực hành 1. Làm quen với Turbo Pascal
Bài 3. Chương trình máy tính và dữ liệu
Bài thực hành 2. Viết chương trình để tính toán
Bài 4. Sử dụng biến trong chương trình
Bài thực hành 3. Khai báo và sử dụng biến
Bài 5. Từ bài toán đến chương trình
Bài 6. Câu lệnh điều kiện
Bài thực hành 4. Sử dụng lệnh điều kiện if ... then
Bài 7. Câu lệnh lặp
Bài thực hành 5. Sử dụng lệnh lặp for ... do
Bài 8. Lặp với số lần chưa biết trước
Bài thực hành 6. Sử dụng lệnh lặp while...do
Bài 9. Làm việc với dãy số
Bài thực hành 7 Xử lí dãy số trong chương trình
Phần 2 - Phần mềm học tập
Luyện gõ phím nhanh với Finger Break Out
Tìm hiểu thời gian với phần mềm Sun Times
Học vẽ hình với phần mềm Geogebra
Quan sát hình không gian với phần mềm Yenka
• Đề xuất phân bổ thời lượng:
6
Nội dung Bài lí thuyết hoặc lí thuyết kết
hợp thực hành
Bài thực
hành
Tổng số tiết
Phần 1. Lập trình đơn giản 9 7 34
Phần 2. Phần mềm học tập 4 16
Bài tập 8
Ôn tập 4
Kiểm tra 8
Tổng cộng 13 7 70
-
-
-
-
-
2. Một số giải thích
a) Sách giáo khoa Tin học dành cho THCS - Quyển 3 được biên soạn bám sát theo nội
dung, yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông môn Tin học, cấp THCS, phần III
đã được ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
b) Phần 1 gồm 9 bài lí thuyết, mỗi bài dạy trong 02 tiết lí thuyết và 01 tiết bài tập, riêng bài
5 dạy trong 04 tiết lí thuyết và và 02 tiết bài tập; các Bài 1 và 2 không có tiết bài tập
riêng. Có 7 bài thực hành, mỗi bài dạy trong 02 tiết. Phần 2 gồm 4 bài lí thuyết kết hợp
thực hành. Mỗi bài được dạy trong trọn vẹn 04 tiết. Về cơ bản 8 tiết bài tập dành cho
việc làm bài tập phần 1 (Lập trình đơn giản), phần 2 (Phần mềm học tập) không cần tiết
bài tập.
c) Thời lượng dành cho ôn tập cuối kì là 04 tiết, mỗi học kì 02 tiết. Thời lượng dành cho
các bài kiểm tra định kì là 8 tiết, mỗi học kì 04 tiết.
Việc phân bổ thời lượng trên đây chỉ là tương đối, trong quá trình dạy học giáo viên (GV) có
thể điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tiễn.
d) Trong phân bổ thời lượng, số tiết bài tập là khá nhiều (8 tiết). Điều này thể hiện câu hỏi,
bài tập là một phần quan trọng trong việc giúp HS tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng.
e) Các nội dung đọc thêm ở cuối bài là không bắt buộc, tránh yêu cầu tất cả HS phải đọc,
hiểu, gây quá tải. GV có thể chọn lựa, giới thiệu, giải thích đôi chút để gây hứng thú
cho các em ham thích, đọc thêm.
3. Gợi ý về cách tiến hành giảng dạy
a) Về cơ bản SGK lựa chọn phương án trình bày kiến thức, kĩ năng chung về lập trình và
sử dụng ngôn ngữ Pascal để minh hoạ. Cách tiếp cận này thể hiện rõ việc dạy lập trình
7
nói chung mà không phải là dạy ngôn ngữ lập trình cụ thể Pascal. Tuy nhiên, khi giảng
dạy GV không nhất thiết phải trình bày theo cách tiếp cận này. Có thể tiếp cận bằng
cách đi từ ngôn ngữ lập trình cụ thể Pascal rồi khái quát thành những kiến thức, kĩ năng
của lập trình nói chung. Cách tiếp cận từ cụ thể đến khái quát có thể sẽ phù hợp hơn với
phần lớn HS THCS. Trong SGV, ở nội dung của từng bài cụ thể được gợi ý về cách dạy
học theo hướng từ cụ thể để khái quát.
b) Do sử dụng ngôn ngữ Pascal để minh hoạ, thời lượng làm việc với các câu lệnh, chương
trình, phần mềm TP là khá nhiều nên dễ cảm nhận là đang học ngôn ngữ Pascal. Vì vậy,
trong quá trình dạy học GV cần lưu ý tiến hành khái quát đúng lúc, đúng chỗ để HS
vượt ra khỏi một ngôn ngữ cụ thể, rút ra được những kiến thức, kĩ năng, nguyên lí của
lập trình nói chung. Trong SGV có hướng dẫn thời điểm khái quát hoá kiến thức, kĩ
năng ở một số bài học cụ thể.
c) Các chương trình được viết khi học ở tiết lí thuyết, tiết bài tập cần để HS chạy thử ở
bài thực hành ngay sau đó. Làm như vậy sẽ giúp HS củng cố, hiểu rõ hơn về nội dung lí
thuyết vừa học. Hơn nữa, việc này sẽ giúp tạo hứng thú, củng cố niềm tin cho HS, gắn
kết tốt hơn giữa học với hành. Để tránh HS mất nhiều thời gian vào việc gõ chương
trình, GV nên gõ sẵn các chương trình được viết trong giờ lí thuyết, giờ bài tập để HS
chỉnh sửa, chạy thử, tìm hiểu trong giờ thực hành, không nên yêu cầu HS gõ các chương
trình này trong tiết thực hành.
d) Trong phân bổ thời lượng dành 8 tiết để làm bài tập, 4 tiết để ôn tập. Các tiết này chưa
được định nội dung cụ thể, GV hoàn toàn chủ động đưa ra nội dung cho tiết bài tập, ôn
tập. Tuy nhiên, tiết bài tập nên dành thời gian để hướng dẫn học sinh làm một số bài tập
trong SGK (nếu trong tiết lí thuyết chưa làm hết), chuẩn bị cho những bài thực hành sau
đó. Tuỳ mức độ tiếp thu của HS, GV có thể ra thêm các bài tập, bổ sung bài thực hành
trên máy tính để HS ôn luyện kiến thức, kĩ năng. Các tiết ôn tập nên được bố trí vào
cuối kì (ngay trước hoặc ngay sau bài kiểm tra cuối học kì), trong tiết ôn tập cần tổng
kết, khái quát những kiến thức, kĩ năng trọng tâm của chương trình để HS khắc sâu, ghi
nhớ. Đặc biệt tiết ôn tập cần khái quát hoá để thể hiện được tư tưởng dạy lập trình mà
không dạy ngôn ngữ lập trình cụ thể.
e) Trong SGV có gợi ý mô tả một số thuật toán theo cách biểu diễn gần với câu lệnh mà
học sinh cần viết hoặc cần tìm hiểu trong chương trình tương ứng. GV có thể tham
khảo, lựa chọn cách mô tả này để giảng dạy phù hợp với đối tượng HS của mình.
f) Các bài toán được giới thiệu trong SGK nói chung là đơn giản, có thể viết chương trình
mà không gặp nhiều khó khăn. Đối với một bài toán cụ thể, nhiệm vụ của HS là viết
được chương trình. Tuy nhiên, qua các bài toán HS cần hiểu và thực hiện được các
bước giải bài toán trên máy tính: Xác định bài toán, xây dựng (lựa chọn) thuật toán và
viết chương trình. Do vậy, cần thực hiện đầy đủ các bước đi từ bài toán đến chương
trình: Xác định input, output của bài toán, xây dựng, mô tả thuật toán bằng cách liệt kê
và viết chương trình.
g) Có một thực tế là một số câu lệnh (nhất là câu lệnh có cấu trúc) thì hay được giới thiệu
gắn liền với một số bài toán, thuật toán điển hình nào đó. Cách làm này có thuận lợi là
8
HS vừa học được câu lệnh mới vừa học được bài toán, thuật toán mới. Tuy nhiên, đối
với một số HS việc cùng lúc phải học cả hai nội dung mới không phải lúc nào cũng dễ
dàng. Để giảm bớt khó khăn cho HS, nên tách việc dạy câu lệnh mới với việc dạy thuật
toán mới, nghĩa là dạy xong câu lệnh rồi đến thuật toán hoặc ngược lại. Trong SGV có
giới thiệu một số cách làm như vậy, bài toán sử dụng để giới thiệu hoặc áp dụng câu
lệnh mới thường dễ hoặc HS đã biết bài toán, thuật toán từ trước. Khi đó, HS chỉ còn
duy nhất nhiệm vụ tìm hiểu câu lệnh, không phải mất thời gian để hiểu bài toán, thuật
toán. HS chỉ cần tập trung tìm hiểu câu lệnh mới. Ngược lại, khi giới thiệu thuật toán
mới thì cần sử dụng câu lệnh HS đã biết sử dụng, lúc đó HS cũng chỉ tập trung vào tìm
hiểu thuật toán mới. Hi vọng cách làm như vậy sẽ tạo thuận lợi để học sinh tiếp thu kiến
thức nhẹ nhàng hơn.
h) SGK là tài liệu mà HS nào cũng có. SGK được in màu, hình thức đẹp, các tranh, ảnh
cách trình bày trong SGK đã được chọn lọc, cân nhắc kĩ lưỡng. Vì vậy, cần khai thác tối
đa SGK trong quá trình dạy học. Một trong những việc có thể thực hiện ngay trong lớp
học đó là hướng dẫn HS và dành thời gian cho HS tự nghiên cứu nội dung SGK. Ban
đầu việc giao bài cho HS đọc có thể mất thời gian, nhưng khi kĩ năng đọc hiểu của HS
được cải thiện thì việc dành thời gian để các em tự đọc có thể sẽ không những không
mất thời gian mà ngược lại sẽ tiết kiệm thời gian.
i) Việc dạy học các phần mềm dạy học sẽ hiệu quả hơn nếu tiến hành tại phòng máy tính.
