Di thảo Nguyễn Trường Tộ

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Di thảo Nguyễn Trường Tộ

Di Thảo Nguyễn Trường Tộ
DI THẢO SỐ 1
BÀN VỀ NHỮNG TÌNH THẾ LỚN TRONG THIÊN HẠ
1
(Thiên hạ đại thế luận)
(Tháng 2-3 năm Tự Đức 16 tức tháng 3-4 năm 1863)
Tôi là Nguyễn Trường Tộ, bề tôi nước Đại Nam đã từng trốn ra nước ngoài xin đem
những điều mà tôi đã biết và thấy một cách chính xác về sự thế trong thiên hạ, mạo tội
kính bẩm.
Trộm nghĩ việc trong thiên hạ chỉ có “thế” mà thôi. Chữ “thế” là nói bao gồm cả thiên
thời nhân sự. Cho nên người biết rõ “thế” thì không trái trời, không mất thời, không hại
người, không hỏng việc.
Hãy nói về thiên đạo trước. Khí đất là từ Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông, theo
Hà Đồ
2
thì thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở phương Tây, mộc ở về
phương Đông. Thuỷ thì diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là kẻ tự nhiên của trời đất luôn luôn
như vậy.
Ngày nay các nước phương Tây, đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc,
toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô
Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài
1
Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 34-45; Hv 634/1 tờ 40-58; Hv 135 tờ 38-50; NAM PHONG, số 100 trang 47-58.
- Về nội dung, bản NAM PHONG, trong chi tiết, có những lời lẽ dài dòng và không chính xác bằng ba bản kia.
- Về ngày tháng năm, thì chỉ có Hv 189/1 là ghi “Tự Đức thập lục niên, nguyệt…. nhật….); còn ba bản kia thì không ghi
ngày tháng. Từ Ngọc Nguyễn Lân, sđd, có trích nhiều đoạn của Thiên hạ đại thế và nói: “Không rõ ngày tháng”.
- Về đầu đề, thi NAM PHONG ghi: “Nguyễn Trường Tộ điều trần Thiên hạ đại thế nguyên tập (nguyên danh quốc tế
thượng giao thông chi chính sách)”. Hv 634/1 ghi: “Điều trần thỉnh hứa đại Pháp quốc khai phụ thông thương”, còn Hv
189/1 và Hv 135 không có đầu thề. Chính Nguyễn Trường Tộ, trong Trần tình, nói: “Thiên hạ phân hợp đại thế luận” và
trong các bài viết sau này, nhiều lần nói đến “Luận phân hợp”. Ông Nguyễn Lân nói: “Thiên hạ đại thế”; ông Đào Duy Anh
nói, “Thiên hạ đại thế luận”.
Từ những dữ kiện nêu trên, chúng ta có thể tạm kết luận là Nguyễn Trường Tộ đã viết, để thuyết phục Triều đình Huế phải
hoà với Pháp, vào hai thời điểm khác nhau:
a. Theo bài Trần tình, thì năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có gởi cho Nguyễn Bá Nghi một bài Bàn về việc hòa (Hòa từ),
và trong Trần tình có trích một đoạn của Hòa từ, lời lẽ hoàn toàn giống như trong bản NAM PHONG và các bản Hv. Bản
văn đăng trong NAM PHONG có thể là bài Bàn về việc hòa của năm 1861. Bởi vì bản NAM PHONG so với các bản Hv,
lời lẽ không chỉnh và không khúc chiết bằng. Hơn nữa bài Bàn về việc hòa hình như được viết để cho nhà vua đọc, nên tác
giả nói: “Phục vọng chuẩn thần sở kiến”: kính mong các ý kiến của thần được chấp thuận, trong lúc các bản Hv nói: “đại
nhân cụ đề chuyển tấu”: kính xin đại nhân tâu lại đầy đủ. Bản NAM PHONG lại có phụ đề: “Nguyên danh: Quốc tế thượng
giao thông chi chính sách”.