Nhưng khi dạy lập trình không nên lạm dụng phòng máy tính. Tiết thực hành cơ bản là
để HS chạy thử chương trình, rèn luyện kĩ năng làm việc với môi trường lập trình.
Không để tình trạng vào tiết thực hành HS mới biết bài toán và viết chương trình ngay
trên máy tính mà chưa chuẩn bị trước.
j) Việc giới thiệu phần mềm học tập nhằm mục đích chính là cung cấp kiến thức, rèn
luyện kĩ năng khai thác phần mềm cho HS. Bên cạnh đó, việc khai thác phần mềm học
tập còn nhằm mục đích tạo sự thay đổi, gây thêm hứng thú học tập. Do vậy, mặc dù
SGK trình bày hai phần tách biệt nhưng không có nghĩa là phải dạy theo đúng tuần tự
trình bày các bài trong SGK. Nội dung của Phần 2 (Phần mềm học tập) cần được dạy
xen kẽ với Phần 1 (Lập trình đơn giản). Cũng chính vì lí do này mà trong SGK không
đánh số thứ tự bài ở phần Phần mềm học tập.
4. Ôn tập và kiểm tra
a) Thời lượng dành cho ôn tập là 04 tiết (02 tiết/học kì). Căn cứ vào tình hình thực tế của
lớp học, giáo viên tự xác định nội dung các tiết ôn tập. Tuy nhiên, nên dành các tiết ôn
tập để ôn luyện, tổng kết kiến thức, kĩ năng trọng tâm của chương trình. Trong các tiết
ôn tập GV cần khái quát kiến thức, kĩ năng lập trình nói chung thể hiện rõ mục tiêu,
trọng tâm của chương trình.
b) Thời lượng để kiểm tra, đánh giá là 8 tiết, mỗi học kì 04 tiết. Có thể dành 2 tiết cho bài
kiểm tra cuối học kì, 2 tiết còn lại dành cho các bài kiểm tra định kì trong học kì. Nếu
tiến hành hai bài kiểm tra định kì (mỗi bài 1 tiết) trong một học kì, thì nên có một bài
kiểm tra trên giấy, 1 bài kiểm tra thực hành trên máy. Hướng dẫn cụ thể hơn về kiểm
9
tra, đánh giá có trong cuốn Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa môn Tin
học lớp 8 và phân phối chương trình môn học.
c) Nội dung kiểm tra phải đảm bảo cả lí thuyết và thực hành. Cần lựa chọn nội dung kiểm
tra để đảm bảo bao quát hết kiến thức, kĩ năng trọng tâm của chương trình.
d) Một số nội dung trong phần lập trình đơn giản thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp
trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá. Vì vậy, cần lưu ý tăng cường sử dụng
trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá nội dung này.
e) Việc kiểm tra, đánh giá có tác động đến quá trình dạy học. Để định hướng học tập đúng
cho HS, bên cạnh việc kiểm tra những kiến thức, kĩ năng gắn liền với ngôn ngữ lập
trình cụ thể, cần dành một tỉ lệ thích đáng cho câu hỏi, bài tập về kiến thức, kĩ năng lập
trình nói chung. Những câu hỏi, bài tập này sẽ giúp HS có ý thức chú trọng đến kiến
thức, kĩ năng lập trình nói chung, tránh HS chỉ chú trọng đến đến chi tiết cụ thể của
ngôn ngữ lập trình Pascal.
f) Cần tiến hành đánh giá học sinh trong giờ thực hành, điểm này là điểm kiểm tra thường
xuyên (hệ số 1). Trong tiết thực hành có thể đánh giá, cho điểm cả lớp một nhóm hoặc
một vài học sinh. Tuy nhiên, cần lưu ý mục tiêu của giờ thực hành là để học sinh thực
hành, không phải là giờ kiểm tra. Kiểm tra trong giờ thực hành là để học sinh tập trung,
chăm chỉ, nghiêm túc học tập.
g) Việc kiểm tra, đánh giá môn Tin học cấp THCS được thực hiện theo Quy chế Đánh giá,
xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông (Ban hành kèm theo
Quyết định số: 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo).
5. Thiết bị dạy học
a) Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiến hành xây dựng, ban hành danh mục thiết bị dạy học
tối thiểu môn Tin học cấp THCS. Theo đó, các trường THCS phải đáp ứng được danh
mục thiết bị dạy học tối thiểu này thì mới có thể tổ chức dạy học môn Tin học. Dự kiến
danh mục thiết bị dạy học tối thiểu quy định mỗi trường THCS phải có tối thiểu một
phòng máy với ít nhất 25 máy vi tính nối mạng và kết nối Internet. Ngoài máy tính,
danh mục còn có các tranh, ảnh được phóng to để dạy học.
b) Phần lớn các nội dung dạy học Tin học THCS sẽ rất hiệu quả khi sử dụng các thiết bị
trình chiếu, do vậy máy chiếu projector, máy chiếu overhead, máy chiếu vật thể,... là các
thiết bị được khuyến khích trang bị để dạy học cho môn Tin học.
c) Trong SGK sử dụng phần mềm Turbo Pascal để minh hoạ. Phần mềm TP chạy trên các
máy tính có tốc độ cao hiện nay có thể bị lỗi Division by zero (khi sử dụng thư viện crt -
uses crt). GV có thể tải phần mềm TP đã được chỉnh sửa lỗi này trên website
www.vnschool.net. Với các nội dung dạy học trong SGK thì hoàn toàn có thể thay thế TP
(for Dos) bằng Pascal for Windows hoặc Free Pascal. Các phần mềm phục vụ dạy học
theo SGK (kể cả các phần mềm học tập) đều có thể được tải về từ website nêu trên và
có sẵn trong đĩa CD của GV tham dự lớp bồi dưỡng GV cốt cán.
10
d) Những trường được trang bị hệ thống Hishare (một CPU kết nối với nhiều màn hình) có
thể gặp khó khăn khi sử dụng TP (for DOS), do tốc độ rất chậm. Trong trường hợp đó
nên thay thế TP (for DOS) bằng Pascal for Windows hoặc Free Pascal.
e) Hiện nay ở một số trường THCS có thể còn có những máy tính cấu hình thấp đã được
trang bị từ trước. Những máy tính này hoàn toàn có thể được sử dụng để thực hành với
phần mềm TP (for DOS). Do vậy, cần rà soát, tận dụng các máy tính cũ để phục vụ cho
các tiết thực hành với TP.
f) Hiện nay có một số phần mềm hỗ trợ cho việc quản lí dạy học trên phòng máy tính.
Hơn thế nữa các phần mềm này còn giúp khai thác phòng thực hành môn Tin học như
một phòng đa phương tiện để dạy học môn học khác. Dưới đây giới thiệu một số phần
mềm để giáo viên tham khảo:
o XClass: www.hungphat.com.vn.
o Magic Class: www.anhkiet.com.vn.
o NetOPSchool (Đề nghị sử dụng www.google.com để tìm kiếm).
o E-Learning Class (Đề nghị sử dụng www.google.com để tìm kiếm).
11
B. những vấn đề cụ thể
phần 1. lập trình đơn giản
I. Giới thiệu
1. Mục tiêu
Mục tiêu của phần này là cung cấp cho HS một số kiến thức, kĩ năng cơ bản, phổ thông
về lập trình thông qua ngôn ngữ lập trình bậc cao Pascal.
Kiến thức
• Biết được khái niệm bài toán, thuật toán, mô tả thuật toán bằng cách liệt kê;
• Biết được một chương trình là mô tả của một thuật toán trên một ngôn ngữ cụ thể;
• Hiểu thuật toán của một số bài toán đơn giản (tìm số lớn nhất, số nhỏ nhất; kiểm tra ba
số cho trước có phải là độ dài ba cạnh của một tam giác không);
• Biết cấu trúc của một chương trình, một số thành phần cơ sở của ngôn ngữ;
• Hiểu một số kiểu dữ liệu chuẩn, đơn giản, cách khai báo biến;
• Biết các khái niệm: phép toán, biểu thức số học, hàm số học chuẩn, biểu thức quan hệ;
• Hiểu được lệnh gán;
• Biết các câu lệnh vào/ra đơn giản để nhập thông tin từ bàn phím và đưa thông tin ra
màn hình;
• Hiểu được câu lệnh điều kiện, câu lệnh ghép, câu lệnh lặp kiểm tra điều kiện trước,
vòng lặp với số lần định trước;
• Biết được các tình huống sử dụng từng loại lệnh lặp;
• Biết được khái niệm mảng một chiều, cách khai báo mảng, truy cập các phần tử của
mảng.