b. Cũng theo bài Trần tình, thì năm 1863, Nguyễn Trường Tộ còn có bài Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Để viết bài này,
Nguyễn Trường Tộ chỉ lấy bài Hòa từ sửa chữa lại cho chỉnh và gọn gàng. Lúc đầu, hình như Nguyễn Trường Tộ định viết
như một thư văn có mào đầu, có niên hiệu; nhưng sau có thể đã sửa chữa để gởi kèm theo bài Trần tình như một bài nghị
luận, nên không có mào đề, không có niên hiệu. Đây là bản đã được sao chép lại trong Hv 135 và Hv 634/1 mà các tác giả
như Nguyễn Lân, Đào Đăng Vĩ đều đã tham khảo và nói là “không rõ ngày tháng”. Bản được sao chép trong Hv 189/1 có
lẽ là bản thảo ban đầu được sao chép lại gởi cho Phạm Phú Thứ. Ở đầu bài có ghi: “Giá tập ký dữ thần Phạm Phú Thứ (Bản
này gởi thần Phạm Phú Thứ)”. Đây có thể là lời của Nội Các hay Viện Cơ Mật.
2
Hà đồ: Thời ông Phục Hy làm vua thiên hạ, có con Long mã đội bức “đồ” (tức là bức vẽ) hiện ra ở sông Hà, ông Phục Hy
theo cái văn bản ở trong bức đồ ấy vạch ra 8 quẻ ứng với 5 điều thuỷ, hỏa, kim, mộc và thổ là ở giữa bức đồ.
biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị họ chẹn họng bám lưng. Nước Nga thì từ
Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các
xứ ở phía Bắc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó.
Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt
trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt,
ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai
cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ. Như
thế, nếu đó không phải là ý trời định, địa thế xoay vần, thì sao không lấy số đông của
bốn đại châu mà kháng cự lại người Tây phương? Huống hồ nước Việt ta là một nước
bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được?
Đến như địa thế Trung Hoa chiếm 1 phần 3 Đông phương
3
nhân số đến 360 triệu, uy thế
lẫy lừng, ai cũng phải thần phục họ cả, thế mà từ thời Minh về sau, người Tây phương
vượt biển sang Đông, hai bên đánh nhau, thây chất thành đống, sau phải giảng hòa
không biết bao nhiêu lần. Còn như ta là một xứ nóng, gần kề Quế Hải
4
, là trạm nghỉ
chân của người Tây phương trên đường sang Đông. Con giao long khi thấy đầm vực thì
nghĩ cách đầm mình chứ không thể chịu bỏ mà đi.
Mới đây, người Pháp thừa thế đánh xong tỉnh Quảng Đông, đã đưa quân tinh nhuệ
xuống phía Nam, làm Đà Nẵng thất thủ. Khi ấy giả sử ta có 10 vạn quân, cũng không
đánh nhau được với họ. Phàm việc binh cốt ở thần tốc, họ đã biết rõ ràng quân ta mới
nghe thanh thế họ đã phách lạc hồn xiêu rồi, hơn nữa cảng Đà Nẵng cách các doanh
trại
5
ta chẳng bao xa thế tại sao họ không thừa thế chẻ tre, xua quân tinh nhuệ tiến tới
mà lại thôi? Sao cứ thong dong nhàn hạ không cần lợi dụng thế tốc chiến? Hay vì họ
nghĩ rằng ta phòng bị chưa kiên cố. Bởi lẽ ta càng phòng bị kiên cố chừng nào thì càng
tỏ rõ được cái năng lực công phá của họ chừng ấy. Họ không cần thừa chỗ sơ hở mà
đánh xuất kỳ bất ý như đối với nước địch có thế lực ngang ngửa với họ. Hơn nữa, người
Pháp đến đây, một là hỏi ta vì sao giết hại giáo sĩ, hai là hỏi vì sao không chịu giao
thiệp, ba là xin ta cắt cho một vài chỗ để làm đường giao thương như các nước thường
làm. Lúc đầu họ không có ý định cướp nước người. Nếu những yêu sách của họ được
thỏa mãn, họ sẽ chấm dứt những hành động gây hấn như đã ước định chứ đâu đến nỗi
dây dưa lan rộng ra như thế. Cũng ví như nước lụt, người hiểu biết thì thuận theo thế
nước mà cho chảy xuôi, để nước chảy về sông về biển thì hết, nếu ngăn đọng lại thì úng
núi ngập gò, tắc lại thì trôi nhà trôi cửa. Cho nên người khéo trị lụt, thì việc làm hết sức
đơn giản.
3
NAM PHONG nói: 2/3 Á Đông, Nguyễn Lân sđd trang 129 cũng nói: “một phần ba Á Đông.
4
Nam Hải.