Kĩ năng
• Mô tả được thuật toán đơn giản bằng liệt kê các bước;
• Viết được chương trình đơn giản, khai báo đúng biến, câu lệnh vào/ra để nhập thông
tin từ bàn phím hoặc đưa thông tin ra màn hình;
• Viết đúng các lệnh rẽ nhánh khuyết, rẽ nhánh đầy đủ;
• Biết sử dụng đúng và có hiệu quả câu lệnh điều kiện;
• Viết đúng lệnh lặp với số lần định trước;
• Thực hiện được khai báo mảng, truy cập phần tử mảng, sử dụng các phần tử của mảng
trong biểu thức tính toán.
Thái độ
• Nghiêm túc trong học tập, ham thích lập trình trên máy tính để giải các bài tập.
12
2. Nội dung
Bài 1. Máy tính và chương trình máy tính (2 tiết)
Bài 2. Làm quen với chương trình và ngôn ngữ lập trình (2 tiết)
Bài thực hành 1. Làm quen với Turbo Pascal (2 tiết)
Bài 3. Chương trình máy tính và dữ liệu (2 tiết)
Bài thực hành 2. Viết chương trình để tính toán (2 tiết)
Bài 4. Sử dụng biến trong chương trình (2 tiết)
Bài thực hành 3. Khai báo và sử dụng biến (2 tiết)
Bài 5. Từ bài toán đến chương trình (4 tiết)
Bài 6. Câu lệnh điều kiện (2 tiết)
Bài thực hành 4. Sử dụng lệnh điều kiện if ... then (2 tiết)
Bài 7. Câu lệnh lặp (2 tiết)
Bài thực hành 5. Sử dụng lệnh lặp for ... do (2 tiết)
Bài 8. Lặp với số lần chưa biết trước (2 tiết)
Bài thực hành 6. Sử dụng lệnh lặp while...do (2 tiết)
Bài 9. Làm việc với dãy số (2 tiết)
Bài thực hành 7. Xử lí dãy số trong chương trình (2 tiết)Như đã nói ở trên, việc phân bố thời
lượng như trên chỉ là tương đối, trong quá trình giảng dạy, nhà trường, giáo viên có thể phân bố
thời lượng cho các bài sao cho phù hợp hơn với tình hình cụ thể của nhà trường và trình độ
nhận thức của học sinh.
3. Những điểm cần lưu ý và gợi ý dạy học
a. Nội dung của phần này là cung cấp cho học sinh một số kiến thức và kĩ năng ban đầu về lập
trình. Sau phần này, học sinh sẽ có một số hiểu biết cơ bản về lập trình, viết được một số
chương trình đơn giản bằng một ngôn ngữ lập trình cụ thể là ngôn ngữ Pascal. Các chương
trình đơn giản này một mặt gây sự hứng thú cho học sinh trong việc tìm hiểu các bài toán phức
tạp hơn và viết chương trình để giải quyết các bài toán đó, mặt khác chúng có thể phục vụ cho
việc học tập và tìm hiểu sâu hơn các môn học khác, nhất là môn Toán.
Phần này được chia thành 9 bài lí thuyết và 7 bài thực hành, nội dung mỗi bài được biên
soạn để trình bày trọn vẹn trong 02 tiết và 01 tiết bài tập. Riêng với Bài 5 thời lượng được tăng
gấp đôi, tức 04 tiết lí thuyết và 02 tiết câu hỏi và bài tập. Mỗi bài thực hành được trình bày
ngay sau bài lý thyết nhằm mục đích để học sinh ghi nhớ và rèn luyện những kiến thức và kĩ
năng học sinh đã học trong bài lí thuyết trước đó.
b. Về cơ bản SGK trình bày theo cách tiếp cận các kiến thức, khái niệm cơ bản về lập trình
từ khái quát đến cụ thể. Mục tiêu của SGK là trình bày các khái niệm ban đầu về lập trình nói
chung, với cố gắng không gắn với một ngôn ngữ lập trình cụ thể. Cách tiếp cận này thể hiện rõ
mục tiêu chính của chương trình là dạy kiến thức, kĩ năng về lập trình, ngôn ngữ lập trình nói
chung, không phải dạy một ngôn ngữ lập trình nhất định.
13
Đối với HS THCS, để HS dễ tiếp thu, việc trình bày về ngôn ngữ lập trình cần thông qua
một ngôn ngữ lập trình cụ thể để minh hoạ, giải thích. Hơn nữa, các kĩ năng lập trình như viết,
chỉnh sửa, dịch, chạy và kiểm thử chương trình đòi hỏi phải sử dụng một ngôn ngữ lập trình
bậc cao cụ thể. Khó có thể lựa chọn một ngôn ngữ lập trình cụ thể nào đó đáp ứng cùng lúc
được các tiêu chí như: hiện đại, cập nhật, dễ hiểu, dễ dùng, giá thành rẻ (hoặc miễn phí) và tính
sư phạm cao. Cho nên cách sử dụng Pascal để minh hoạ trong SGK chỉ là một phương án. Giáo
viên có thể thay thế ngôn ngữ Pascal bằng một ngôn ngữ lập trình khác phù hợp hơn với thực tế
của lớp học miễn là truyền đạt được kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu của chương trình.
Việc lựa chọn ngôn ngữ Pascal để minh hoạ trong SGK cũng được cân nhắc kĩ lưỡng bởi
một số lí do chính sau đây: (1) Ngôn ngữ Pascal là ngôn ngữ lập trình cấu trúc, trong sáng, có
tính sư phạm cao; (2) Phần lớn GV Tin học ở cấp THCS hiện nay đã được học và thực hành
ngôn ngữ lập trình Pascal là chính; (3) Ngôn ngữ Pascal có nhiều phiên bản chạy được trên hệ
điều hành khác nhau hiện có trong trường THCS; (4) Ngôn ngữ lập trình Pascal chạy được trên
hầu hết tất cả các máy đã được trang bị ở các trường THCS từ trước đến nay; (5) Việc cài đặt
Pascal là dễ dàng và ngôn ngữ Pascal có thể được sử dụng miễn phí.
Cũng có thể có ý kiến cho rằng có thể chọn một ngôn ngữ lập trình khác để minh họa, chẳng
hạn như Logo, Basic, VB, C hoặc Java, nhất là VB, C và Java do chúng là những ngôn ngữ hiện
đại và hiện được sử dụng để phát triển hầu hết các ứng dụng. Hai ngôn ngữ đầu là những ngôn
ngữ ít được phổ biến, hoặc đã không còn được sử dụng rộng rãi. Những ngôn ngữ sau lại là
những ngôn ngữ khá nặng nề và phức tạp trong việc cài đặt và sử dụng, nhất là trong điều kiện
hiện nay về cơ sở vật chất của các trường phổ thông. Do đó các tác giả thấy rằng hiện tại Pascal
vẫn là lựa chọn hợp lí và khả thi nhất.
Tuy sử dụng Pascal để minh họa, khi giảng dạy giáo viên cần lưu ý truyền đạt kiến thức về
lập trình là chính, tránh việc sa đà trình bày quá nhiều chi tiết về các thủ thuật với ngôn ngữ
Pascal.
c. Do chỉ là một ngôn ngữ đóng vai trò minh họa cho các kiến thức bắt đầu về lập trình nên
các nội dung cụ thể gắn liền với Pascal trong SGK đã được cố gắng trình bày một cách cô
đọng, tăng tính trực quan và giảm tối đa tính hình thức theo nguyên tắc cần đến đâu thì giới
thiệu đến đó. SGK không nhằm mục đích giới thiệu các thành phần, kiểu dữ liệu, cú pháp, ngữ
nghĩa của các câu lệnh và các đặc trưng khác của Pascal một cách đầy đủ như là cẩm nang về
lập trình. Chẳng hạn, rất nhiều kiểu dữ liệu, câu lệnh điều kiện case, các câu lệnh lặp khác,...
không được giới thiệu trong SGK, nhiều câu lệnh chỉ được giới thiệu ngắn gọn mà không đi sâu
vào giải thích cú pháp và ngữ nghĩa, v.v.
Các ví dụ và chương trình Pascal cũng được lựa chọn và trình bày theo nguyên tắc trên. Xét
về mặt nào đấy, chúng có thể chưa phải là những chương trình đã được viết một cách gọn nhất
hoặc tối ưu nhất. Tuy nhiên chúng được mô tả và trình bày một cách phù hợp với sự phát triển
tư duy của học sinh sau khi đã được giới thiệu phần kiến thức tương ứng về ngôn ngữ lập trình.
Trong quá trình học tập, với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh có thể chỉnh sửa để có các
chương trình tốt hơn, qua đó phát triển tốt hơn các kĩ năng lập trình.
d. Về thứ tự trình bày các nội dung trong Phần 1, giáo viên cần lưu ý một vài điểm sau đây.