5
NAM PHONG nói: “Đà Nẵng đi kinh đô” (Đà Nẵng khứ Kinh). Nhưng nói như vậy là lúc Nguyễn Trường Tộ đánh giá
chưa đúng lý do tại sao quân Pháp đầu năm 1858 không tiến đánh Huế mà lại hướng vào Nam bộ.
Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, họ đào
kinh đắp luỹ trù kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống
biển. Bây giờ như ta muốn cố thủ thành trì đợi cho họ tê liệt thì thật chẳng khác nào
muốn quét sạch lá rừng, tát cạn nước biển. Không hòa mà chiến, khác nào cứu lửa đổ
thêm dầu, không những không cứu được mà còn cháy nhanh hơn nữa.
Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng hòa với Pháp là thượng sách.
Hơn nữa ở Châu Âu việc võ bị chỉ có nước Pháp là đứng hạng nhất, hùng mạnh nhất
không thua ai cả. Họ lại có tính khẳng khái, hiếu chiến, với uy phong của một quân đội
có xe sắt. Tuy dụng binh nhưng cũng biết trọng nghĩa giữ lời, không như các nước chỉ
chuyên thủ lợi. Khi kéo quân đi đánh thì khí thế hiên ngang, thái độ hân hoan. Khi lâm
trận thì xông pha tới trước, không chịu tụt lùi. Khi thắng trận thì cả nước hoan hô, dù
tổn thất nghìn muôn người cũng chẳng tiếc, chỉ sao cho uy danh hùng tráng, quốc thể
được bảo toàn làm trọng. Các tướng thì gan dạ, nhiều mưu trí, thạo binh pháp, thuỷ
chiến, lục chiến đều rất giỏi. Thật đúng như sách DOANH HOÀN CHÍ LƯỢC đã chép
vậy.
Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi trên đất bằng, trèo
non như đi trên đường bộ. Nước ta tự núi kề biển, địa thế như một con rắn dài. Nếu họ
dùng hỏa thuyền chia nhau đánh cắt các tỉnh dọc bờ biển, lại cho các tàu đậu ngoài cửa
sông lớn để triệt sự vận tải đường biển của ta, lại cho một đạo quân đóng giữ ở Hoành
Sơn để chặn đường tiếp tế bằng đường bộ và cắt đường qua lại của đội quân Cần
Vương, rồi lại đổ bộ tiến đánh các chỗ xung yếu, gấp rút truyền hịch khắp Nam Bắc,
chiêu mộ bọn giặc cướp ẩn náu dùng làm bọn dẫn đường, thì thuỷ binh của ta sẽ trở
thành vô dụng. Bộ binh thì đại lộ không thông. Chỉ còn đường Vạn Tượng, Ai Lao, Trấn
Ninh và đất Cao Miên thì lại hiểm trở khó đi mất nhiều ngày tháng đầu đuôi không liên
lạc được với nhau. Nếu họ đánh một trận thì ta đã bị cái thế chia năm xẻ bảy
6
. Dù cho có
trí dũng cũng không kịp ra mưu. Đại thế đã mất, lòng quân sĩ đã lìa thì còn ai đánh giặc
nữa? Địa lợi như thế thì không thể trông cậy vào đâu được.
Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng ống, dù phục
binh cài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình thế không cấp bách, chỉ
đánh được gần chứ không đánh được xa. Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới,
thì quân ta chưa giáp trận mà gươm giáo đã tan tành. Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê
xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước sông chảy xiết.
Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng như chuồn chuồn lay cột đá
mà thôi.
Hơn nữa, họ đã lão luyện chiến trận những phương pháp của Đông phương như dụ địch,
kiêu binh, địa lôi, hỏa công, sập hầm, thuốc độc họ đều biết cả, dù có người trí xảo đến
6
Những chữ xiên không có trong NAM PHONG.
mấy cũng không nhử được họ. Huống chi việc thắng bại lại do ở nhuệ khí. Họ từ xa
đến, dấn thân vào chỗ chết với khí thế một ra đi là không trở về
7
. Còn quân lính ta xưa
nay vốn nhát gan, lại chưa quen đánh trận với nước khác, một ngày kia gặp phải quân
địch mạnh mẽ, tuy có lòng dũng cảm nhưng khí thế đã suy, lại đánh đâu thua đó, vừa
mới nghe bóng nghe gió đã mất hết hồn vía, tham sống sợ chết là lẽ thường tình. Chỉ
trước khi ra trận mà có lòng quyết thắng địch thì mới khỏi chết. Nay đã biết họ có thể
tất thắng, ta có cơ dễ thua, lại không biết phép ra quân của họ biến hóa như thế nào mà
đem quân nhút nhát của mình ra đánh lại quân vô địch của họ thật chẳng khác nào như
bắt muỗi đội núi, đem dê đấu hổ, rõ ràng là lối tấn công như vậy không dùng được nữa.
Theo binh pháp, muốn cố thủ phải có hai điều kiện: một là thành trì, hai là nhân tâm.
Lúc địch mới đến thì phải gấp rút chặn những chỗ xung yếu mà đuổi nó đi. Nếu kẻ địch
đã thọc sâu vào cứ điểm, thì phải có thành cao hào sâu để hãm kẻ địch mệt mỏi. Đó là
thượng sách. Ngày nay quân Pháp có hoả thuyền để vận tải thì việc vượt muôn dặm
cũng bằng chèo một mái chèo mà thôi. Nếu ta muốn ngăn bể để tuyệt lương của họ
cũng không thể được. Họ muốn tăng thêm quân sang ta thì theo đường Biển Đỏ chỉ độ
bốn năm tuần là đến nơi. Nếu cần lắm thì gởi giấy xin quân Anh đóng ở Ấn Độ, Tức
Lực, Hương Cảng, Thượng Hải… thì sớm chiều là có thể đến nơi để giúp. Lại có quân
của Y Pha Nho ở Lữ Tống, đến dồn sức tấn công.
Quân Pháp đánh thành không cần dùng những phương pháp bắc thang đường hầm, xe
kiếm, bao đất
8
, mà đại pháo bắn ra thì núi lở gò sập, thành đã vỡ, thì ta tuy có lương
tiền nhiều, gươm giáo sắc và có phương pháp giữ thành cũng trở nên vô dụng. Hơn nữa,
người Pháp đánh ta, trèo thành như lên đệm gối, sở dĩ lâu nay họ chưa dùng đến là vì
cắt cổ gà cần gì phải dùng dao mổ trâu. Nếu gặp đối thủ thì như trận đánh ở Biển Đen
năm trước, Tây Ba Sĩ Đa Bốc Lỗ là một thành kiên cố nhất thiên hạ, Ngà là một nước
cường địch bậc nhất trong thiên hạ có trăm vạn quân, đã giữ vững trong hai năm, thế
mà rồi cũng bị hãm. Lấy ta so sánh với Nga cũng như lấy Đằng, Tiết mà so sánh với
Tần, Sở
9
. Nga như thế mà chống không được còn bị đánh tan tành, ta đâu có đủ sự hiểm
yếu nào có thể mong cậy được!
Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sanh tai biến để cảnh cáo, đất thì hạn
hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt
mỏi, trong Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư
hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau,
những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng
7
Nguyên văn là Phá phủ trầm chu chi thế. Do tích: Ngày xưa Hạng Vũ đem quân đi đánh Tần, lúc đã đến gần chiến trường
ông bắt đập vỡ hết cả nồi chảo nấu cơm, đánh đắm thuyền, chỉ mang lương thực vừa đủ ăn trong ba ngày, để tỏ ý cho quân
sĩ biết rằng nhất định phải quyết chiến, nên ai nấy phải liều chết.
8
Xe kiếm: Là một loại xe đằng trước có mũi nhọn bằng sắt để húc cho thủng thành, bao đất; dịch chữ “thổ nang” tức là bao
đựng đất để sắp đống mà trèo thành.
9
Đằng, Tiết là hai nước rất nhỏ. Tần, Sở là hai nước rất lớn thời Xuân Thu (Trung Quốc).
xưng bá tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tuỷ
nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ hận đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí
vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thao dã, chính là lúc Thắng, Quảng
10
sẽ thừa cơ nổi
dậy. Thế mà sao đối ngoại thì không có cách nào để động đến một mảy may lông của
quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục được ai để giải vây cho, lại đi tàn sát dân mình,
giận cá chém thớt, khiến cho dân bị cái hại “cháy nhà vạ lây”. Thật đúng như câu nói:
“đào ao đuổi cá”, “nối giáo cho giặc”. Cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu
đục; nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình; dân
loạn bên trong, rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên
ngoài mà ở ngay trong nước vậy.