Trước hết, cần nhấn mạnh rằng việc xác định bài toán và xây dựng thuật toán là bước quan
14
trọng nhất trong việc viết chương trình. Chương trình chỉ là thể hiện một thuật toán cụ thể bằng
ngôn ngữ lập trình. Chương trình chỉ hoạt động có hiệu quả khi có thuật toán đúng và tối ưu và
do vậy chỉ có thể viết được chương trình sau khi đã xây dựng và mô tả thuật toán. Xét theo thứ
tự thời gian và tư duy logic thì nội dung giới thiệu về bài toán và thuật toán cần được giới thiệu
ngay từ Bài 1.
Tuy nhiên, các tác giả cho rằng nội dung về thuật toán và mô tả thuật toán là vấn đề khó nhất
trong toàn bộ nội dung của SGK. Trước hết, thuật toán luôn luôn gắn liền với tư duy toán học,
việc mô tả thuật toán lại gắn liền với tư duy công nghệ. Không phải ngẫu nhiên mà đa phần học
sinh thường khó hiểu nội dung phép gán giá trị cho một biến, đặc biệt là dưới dạng X = X + 1.
Nếu trình bày về thuật toán ngay trong Bài 1, khi học sinh mới bắt đầu một năm học mới, sẽ
gây cảm giác quá tải cho học sinh, nhất là đối với phần lớn học sinh không có nhiều năng khiếu
về toán. Hơn thế nữa, việc giới thiệu như thế sẽ làm cho học sinh hiểu nhầm rằng lập trình
chính là giải toán (mặc dù việc giải quyết các bài toán nhỏ đúng là như thế).
Mặt khác, với tâm sinh lí học sinh THCS, trước khi giới thiệu những nội dung khó cần bắt
đầu dẫn dắt từ những nội dung nhẹ nhàng hơn và dễ gây hứng thú cho học sinh. Nội dung của
các bài từ 1 đến 4 phục vụ mục đích này.
Có một lý do khác là nếu chưa được giới thiệu và chưa hiểu được bản chất của phép gán,
học sinh sẽ rất khó hiểu các nội dung về thuật toán. Trong khi đó, để học sinh có được khái
niệm về phép gán thì cách tốt nhất là giới thiệu các nội dung liên quan đến biến trong lập trình.
Cuối cùng, để học sinh hiểu được nội dung của các bài từ 1 đến 4 không cần thiết phải có
những kiến thức về thuật toán. Các vấn đề giới thiệu trong các bài đó và trong các bài thực hành
có thể giải quyết được với những “thuật toán hiển nhiên”, hầu như học sinh nào cũng có thể
nhận biết và áp dụng. Tuy nhiên, trước khi đề cập tới các cấu trúc điều khiển trong chương
trình thì lại cần thiết phải giới thiệu trước về khái niệm thuật toán và mô tả thuật toán.
Đó chính là lí do nội dung về bài toán và thuật toán được trình bày trong Bài 5.
e. Mỗi phần nội dung trong SGK được trình bày trong một bài lí thuyết và một bài thực
hành. Bài lí thuyết giới thiệu các kiến thức ban đầu về nội dung tương ứng. Ngay sau bài lí
thuyết (trừ bài 1 và bài 5) là bài thực hành những kiến thức lí thuyết đã học. Mục đích chính
của các bài thực hành là cung cấp kĩ năng cho HS, qua đó hiểu sâu hơn về các nội dung vừa học
ở bài lí thuyết. Các bài thực hành này về cơ bản là để HS thực hành, sử dụng những nội dung
vừa học ở phần lí thuyết. Tuy nhiên, càng về sau các bài thực hành không chỉ phục vụ cho việc
củng cố, thực hành nội dung lí thuyết của bài học tương ứng mà còn giúp ôn luyện những kiến
thức, kĩ năng đã được học ở các bài trước đó.
f. Cấu trúc của mỗi bài lí thuyết được xây dựng một cách nhất quán như sau:
Mỗi bài lí thuyết đêu cố gắng bắt đầu bằng những ví dụ trong cuộc sống hàng ngày, từ đó
dẫn dắt đến cách thức giải quyết các vấn đề đời thường đó bằng cách viết chương trình. Quan
điểm của các tác giả là chương trình máy tính được viết chính là để giải quyết các bài toán đời
thường như thế. Bằng cách đó học sinh sẽ dễ thấy hơn mối liên hệ chặt chẽ giữa việc lập trình
và cuộc sống, cũng lợi ích của việc lập trình để giải quyết các bài toán bằng máy tính.
15
Phần nội dung tiếp theo trình bày các thành phần cơ bản hoặc cấu trúc tương ứng của ngôn
ngữ lập trình nói chung. Các nội dung này được cố gắng trình bày ở mức tổng quát nhất có thể,
nhưng vẫn đảm bảo học sinh có thể hiểu được. Do đó, khi sử dụng Pascal để minh họa trong
các mục tiếp theo, SGK không cố gắng trình bày cú pháp và ngữ nghĩa của các câu lệnh Pascal
một cách đầy đủ và chi tiết. Giáo viên cần lưu ý điều này để bổ sung cho học sinh trong các bài
thực hành tiếp ngay sau đó.
Cuối cùng là một số ví dụ về chương trình để minh họa tình huống sử dụng. Về các ví dụ,
các tác giả đã cố gắng hạn chế đến mức tối đa việc lập trình giải quyết các bài toán có nội dung
toán học, tránh gây quá tải cho học sinh hoặc dẫn đến sự hiểu nhầm là lập trình gắn liền với
toán học. Tuy nhiên, do hạn chế về nội dung của chương trình, những minh họa gây hứng thú
hơn như thiết kế giao diện, màu sắc, phông chữ hoặc mô phỏng chuyển động của các đối tượng
trên màn hình đã không được đưa vào. Do vậy các ví dụ về toán học vẫn chiếm một tỷ lệ đáng
kể.
Cuối mỗi bài lí thuyết đều có mục Ghi nhớ liệt kê một số điểm chính của bài học để HS dễ
dàng ghi nhớ. Mục ghi nhớ là căn cứ để GV xác định nội dung kiến thức, kĩ năng trọng tâm của
mỗi bài.
Mỗi bài lí thuyết đều có phần Câu hỏi và bài tập nhằm mục đích cho học sinh ôn luyện các
kiến thức, kĩ năng của bài học lí thuyết và chuẩn bị cho bài thực hành ngay sau đó. Một phần
của các câu hỏi, bài tập này chỉ là nhắc lại các kiến thức của bài học lí thuyết, vì vậy cần hướng
dẫn HS làm ngay trên lớp. Một phần khác dành để giúp học sinh nắm vững hơn cú pháp và ngữ
nghĩa của các câu lệnh Pascal. Với những câu hỏi và bài tập này giáo viên nên hướng dẫn học
sinh giải và trả lời trong tiết bài tập.
Trong phân bổ thời lượng, số tiết bài tập là khá nhiều (8 tiết). Điều này thể hiện câu hỏi, bài
tập là một phần quan trọng trong việc giúp HS tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng. Hệ thống
câu hỏi, bài tập đa dạng, phù hợp với HS THCS, phù hợp với đổi mới dạy học và đổi mới kiểm
tra, đánh giá. Tốt nhất là nên tổ chức tiết bài tập sau khi học sinh đã thực hiện các tiết thực
hành.
Số lượng các câu hỏi và bài tập tương đối nhiều. Tuy nhiên, đa số các bài đó chỉ là các câu
hỏi và bài tập dễ, học sinh chỉ cần hiểu các kiến thức trong bài lý thuyết trước đó là có thể trả
lời và giải được. Một số bài tập khác, mặc dù không vượt quá kiến thức đã trình bày trong phần
lí thuyết, nhưng đòi hỏi học sinh vận dụng kiến thức một cách linh hoạt hơn. Việc đưa ra nhiều
câu hỏi và bài tập một mặt giúp cho việc sử dụng SGK một cách hiệu quả và linh hoạt hơn
trong những điều kiện học sinh khác nhau về trình độ, mặt khác giúp cho học sinh có thể có
điều kiện đào sâu suy nghĩ hơn kiến thức lí thuyết và giúp giáo viên phân biệt trình độ của học
sinh rõ hơn. Cũng có thể, ngay tại một trường, một số bài tập đối với học sinh trong một lớp là
hơi khó, nhưng các học sinh trong một lớp khác lại có thể tự giải tất cả các bài tập đó một cách
không khó khăn lắm. Do vậy, tuỳ tình hình tiếp thu kiến thức của HS, giáo viên có thể lựa chọn
chỉ làm một số bài hoặc chủ động ra thêm các câu hỏi, bài tập phù hợp với trình độ học sinh,
không nhất thiết phải làm hết các câu hỏi, bài tập trong SGK.
g. Các bài thực hành cũng được xây dựng một cách nhất quán với việc đề ra mục tiêu, các
bước cần thực hiện, thông thường ở mức khá chi tiết. Ngoài ra còn có các ví dụ để học sinh tìm
16
hiểu tác dụng của các câu lệnh trong chương trình. Do thời lượng có hạn, giáo viên nên khuyến
khích học sinh viết và chạy các chương trình đó khi tự học ở nhà.