Than ôi! Dân chúng phụng sự quan trên, đóng thuế nạp tô, để mong được sống yên
thân, thế mà bây giờ lại lấy những thứ nuôi sống người đó để làm hại người, nỡ khiến
dân chúng vấp phải họa binh đao, nỡ tranh giành cái nhỏ mà bỏ cái lớn, cũng như muốn
bảo tồn cành lá mà lại đem đẵn cả cội gốc. Cho nên mới nói: không sợ thế giặc ngang
tàng mà sợ lòng người rời rạc. Lòng người đã rời rạc, đã muốn chóng mất, thì dù có
thành trì bằng kim loại, có ao nước sôi cũng phải bỏ mà chạy, ai ở đó chịu chết mà giữ
cho!
Sự thế hiện nay chỉ có hòa. Hòa thì trên không cưỡng lại ý trời, dưới có thể làm cho dân
khỏi khổ, chấm dứt được sự dòm ngó của bọn gian nghịch, ngăn chặn được sự tranh
giành của nước ngoài, thật là hay không thể kể xiết. Còn việc binh đao thì thật là tai họa
nó là cho vợ goá con côi, tổn thương hòa khí của trời đất, sinh ra hạn hán lụt lội. Thánh
nhân bất đắc dĩ mới phải dụng binh dẹp loạn. Nếu không đánh mà khuất phục được
binh lính người mới là đánh giỏi. Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi.
Họ chỉ xin mình miếng đất mà thôi, nếu cứ kiên quyết không cho, họ sẽ lập mưu cướp
hết, từ khách quay lại làm chủ. Như thế là tiếc một hai mảnh đất mà đem cả nước trao
cho họ. Nếu biết rõ, họ đã đến là không đi, họ ỷ thế vào những nước khác, thì đánh với
họ tức là mất cái lớn không đáng mất mà còn tỏ ra mất đó là vì bất lực, không hợp tình,
không kêu nài gì được; chi bằng hòa mà chịu mất cái nhỏ không thể không mất mà còn
tỏ ra mình ngoại giao biết điều và là việc hợp tình hợp lý có hơn không? Nếu bảo quân
ta mạnh, lúa gạo ta nhiều, chưa chi đã vội hòa sợ thiên hạ cười chê chăng? Nói như thế
tức là không nhịn nhục việc nhỏ để làm việc lớn vậy
11
. Không thấy một nước Trung
10
Thắng, Quảng: Trần Thắng, Ngô Quảng đã từng tụ tập nông dân, chống lại Tần Thuỷ Hoàng.
11
Ở đây bản NAM PHONG có một đoạn như sau: “Tôi trước đây ở Đại Thanh thấy nước Pháp ký hòa ước với Đại Thanh
chỉ có 5 cửa biển mà thôi. Sau sự biến ở Quảng Đông, Pháp bèn cùng Anh chiếm Quảng Châu. Đại Thanh lại phải cho
Pháp được tự ý từ Kinh Châu, Hán Khẩu xuống cửa sông Dương Tử chọn lấy một nơi tốt nhất. Đến năm Hàm Phong thứ 2,
Tăng Vương huỷ bỏ hòa ước và gây sự, Pháp liền bỏ Đà Nẵng hợp cùng với Anh đánh Thiên Tân, Tăng Vương thua chạy
lên phía Bắc, Pháp tiến lên Thông Châu đánh thẳng vào Hậu Uyển. Hàm Phong chạy sang Nhiệt Hà sai Cung Thân Vương
giảng hòa, chịu bồi thường 800 vạn lạng bạc, lại phải nhượng thêm Thiên Tân, cửa sông Đại Cô và Lai Châu thuộc tỉnh
Sơn Đông, Quỳnh Châu, Đài Loan thuộc tỉnh Quảng Đông. Chuyện Trung Quốc thật đúng như câu nói: “Giống lừa không
chở nặng không chịu đi” thật là thất sách”.
Hoa to lớn là thế mà còn phải cắt đất cầu hòa. Lại nữa, như Thái vương bỏ đất Mân
12
,
Câu Tiễn thờ vua Ngô, việc hỏa thân của Hán
13
, việc cống nạp của Tống
14
, tất cả đều lấy
việc không đánh là hơn, mà còn trọng sinh mệnh nữa. Luận việc này có ai cho là thất
sách đâu?
Hoặc giả có người nói đất đai tổ tiên để lại không được đưa gang tấc nào cho kẻ khác.
Như vậy là quá câu chấp mà để hỏng việc nước. Sao không xem xưa nay có ai là chủ
giang sơn mãi đâu. Nhà Tấn bị Hồ
15
gây loạn, Tống mất vào tay Nguyên, Minh mất vào
tay Thanh, họ này thay thế họ kia chẳng phải do số trời sắp đặt đó sao? (…) Từ xưa, các
bậc đế vương, mỗi khi thay họ đổi ngôi thì con cháu không có đất cắm dùi, đều do tiếc
cái ít để mất cái nhiều.
Hơn nữa, thiên hạ là của chung của thiên hạ, các bậc đế vương dĩ nhiên không thể đem
thiên hạ mà cho ai, chỉ có điều là biết không thể cho được rồi sau mới có thể cho được.
Nếu không tuỳ thời liệu đình, cho để mà giữ, chẳng may thế sự chuyển dần thì rõ ràng
là phải đưa hết tất cả cho người ta. Thế nên, Câu Tiễn chịu nhẫn nhục để được còn nước
Việt, vua Văn Hoàng mượn binh để lập cơ nghiệp, đều là muốn bảo toàn thiên hạ cả.
Xưa nay, chưa có ai không ẩn nhẫn việc nhỏ mà làm nên việc lớn bao giờ.
Theo cách ngày nay thì nên để quân lính nghỉ ngơi, rồi làm theo chước Hán Cao Tổ cắt
Quang Trung cho Hạng Võ ngay xưa để họ giữ bờ cõi cho mình, như có hổ báo trong
rừng thì chồn cáo không dám bén mảng tới. Thế nhượng một tấc đất mà nhân dân lợi vô
cùng. Như thế chẳng phải là làm việc chung cho thiên hạ đó sao? Người xưa cũng làm
như thế thôi, không thể bỏ cách đó mà theo mưu khác được. Thế là xoay chuyển một cái
mà kẻ sống người chết đều chịu ơn, thật là sáng rõ, rõ như ánh lửa rọi chẳng còn hình
tích gì đáng nghị nữa cả. Dân đã yên sau sẽ khiến kẻ hiền tài vượt biển, sang các nước
lớn học cách đánh trận giữ thành, học tập trí xảo của thiên hạ, giao thiệp với họ lâu dài,
mới biết lường sức đo tài, biết hết tình trạng của họ. Học cho tinh vi mới sinh kỹ xảo,
rất mực kỹ xảo mới mạnh, bấy giờ sẽ dưỡng uy súc nhuệ, đợi thời hành động, mất ở
phía Đông thì lấy lại ở phía Tây, cũng chưa muộn gì.
16
Vả lại, những điều mà nước Pháp xin, chẳng qua là để mở bến tàu; lập phố xá, thông
cửa bể để buôn bán, lập nhà thờ để giảng đạo mà thôi. Lẽ thường những nơi có buôn
12
Mân: tên cũ của một nước ở Trung Quốc, địa vực hoạt động đầu tiên của thời Chu nay là giáp tỉnh Thiểm Tây.
13
Hán hòa thân với Hung nô.
14
Nạp tiền và hàng hóa cho nước Liêu và nước Kim
15
Loạn Ngũ Hồ.
16
Ở đây bản NAM PHONG có một đoạn như sau: “Việc ấy hiện có căn cứ sự thật. Tôi đã xét qua nhân tài các nước phương
Đông thấy ít nước nào hơn nước mình. Người Pháp cũng phục người Nam có nhiều trí xảo. Tôi đã từng ở các nước xa về
phía Tây nghe họ đều nói các môn Thiên văn, Địa lý, Cách vật, trí xảo, hỏa xa, hỏa thuyền, đồng hồ… người Nam học rất
thông minh lanh lợi. Nhưng cái bệnh của người mình là câu nệ thủ cựu, chuộng văn chương, không ra khỏi nước nên thấy,
nghe chưa rộng, khiến họ chê cười. Nếu các danh nho cao sĩ của ta được qua lại giao thiệp với các nước thì không đầy 10
năm sẽ như Đỗ Mục nói:
Giang Đông còn làm người tài giỏi
Cuốn đất tràn về lại có phen!