Khác với các bài thực hành trong các Quyển 1 và 2, trong SGK quyển 3 nội dung các bài
thực hành không chỉ ôn luyện, củng cố, thực hành các kiến thức đã học mà còn giới thiệu kiến
thức mới, cụ thể là những kiến thức lí thuyết, nhưng gắn liền với ngôn ngữ lập trình Pascal.
Một số kiến thức này không được trình bày trong bài lí thuyết với chủ đích tránh làm dàn trải
các nội dung lí thuyết về lập trình nói chung. Một số câu lệnh, thủ tục, hàm Pascal được giới
thiệu trong bài thực hành. Kiến thức về câu lệnh được đúc rút sau khi HS đã được thực hành về
câu lệnh. Giáo viên cần nhận rõ sự khác biệt này, dành thời gian giới thiệu, hướng dẫn cho học
sinh để tăng hiệu quả của các giờ thực hành.
Mục Tổng kết cuối mỗi bài thực hành tóm tắt các kiến thức, kĩ năng cơ bản học sinh cần tiếp
thu được của bài thực hành, chủ yếu là các bước đã thực hiện, cú pháp, ngữ nghĩa cũng như
cách sử dụng của Pascal. Phần này giúp HS hệ thống lại những kiến thức, kĩ năng của bài thực
hành và là nội dung giúp HS tra cứu nhanh trong quá trình học tập. Tuy nhiên, không nên yêu
cầu học sinh học thuộc lòng phần nội dung này. Trong quá trình thực hành, học sinh sẽ từng
bước ghi nhớ cú pháp và ngữ nghĩa các câu lệnh.
h. Nội dung về bài toán và thuật toán (Bài 5) được phân bố thời lượng gấp đôi (04 tiết lí
thuyết và 02 tiết bài tập). Theo đánh giá của các tác giả, đây là một phần nội dung quan trọng,
nếu không nói là quan trọng nhất. Nếu đã nắm vững cách thức mô tả thuật toán để giải quyết
bài toán, học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu được các kiến thức trình bày trong những bài tiếp theo.
Có thể biểu diễn thuật toán bằng sơ đồ khối hoặc bằng cách liệt kê. Tuy nhiên, SGK lựa chọn
giới thiệu cách biểu diễn thuật toán bằng cách liệt kê. Về cơ bản cách liệt kê gần gũi với cách tư
duy của HS THCS hơn và đặc biệt là mô tả bằng cách liệt kê thuận lợi hơn cho viết chương
trình. ở một vài chỗ, SGK chỉ sử dụng sơ đồ khối để biểu diễn hoạt động của cấu trúc điều
khiển (rẽ nhánh, lặp). GV không giới thiệu thêm về cách biểu diễn thuật toán bằng sơ đồ khối
hoặc yêu cầu học sinh mô tả thuật toán bằng cách vẽ sơ đồ khối.
Bên cạnh các kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu của Chương trình, SGK còn giới thiệu thêm một
số nội dung, ví dụ một số công cụ lập trình (câu lệnh, hàm chuẩn, thủ tục chuẩn) nhằm tạo thêm
hứng thú cho HS; một số bài toán, thuật toán phổ thông, đơn giản để HS mở rộng thêm kiến
thức, kĩ năng; một số câu hỏi, bài tập, bài thực hành có yêu cầu cao hơn dành cho HS khá, giỏi.
Một số kiến thức như cú pháp câu lệnh, cú pháp khai báo biến, kiểu dữ liệu,... được giới
thiệu dần dần. Do cách giới thiệu như vậy nên ban đầu có thể chưa đủ, chưa bao quát hết nhưng
đảm bảo không sai. Khai báo biến, cú pháp câu lệnh rẽ nhánh, câu lệnh lặp... được đúc rút, khái
quát hoá sau tiết thực hành.
i. Các nội dung đọc thêm ở cuối bài là không bắt buộc, tránh yêu cầu tất cả HS phải đọc,
hiểu, gây quá tải. GV có thể chọn lựa, giới thiệu, giải thích đôi chút để gây hứng thú cho các
em ham thích, đọc thêm.
Việc phân bổ thời lượng cho các bài lí thuyết, thực hành là tương đối, GV có thể phối hợp
với các tiết bài tập, ôn tập để tự cân đối thời lượng cho phù hợp với tình hình giảng dạy thực
tiễn. Điều quan trọng là đảm bảo truyền đạt đúng, đủ kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu của
Chương trình.
17
II. Hướng dẫn chi tiết
Bài 1. Máy tính và chương trình máy tính
1. Mục đích, yêu cầu
• Biết con người chỉ dẫn cho máy tính thực hiện công việc thông qua lệnh.
• Biết chương trình là cách để con người chỉ dẫn cho máy tính thực hiện nhiều công việc
liên tiếp một cách tự động.
• Biết rằng viết chương trình là viết các lệnh để chỉ dẫn máy tính thực hiện các công
việc hay giải một bài toán cụ thể.
• Biết ngôn ngữ dùng để viết chương trình máy tính gọi là ngôn ngữ lập trình.
• Biết vai trò của chương trình dịch.
2. Những điểm cần lưu ý và gợi ý dạy học
Khái niệm về lệnh, nút lệnh HS đã được biết đến ở lớp 6 và lớp 7. Dựa trên hiểu biết có
sẵn của HS về lệnh, GV cần nhắc để HS nhớ lại và hình dung về lệnh một cách đơn giản, phổ
thông.
HS đã thực hiện các thao tác khởi động/thoát khỏi phần mềm, sao chép, cắt, dán và thực
hiện các bước để tắt máy tính (theo đúng quy cách). Đặc biệt HS vẫn thường xuyên sử dụng các
nút lệnh trên thanh công cụ hoặc các lệnh trong bảng chọn để làm việc với chương trình soạn
thảo văn bản, chương trình bảng tính. Khi thực hiện các thao tác này chính là HS ra lệnh cho
máy tính thực hiện một công việc nào đó. Ví dụ, khi thực hiện thao tác nháy vào nút lệnh Cut
trên thanh công cụ của Word là đã ra lệnh cho máy tính thực hiện công việc cắt văn bản.
Thực ra khái niệm về “lệnh” đối với máy tính khá phức tạp, có thể hiểu và mô tả lệnh
với các mức độ chi tiết khác nhau. Xét đến cùng thì mỗi kiến trúc máy tính đều có một tập hợp
(không nhiều) các lệnh cơ bản hay vi lệnh hoặc chỉ lệnh (micro-instruction), các lệnh dùng để
chỉ dẫn máy tính đều là một dãy các lệnh cơ bản này (với một thứ tự nhất định). Từ đó thường
nảy sinh câu hỏi đây đã phải là lệnh chưa hay là một tập hợp các lệnh. Tuy nhiên người ta
thường hiểu lệnh máy tính là một chỉ dẫn của con người để máy tính thực hiện một công việc
cụ thể nào đó. Giáo viên cũng chỉ nên giới thiệu về lệnh cho HS ở mức độ này.
Kết thúc mục 1, học sinh cần biết được rằng con người điều khiển máy tính thông qua
lệnh.
Cần cho HS nhận thấy sự khác biệt giữa việc ra lệnh cho máy tính với ra lệnh cho con
người. Qua ví dụ điều khiển rô-bốt nhặt rác, GV cần cho HS nhận thấy một công việc rất đơn
giản với con người, nhưng khi muốn máy tính thực hiện thì cần phải chia thành nhiều thao tác
nhỏ, đơn giản, cụ thể mà rô-bốt có thể thực hiện được. Có sự khác biệt đó chính là bởi vì, khác
với con người, máy tính là vật vô tri, vô giác.
Có hai cách có thể để điều khiển rô-bốt thực hiện công việc trên: Cách thứ nhất là ra từng
lệnh một và rô-bốt thực hiện từng thao tác một; Cách thứ hai là chỉ dẫn để rô-bốt tự động thực
hiện lần lượt các thao tác trên. Việc viết các lệnh để điều khiển, chỉ dẫn rô-bốt (hay máy tính)
18
thực hiện tự động một loạt các thao tác liên tiếp chính là viết Chương trình máy tính, hay còn
gọi tắt là Chương trình.
Kết thúc mục 2 và mục 3 học sinh cần biết chương trình là cách để con người chỉ dẫn cho
máy tính thực hiện nhiều công việc liên tiếp một cách tự động và viết chương trình là viết các
lệnh để chỉ dẫn máy tính thực hiện các công việc hay giải một bài toán cụ thể.
Có thể dẫn dắt HS tiếp cận khái niệm ngôn ngữ lập trình như sau: Chương trình mà con
người viết ra phải đảm bảo máy tính có thể "hiểu" được. HS đã biết máy tính chỉ có thể hiểu
được ngôn ngữ nhị phân, tức là dãy số 0 và 1. Vì vậy, về nguyên tắc để máy tính "hiểu" được
phải viết chương trình bằng ngôn ngữ máy.
Vấn đề là ngôn ngữ máy lại rất khó sử dụng, khó nhớ đối với con người. Vì vậy, rất khó
cho con người nếu sử dụng ngôn ngữ này để viết chương trình.