bán, thế tất không thể mở thương trường, lập cơ xưởng. Như người Trung Hoa ở nước
ta cũng vậy. Lấy có đổi không, khiến Nam Bắc hòa hợp, của cải hàng hóa lưu thông,
tiêu dùng tiện lợi, cuộc sống đầy đủ đều nhờ ở đó cả. Xưa nay chưa có ai buôn bán mà
âm mưu chiếm nước ngừơi ta bao giờ. Còn như giáo sĩ thì họ chỉ lấy việc mở rộng đạo
giáo chống lại gian tà, làm trách nhiệm, chẳng liên quan gì đến những việc tranh thành
tranh đất cả. Sở dĩ họ xin bỏ việc cấm đạo chẳng qua là để có sự truyền đạo được dễ
dàng mà thôi. Nếu nói họ có âm mưu gì khác thì Đức Thế Tổ Cao hoàng đế
17
đã ở với
giáo sĩ lâu ngày tưởng cũng đã biết ít nhiều hành động của họ. Nếu quả như người ta
nói, tại sao không đề phòng ngăn cấm trước để chi đến nay mới cấm, khiến người Pháp
mượn cứ trách ta? Nếu nói họ dụ dỗ giáo dân trước rồi mới gây hấn với ta, thì sao họ
không thừa cơ khi ta mới bắt đầu dựng cơ nghiệp mà đem quân cả nước đánh lấy cả
Nam Bắc phải đợi đến hàng chục năm dài về sau mới tính mưu? Phải chăng vì họ chưa
được thông thương cho nên chưa lập mưu lấy nước ta, thế thì ngày nay họ đã thông
thương được với nước ta đâu mà có thể thắng được ta? Nếu họ quyết ý chiến thắng thì
dễ như lấy vật trong túi, đời nào lại chịu giảng hòa với ta. Những việc đó đã quá rõ,
không đợi phải nói mới biết được. Còn ta nếu không chịu hòa, thì họ xưa nay vốn hiếu
thắng, đời nào lại chịu thôi. Cho nên tôi nói hòa với họ là tiện lợi, là một việc rất tốt phù
hợp với lẽ trời đất. Trời đất hòa mới có mưa móc tưới nhuần. Bốn mùa hoà vạn vật mới
sinh nở. Hai nước hòa bờ cõi mới an ninh. Triều đình hòa trăm việc mới chỉnh đốn. Xưa
nay chưa có khi nào bất hòa mà làm xong việc được.
Vậy kính xin đại nhân tâu lại đầy đủ
18
. Cho họ một miếng đất thì chẳng những các sĩ
phu trong thiên hạ muốn làm quan ở Triều đình mình, người buôn trong thiên hạ đua
nhau đến buôn bán trong nước mình, mà nước nhà sẽ được vững như bàn thạch, là dân
sẽ tránh được khổ lầm than, để giữ vững cơ nghiệp.
Tôi ở nước ngoài đã lâu biết rõ sức của họ, tinh tường tình hình của họ. Xưa Hàn Dũ có
nói: “Biết mà không nói là bất nhân; nói mà không nói hết là bất nghĩa”. Vì vậy, tôi tuy
thân giang hồ mà lòng vẫn ở nơi đế khuyết. Thật không nỡ lòng thấy đất nước bị chia
cắt, trăm họ bị lìa tan, cho nên không nghĩ mình ở địa vị thấp hèn, dám cả gan nó ra.
nếu như lời tôi nói là gian trá, hoặc có ai xui khiến tôi nói thì tôi xin nạp mình trước cửa
đế đô, để làm chứng sau này.
19
Tôi xin gởi kèm theo đây một bản đồ để chú giải rõ những điều nói trên đây.
Kính xin soi xét. Sau này nếu được yên, tôi xin đích thân đến để trình bày rõ nỗi lòng
riêng bấy lâu ấp ủ của tôi.
Nay bái bẩm
17
Vua Gia Long
18
NAM PHONG nói: Xin chấp nhận cho ý kiến của thần. (Chuẩn thần sở kiến).
19
Bản NAM PHONG chấm dứt ở đây.