Do đó cần phải tìm ra một ngôn ngữ trung gian giữa con người và ngôn ngữ máy để con
người dễ dàng sử dụng khi viết chương trình và sau đó chuyển đổi sang dạng ngôn ngữ máy sao
cho máy tính có thể hiểu được. Ngôn ngữ lập trình bậc cao là giải pháp như vậy. Có thể liệt kê
ra một số ngôn ngữ lập trình bậc cao như Pascal, Free Pascal, C, Java... Để tránh quá tải cho
học sinh về mặt thuật ngữ, trong SGK các tác giả chỉ sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ lập trình nói
chung với hàm ý ngôn ngữ lập trình bậc cao.
Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, chương trình viết bằng ngôn ngữ lập trình phải được
chuyển sang thành chương trình ở ngôn ngữ nhị phân. Điều này cũng giống như việc phiên dịch
khi trao đổi với người nước ngoài vậy. Chương trình đóng vai trò dịch từ ngôn ngữ lập trình
bậc cao sang ngôn ngữ máy gọi là "chương trình dịch".
Như vậy, để có được một chương trình mà máy tính có thể thực hiện được cần qua hai
bước:
(1) Viết chương trình theo ngôn ngữ lập trình;
(2) Dịch chương trình thành ngôn ngữ máy để máy tính hiểu được.
Cần lưu ý rằng, các bước nêu trên chỉ là hai trong số rất nhiều bước (giai đoạn) để tạo ra
một chương trình cụ thể có thể “chạy” trên máy tính. Để có một chương trình hoạt động hiệu
quả trên máy tính và phục vụ đúng mục tiêu, người ta còn phải thực hiện nhiều công việc khác,
bắt đầu từ việc khảo sát nhu cầu của người sử dụng (xác định mục tiêu, yêu cầu; khảo sát các
qui trình nghiệp vụ,...), phân tích, thiết kế, lập trình, kiểm thử, triển khai cài đặt, đào tạo, hỗ trợ,
v.v. Hai bước nói trên chỉ là một phần của công việc lập trình, sau khi thuật toán đã được xây
dựng. Tuy nhiên, đối với học sinh mới bắt đầu làm quen với lập trình và ngôn ngữ lập trình,
cách giới thiệu như trong SGK là đủ và nhằm để học sinh phân biệt được hai công việc viết
chương trình và dịch chương trình. Trong các bài thực hành với Pascal, học sinh sẽ phân biệt rõ
hơn hai bước này.
Ngôn ngữ lập trình là các đối tượng được định nghĩa một cách trừu tượng và hình thức,
còn nhiệm vụ chính của chương trình dịch là dịch chương trình đã được soạn thảo bằng ngôn
ngữ lập trình sang ngôn ngữ máy. Tuy nhiên, người ta thường cung cấp chương trình dịch cho
một ngôn ngữ lập trình cụ thể kèm theo một số công cụ hỗ trợ người lập trình như: phần mềm
soạn thảo; công cụ phát hiện và thông báo lỗi; công cụ theo dõi, gỡ rối chương trình; các thư
19
viện chương trình chuẩn và các dịch vụ khác. Tất cả tạo nên môi trường lập trình của ngôn ngữ
lập trình đó. GV không cần giải thích kĩ về môi trường lập trình với HS.
Qua mục 4 học sinh cần ghi nhớ được ngôn ngữ lập trình là công cụ để viết chương trình
máy tính và chương trình dịch đóng vai trò dịch chương trình viết bằng ngôn ngữ lập trình sang
ngôn ngữ máy.
Nội dung của bài 1 được xem như là một cầu nối cho học sinh từ người sử dụng sang
người xây dựng chương trình máy tính. Qua bài này học sinh cần biết phía sau những thao tác
như nháy nút lệnh Cut, Copy... mà các em đã quen sử dụng là những đoạn chương trình máy tính
tương ứng. Khi nháy một nút lệnh là các em đã yêu cầu máy tính thực hiện đoạn chương trình
tương ứng đã được viết sẵn.
3. Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập
Bµi 1. Khi soạn thảo văn bản trên máy tính, ta yêu cầu chương trình tìm kiếm một cụm từ và
thay thế bằng một cụm từ khác, thực chất ta đã yêu cầu máy tính thực hiện rất nhiều lệnh.
Có thể mô tả các lệnh với những mức độ chi tiết khác nhau.
Dưới đây chỉ mô tả những lệnh cơ bản nhất theo trật tự thực hiện:
1. Sao chép cụm từ cần tìm vào bộ nhớ (gọi là cụm từ 1).
2. Sao chép cụm từ sẽ thay thế vào bộ nhớ (cụm từ 2).
3. Tìm cụm từ 1.
4. Xóa cụm từ 1 tìm được.
5. Dán cụm từ 2 từ bộ nhớ vào vị trí cũ của cụm từ 1.
Với các lệnh được liệt kê theo thứ tự như trên, ta thấy chỉ có thể thay đổi thứ tự của một
vài lệnh (ví dụ như các lệnh 1 và 2), nhưng nói chung việc thay đổi thứ tự của phần lớn các
lệnh sẽ không cho kết quả như mong muốn, chẳng hạn như thay đổi thứ tự của các lệnh 3 và 4
là không có nghĩa.
Lưu ý đối với giáo viên. Việc mô tả các lệnh có thể thực hiện với nhiều mức chi tiết khác
nhau. Tuy chưa đầy đủ ở mức có thể lập trình được (chưa tính đến điều kiện kết thúc, tức khi
con trỏ được di chuyển đến cuối văn bản), nhưng dưới đây là một mô tả chi tiết hơn:
1. Sao chép dãy kí tự cần tìm vào bộ nhớ (dãy 1).
2. Sao chép dãy kí tự sẽ thay thế vào bộ nhớ (dãy 2).
3. Đặt con trỏ trước kí tự đầu tiên của văn bản.
4. Sao chép dãy kí tự (tính từ vị trí con trỏ sang phải) có độ dài bằng dãy 1 vào bộ nhớ
(dãy 3).
5. So sánh dãy 1 và dãy 3. Nếu dãy 3 không trùng với dãy 1, chuyển đến lệnh 8.
6. Xóa dãy 3 trong văn bản.
7. Dán dãy 2 vào vị trí cũ của dãy 3 và chuyển con trỏ đến cuối dãy 2 này.
8. Di chuyển con trỏ sang phải một kí tự và quay lại lệnh 4.
Học sinh chỉ cần có đáp án mô tả những lệnh cơ bản nhất là đạt yêu cầu. Giáo viên chỉ
nên giới thiệu mô tả chi tiết như trên khi học sinh có yêu cầu.
20
Bµi 2. Nếu thay đổi thứ tự của hai lệnh nào đó trong chương trình điều khiển rô-bốt, có thể rô-
bốt sẽ không thực hiện được công việc nhặt rác vì nó sẽ đi không đúng hướng và có thể
không tới được vị trí có rác dẫn đến không nhặt được rác,... Ví dụ, nếu thay đổi thứ tự
của lệnh 1 "Tiến 2 bước" và lệnh 2 "Quay trái, tiến 1 bước". Khi đó, sau hai lệnh trên rô-
bốt sẽ "Quay trái và tiến 3 bước" và nó sẽ đi tới vị trí không có rác. Nói chung, các lệnh
trong chương trình cần được đưa ra theo một thứ tự xác định sao cho ta đạt kết quả mong
muốn.
Vị trí mới của rô-bốt sau khi thực hiện xong lệnh "Hãy nhặt rác" là vị trí có thùng rác (ở
góc đối diện).
Có nhiều cách khác nhau để đưa ra hai lệnh để rô-bốt trở lại vị trí ban đầu của mình, một
trong các cách đó là hai lệnh "Quay trái, tiến 5 bước" và "Quay trái, tiến 3 bước".
Lưu ý đối với giáo viên. Trong một nhiều trường hợp, ta có thể đưa ra các lệnh khác nhau,
nhưng vẫn đạt kết quả. Chẳng hạn, trong ví dụ về rô-bốt, thay cho hai câu lệnh đầu tiên,
ta có thể điều khiển rô-bốt đến đúng vị trí có rác bằng các lệnh sau: "Quay trái, tiến 1
bước" và "Quay phải, tiến 2 bước" hoặc "Quay phải, tiến 2 bước", "Quay trái, tiến 2
bước" và "Quay trái, tiến 4 bước". Trong một số trường hợp khác, việc thay đổi thứ tự
của một vài câu lệnh vẫn cho kết quả đúng như yêu cầu. Tuy nhiên, như là một nguyên
tắc chung, việc thay đổi thứ tự các câu lệnh sẽ không cho kết quả đúng. Có thể liên hệ với
thứ tự các bước của thuật toán trong Bài 5.
Bµi 3. Lí do: Điều khiển máy tính tự động thực hiện các công việc đa dạng và phức tạp mà một
lệnh đơn giản không đủ để chỉ dẫn.
Bµi 4. Các ngôn ngữ lập trình bậc cao được phát triển để khắc phục các yếu điểm trên của
ngôn ngữ máy: khó sử dụng, khó nhớ. Ngôn ngữ lập trình sử dụng các cụm từ tự nhiên
nên dễ nhớ, dễ học.
Lưu ý đối với giáo viên. Tuy ngôn ngữ máy cũng là một loại ngôn ngữ lập trình, nhưng ở
đây chúng ta hiểu ngôn ngữ lập trình là ngôn ngữ lập trình bậc cao. Trong ngôn ngữ máy,
mọi chỉ thị đều được biểu diễn bằng các con số nhị phân 0 và 1. Ngôn ngữ máy tuy khó
đọc và khó sử dụng, nhưng là ngôn ngữ duy nhất mà bộ vi xử lí có thể nhận biết và thực
hiện các lệnh một cách trực tiếp. Ngoài ra yếu điểm của các chương trình viết bằng ngôn
ngữ máy là phụ thuộc vào phần cứng máy tính.
Bµi 5. Chương trình dịch là chương trình có chức năng chuyển đổi chương trình được viết
bằng ngôn ngữ lập trình thành chương trình thực hiện được trên máy tính. Như vậy,
chương trình dịch chuyển đổi các dòng lệnh được soạn thảo thành tệp có thể chạy trên
máy tính.
Bµi 6. Hai bước cơ bản để tạo ra các chương trình máy tính là:
(1) Viết chương trình theo ngôn ngữ lập trình;
(2) Dịch chương trình thành ngôn ngữ máy để máy tính hiểu được. Kết quả là tệp tin có
thể thực hiện được trên máy tính.
Lưu ý đối với giáo viên. Đây chỉ là hai bước cơ bản trong lập trình và chỉ là một phần của
công việc giải quyết bài toán bằng máy tính.
21
Bài 2. Làm quen với chương trình và ngôn ngữ lập trình
1. Mục đích, yêu cầu
• Biết ngôn ngữ lập trình gồm các thành phần cơ bản là bảng chữ cái và các quy tắc
để viết chương trình, câu lệnh.
• Biết ngôn ngữ lập trình có tập hợp các từ khóa dành riêng cho mục đích sử dụng
nhất định.
• Biết tên trong ngôn ngữ lập trình là do người lập trình đặt ra, khi đặt tên phải tuân
thủ các quy tắc của ngôn ngữ lập trình. Tên không được trùng với các từ khoá.
• Biết cấu trúc chương trình bao gồm phần khai báo và phần thân chương trình.
2. Những điểm cần lưu ý và gợi ý dạy học
Mục tiêu của bài 2 là giới thiệu cho học sinh về một số thành phần cơ bản của ngôn ngữ
lập trình nói chung, làm quen với một chương trình đơn giản, làm quen với TP để chuẩn bị cho
bài thực hành 1.
Để giới thiệu các thành phần của ngôn ngữ lập trình, SGK sử dụng cách tiếp cận xuất
phát từ một chương trình Pascal cụ thể, sau đó khái quát hóa và tổng kết. Cần lưu ý không giải
thích ngay tất cả những gì có trong chương trình ví dụ, tránh sa đà giới thiệu chi tiết cú pháp và
ngữ nghĩa của các câu lệnh Pascal mà chỉ nên tập trung khai thác những điểm cần thiết phục vụ
cho mục tiêu của bài học. Cần đến thành phần, câu lệnh nào thì tập trung vào đó, phân tích, giải
thích vừa đủ, biết điểm dừng để luôn hướng đến mục tiêu của mục, của bài.
HS đã biết viết chương trình cần sử dụng một ngôn ngữ lập trình cụ thể ở bài 1. Do vậy,
GV có thể đặt câu hỏi tại sao lại phải viết chương trình theo một ngôn ngữ lập trình cụ thể nào
đó để HS thảo luận, trả lời nhằm ôn lại bài cũ.
Cần cho HS quan sát hình 6 để thấy trực quan một chương trình cụ thể. Cách làm này
nhằm gây hứng thú cho học sinh ngay khi vào bài học. Từ việc quan sát ví dụ này GV khái quát
lên thành những kiến thức chung về ngôn ngữ lập trình.
Ngôn ngữ lập trình Pascal đã được nhắc đến ở bài 1, do vậy giáo viên có thể giới thiệu
cho các em biết ví dụ trong hình 6 là một chương trình viết bằng ngôn ngữ lập trình Pascal.
Để dạy mục 2, SGK dựa trên những gì học sinh quan sát được như chữ cái, kí hiệu để
khái quát nên thành phần thứ nhất: bảng chữ cái, các kí hiệu. Dựa trên ví dụ về câu lệnh
writeln('Chao Cac Ban'); để khái quát thành phần thứ hai: quy tắc viết.
Với mục 2, có thể xuất phát từ ngôn ngữ tiếng Việt, nếu HS được học ngoại ngữ thì dùng
ngôn ngữ tự nhiên là chính ngoại ngữ các em đang học để lấy ví dụ sẽ thuận tiện hơn. HS biết
một ngôn ngữ bao gồm các chữ cái, các từ và quy tắc ngữ pháp. Muốn người khác hiểu được và
hiểu đúng thì cần dùng các chữ cái, những từ cho phép và phải được ghép theo đúng quy tắc
ngữ pháp.
Ngôn ngữ lập trình cũng vậy (quan sát hình 6), có bảng chữ cái và các quy tắc viết. Khi
viết chương trình phải sử dụng các chữ cái, các từ và tuân thủ quy tắc tắc viết mà ngôn ngữ lập
trình đặt ra. Có như vậy chương trình mới có thể được dịch sang ngôn ngữ máy mà máy tính có
22
thể hiểu và thực hiện được. Cụ thể, để ra lệnh cho máy tính hiển thị dòng chữ chào các bạn thì
trong chương trình trên phải viết là: writeln('Chao cac ban');.
Giáo viên có thể sử dụng cách so sánh với ngôn ngữ tự nhiên để học sinh dễ dàng hiểu
được nội dung này. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, không phải chúng ta cứ ghép các chữ cái bất kì
là được một từ có nghĩa, hoặc cứ ghép các từ (có nghĩa) là có một câu có nghĩa. Như vậy có thể
xem quy tắc viết các câu lệnh trong một ngôn ngữ lập trình (cú pháp và ngữ nghĩa) là quy tắc
“chính tả” và “ngữ pháp” của ngôn ngữ lập trình đó.
Trên thực tế, một chương trình có thể được viết không phải chỉ bằng một ngôn ngữ lập
trình cụ thể mà có thể là hai hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình cùng được sử dụng trong một
chương trình. Ví dụ, như trong một chương trình được soạn thảo và dịch với TP có thể có một
số lệnh được viết bằng ngôn ngữ Assembly (hợp ngữ). Tuy nhiên, ở đây ta không đề cập đến
vấn đề này mà mặc định những chương trình mà ta đề cập đến chỉ sử dụng một ngôn ngữ lập
trình.
Mục 3, GV sử dụng ví dụ ở hình 6, SGK (CT_Dau_Tien) để minh hoạ cho HS về các
thành phần của ngôn ngữ lập trình.
Các từ như program, uses, begin, end được gọi là từ khoá (nhiều tài liệu chuyên môn gọi
là từ dành riêng), đó là các từ mà ngôn ngữ lập trình đã quy định dùng với ý nghĩa, chức năng
cố định. Từ khoá là khái niệm mới với HS, vì vậy để HS hiểu về quy định từ khoá trong ngôn
ngữ lập trình, có thể lấy ví dụ về cụm từ Lớp trưởng. Lớp trưởng là một cụm từ dành riêng để
gọi một HS trong lớp đảm nhiệm chức vụ lớp trưởng của lớp, không thể có một HS nào khác
trong lớp cũng được gọi là lớp trưởng (trong cùng thời điểm).
Tên là do người lập trình tự đặt ra và sử dụng những kí tự mà ngôn ngữ lập trình cho
phép, tất nhiên là tên không được trùng với từ khoá.
Câu lệnh writeln('Chao cac ban') là một câu lệnh chỉ dẫn máy tính hiển thị dòng chữ
"Chao cac ban" trên màn hình.
GV không cần giải thích sâu về chương trình này, cũng không nên giải thích quá kĩ về từ
khoá, tên, câu lệnh ở đây. HS sẽ còn tiếp cận dần với những kiến thức này ở các bài học sau.
GV có thể giới thiệu thêm về việc thay cụm từ Chao cac ban thành cụm từ khác để HS có
thể thực hiện ở bài thực hành sắp tới, tạo hứng thú cho HS trong tiết thực hành.
Mục 4, dựa vào hình 7 (CT_Dau_Tien), chỉ cần cho HS nhận biết được chương trình gồm
hai phần:
Phần khai báo: Khai báo tên và một số khai báo khác (các em sẽ học sau).
Phần thân: Bắt đầu bằng từ khoá Begin và kết thúc bằng từ khoá End và dấu chấm
(End.). Giữa từ khoá Begin và End. là các câu lệnh.
Lưu ý: phần thân là phần quan trọng, bắt buộc phải có ở mọi chương trình, còn phần khai
báo có thể có hoặc không.
Đến đây có thể cho HS phát hiện về từ khoá và chức năng của từ khoá qua chương trình
trong hình 7 SGK: Program là từ khoá dùng để khai báo tên chương trình; Từ khoá Begin dùng
để khai báo bắt đầu chương trình, từ khoá End. dùng để khai báo kết thúc chương trình.
23
Cách tiếp cận từ cụ thể đến khái quát có ưu điểm là phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS.
Tuy nhiên, hạn chế của cách tiếp cận này là HS dễ bị dẫn đến nhận thức rằng đang học ngôn
ngữ Pascal. Như đã biết, mục tiêu là dạy học lập trình, ngôn ngữ Pascal là một minh hoạ cụ thể.
Do vậy, GV cần lưu ý trước khi chuyển sang mục 5, cần nhấn mạnh để học sinh ghi nhớ, với tất
cả ngôn ngữ lập trình đều có tập hợp các kí hiệu (bảng chữ cái) và quy tắc riêng để viết chương
trình.
Có thể giới thiệu nội dung Mục 5 trên lớp hoặc yêu cầu các em đọc nội dung này ở nhà
chuẩn bị cho bài thực hành 1. Mục tiêu là để HS nhận biết giao diện của phần mềm Turbo
Pascal và biết các bước soạn thảo, dịch chương trình phục vụ trực tiếp cho bài thực hành 1. Nếu
giới thiệu trên lớp, giáo viên nên chuẩn bị sẵn một số hình ảnh về giao diện của Turbo Pascal
trên giấy khổ rộng và tận dung kênh hình trong SGK. Trong cả hai trường hợp, khi tiến hành
Bài thực hành 1 giáo viên cần tổng kết lại nội dung này ngay trước khi học sinh bắt đầu sử
dụng máy tính để thực hành.
Cần nhấn mạnh cho HS về việc tạo chương trình chạy được trên máy tính gồm hai bước:
bước một, soạn thảo chương trình trên máy tính theo một ngôn ngữ lập trình cụ thể; bước hai,
dịch chương trình vừa soạn thảo sang ngôn ngữ máy.
Việc soạn thảo chương trình về cơ bản giống với soạn thảo văn bản mà các em đã học.
Việc dịch chương trình cũng rất đơn giản, ví dụ với ngôn ngữ lập trình Turbo Pascal, sau khi
soạn thảo xong chỉ cần nhấn Alt+F9 là máy tính tự động dịch chương trình. Để dịch và chạy
chương trình, nhấn Ctrl + F9.
Trong phần này cần cho HS biết có nhiều ngôn ngữ lập trình, trong chương trình học các
em sẽ làm việc với một ngôn ngữ lập trình Pascal.
3. Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập
Bµi 1. Các thành phần cơ bản ngôn ngữ lập trình gồm bảng chữ cái và các quy tắc để viết các
câu lệnh (cú pháp) có ý nghĩa xác định, cách bố trí các câu lệnh,... sao cho có thể tạo
thành một chương trình hoàn chỉnh và chạy được trên máy tính.
Lưu ý đối với giáo viên. Các quy tắc nhắc đến ở đây bao gồm các thuật ngữ chuyên môn
là cú pháp và ngữ nghĩa. Xem SGK, mục 2, bài 2.
Bµi 2. Không. Các cụm từ sử dụng trong chương trình (từ khoá, tên) phải được viết bằng các
chữ cái trong bảng chữ cái của ngôn ngữ lập trình. Các ngôn ngữ lập trình phổ biến hiện
nay đều có bảng chữ cái là bảng chữ cái tiếng Anh và các kí hiệu khác, trong đó không có
các chữ có dấu của tiếng Việt.
Lưu ý đối với giáo viên. Câu hỏi trong bài là "viết chương trình có các câu lệnh bằng
tiếng Việt". Điều này không có nghĩa là trong chương trình không thể có các chữ cái có dấu của
tiếng Việt (hay của một ngôn ngữ khác) như là dữ liệu dạng văn bản cần xử lí. Các chữ có dấu
đó sẽ được ngôn ngữ lập trình xử lí mã kí tự tương ứng trong các bảng mã ASCII mở rộng. Ví
dụ chương trình Pascal sau đây hoàn toàn hợp lệ:
begin
program CT_thu;
writeln(' Chào các bạn');
24
end.
Bµi 3. Tên trong chương trình là dãy các chữ cái hợp lệ được lấy từ bảng chữ cái của ngôn ngữ
lập trình.
Từ khoá của một ngôn ngữ lập trình (còn được gọi là từ dành riêng) là tên được dùng cho
các mục đích nhất định do ngôn ngữ lập trình quy định, không được dùng cho bất kì mục
đích nào khác.
Người lập trình có thể đặt tên một cách tuỳ ý nhưng phải tuân thủ các quy tắc của ngôn
ngữ lập trình cũng như của chương trình dịch, trong đó (1) Hai đại lượng khác nhau phải
có tên khác nhau; (2) Tên không được trùng với các từ khoá.
Bµi 4. Các tên hợp lệ: a, Tamgiac, beginprogram, b1, abc; tên không hợp lệ: 8a (bắt đầu bằng
số), Tam giac (có dấu cách), end (trùng với từ khoá).
Bµi 5. Xem SGK, mục 4, bài 2.
Bµi 6. Chương trình 1 là chương trình Pascal đầy đủ và hoàn toàn hợp lệ, mặc dù chương trình
này chẳng thực hiện điều gì cả. Phần nhất thiết phải có trong chương trình là phần thân
được xác định bởi hai từ khoá begin và end. (có dấu chấm).
Chương trình 2 là chương trình Pascal không hợp lệ vì câu lệnh khai báo tên chương trình
program CT_thu nằm ở phần thân chương trình.
Bài thực hành 1. Làm quen với Turbo Pascal
1. Mục đích, yêu cầu
• Thực hiện được thao tác khởi động/kết thúc TP, làm quen với màn hình soạn thảo
TP
• Thực hiện được các thao tác mở các bảng chọn và chọn lệnh.
• Soạn thảo được một chương trình Pascal đơn giản.
• Biết cách dịch, sửa lỗi trong chương trình, chạy chương trình và xem kết quả.
• Biết sự cần thiết phải tuân thủ quy định của ngôn ngữ lập trình
2. Những điểm cần lưu ý và gợi ý dạy học
Để chạy được chương trình Turbo Pascal cần có tối thiểu hai tệp: TURBO.exe và
TURBO.TPL. Lưu ý rằng nếu sử dụng Turbo Pascal for DOS, trong chương trình có sử dụng thư
viện crt (khai báo uses crt) thì khi dịch chương trình có thể sẽ có thể gặp thông báo lỗi Error
200: Division by zero như hình dưới đây.
25
Lỗi này không phải chương trình được viết có lỗi mà do phần mềm Turbo Pascal đang sử
dụng không phù hợp với máy tính hiện tại có tốc độ cao. Để khắc phục lỗi này, GV có thể tải
phần mềm Turbo Pascal đã được sửa lỗi này ở website www.vnschool.net hoặc có thể sử dụng
phần mềm Pascal for Windows hoặc Free Pascal. Tất cả các phần mềm này có sẵn trong đĩa CD
phát cho GV tham gia tập huấn cốt cán.
Vì HS đã được học, thực hành về khởi động chương trình ở các năm học trước nên việc
khởi động TP là dễ dàng với các em. Mặc dù vậy, GV nên tạo biểu tượng của chương trình TP
trên màn hình nền (Shortcut) để thuận tiện cho HS khởi động trong tiết thực hành.
Khi khởi động TP, màn hình hiện lên như hình dưới đây. Rất có thể HS bỡ ngỡ, lúng túng
vì có một thông báo giữa màn hình vì điều này không được nhắc đến trong SGK. GV lưu ý
nhắc HS nháy nút OK để bắt đầu làm việc với TP.
Một lưu ý nữa, có thể màn hình làm việc của TP chỉ là một cửa sổ nhỏ, không chiếm hết
toàn bộ màn hình như minh hoạ dưới đây.
Để HS tiện theo dõi thì nên mở rộng cửa sổ TP ra toàn bộ màn hình. Cách làm như sau:
- Chọn biểu tượng tắt của TP trên màn hình nền;
- Nháy nút phải chuột để mở bảng chọn tắt như hình dưới đây:
26
- Trong bảng chọn tắt, chọn mục Properties, cửa sổ Shortcut to Turbo Pascal
Properties hiện lên.
- Trong cửa sổ Shortcut to Turbo Pascal Properties, chọn mục Screen, sau đó nháy
chuột chọn Full-screen như hình dưới đây.
- Nháy OK để kết thúc.
Từ lần khởi động TP tiếp theo màn hình làm việc của TP sẽ mở rộng toàn bộ màn hình
máy tính.
Trong bài 1, cần cho HS nhận biết biểu tượng của TP trên màn hình nền, khởi động/thoát
khỏi TP; biết cách mở bảng chọn; nhận biết được dòng trợ giúp nằm dưới cùng của màn hình
để tra cứu nhanh phím chức năng khi cần. Không nên mất nhiều thời gian cho bài 1 bởi vì
những kĩ năng này học sinh sẽ còn phải làm quen, sử dụng ở những bài sau. SGK đã trình bày
các nội dung này theo từng bước rất cụ thể (cầm tay chỉ việc), vì vậy giáo viên chỉ cần yêu cầu
học sinh làm theo các bước đó.
Với bài 2, cần nhắc HS gõ chính xác chương trình vào máy tính.
27

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Sach giao vien Tin hoc Quyen 3