Ngày tháng năm Tự Đức 16
Nguyễn Trường Tộ ký

DI THẢO SỐ 2
BÀN VỀ TỰ DO TÔN GIÁO
20
(Giáo môn luận)
(Ngày 11 tháng 2 năm Tự Đức 16 tức 29 tháng 3 năm 1863)

Trộm nghĩ rằng cái đức lớn của trời đất là sự sống. Sống là gì? Là làm cho muôn vật
đều được bảo toàn thiên tính của nó. Vì vậy mà trên trời có sao sáng mây đẹp thì cũng
có gió lớn mưa to; dưới đất có lúa tươi thóc tốt thì cũng có cỏ xấu sâu độc. Tuy tốt
xấu khác nhau nhưng đều được sinh nở không cái nào bị hại. Như vậy mới sáng tỏ cái
đại toàn của trời đất. Chứ cái gì đẹp thì tô bồi, cái gì xấu thì dẹp bỏ, cái gì hay thì che
chở, cái gì dở thì huỷ hoại thì không làm sao thấy được cái vĩ đại, cái kỳ diệu của tạo
vật. Vì sao lại nói như vậy? Bởi vì nếu trên đời này có ngọt mà không có đắng, người
ta sẽ không biết vị ngọ là đáng yêu; có ấm mà không có lạnh, người ta sẽ không biết
được cái thích thú của sự ấm áp; có trắng mà không có đen, trắng không thể tự một
mình phô bày cái đẹp được; có hoa mà không có gai, hoa cũng không thể một mình
tốt tươi được. Cho nên trời đất không vì tốt xấu mà phân biệt mưa xương, không vì
văn minh dã man mà phân biệt sự che chở. Muôn vật sống chung đụng với nhau
nhưng mỗi vật đều thuận theo tính của nó, đều tự thích nghi, thành hoại thông với
nhau, tán mạn đặc thù đều quy về một mối, không bỏ một vật nào cũng không riêng
tác thành cho một vật nào cả. Sở dĩ trời đất vĩ đại là vì thế. Tại sao riêng loài người lại
không như thế?
Vua đối với dân, xem bề ngoài tuy có tôn ty khác nhau, nhưng bề trong cũng cùng
một lẽ sinh thành của tạo vật mà thôi. Tạo vật đối với muôn loài, các việc ăn nghỉ ham
muốn đều được theo xu hướng của nó, không cưỡng ép phải làm khác đi cái điều nó
yêu thích hay hòa đồng với cái điều nó không ưa. Vì vậy cho nên tuy sống chung lộn
với nhau mà vẫn thành đại quan của vũ trụ, không có gì khác. Nếu như muôn loài
20
Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 45-53; Hv 634/1 tờ 109-111; Hv 135 tờ 105-117; NAM PHONG số 118 trang 65-70
Nội dung của cả 4 bản đều gần hoàn toàn giống nhau, chỉ trừ một vài chỗ do chép sai, chép sót. Bản Hv 189/1 có tiêu đề,
có ngày tháng (11-2 năm Tự Đức 16) có thể là bản thảo ban đầu, được lưu giữ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ.
Các bản Hv 634/1, Hv 135 và NAM PHONG số 118 có thể được sao chép từ một bản chính thức gởi kèm theo bài Trần
tình, vì thế mà không có tiêu đề, không có ngày tháng năm. Từ Ngọc Nguyễn Lân, sđd, tr.123, có trích một đoạn của bài
này, nhưng không nói xuất xứ, cũng không nói ngày tháng.
NAM PHONG số 117, ở cuối bài có ghi 23 tháng 7 năm Tự Đức 19, nhưng chắc là chép lầm, bởi vì vào thời điểm này, vua
Tự Đức đã có dụ tha đạo, người Công giáo có gặp khó khăn phải chăng là do địa phương.
phản lại cái đức hiếu sinh không chịu theo thiên tính tự nhiên mà đi tàn hại lẫn nhau,
lấy lớn ngược đãi nhỏ, họp nhỏ chống lại lớn thì chẳng bao lâu sẽ bị tiêu diệt. Đó
chẳng phải là điều tối kỵ của tạo vật hay sao?
Vua đối với dân, là người thay trời mà chăn dắt, theo ý trời mà hành động. Dân sinh ở
trên đời, tuy tiếng nói khác nhau, sự yêu chuộng khác nhau, kẻ xứ lạnh người xứ nóng
khác nhau, đến hay đi, nghịch hay thuận, miễn sao biết trung hiếu là được cần gì phải
câu nệ hình tích bên ngoài mà không xét đến cái gốc ở trong tâm, cưỡng ép phải
giống nhau để gây ra rối loạn? Vì thế các bậc thánh vương sửa đổi luật pháp mà
không thay đổi tập tục, sắp đặt việc chính trị mà không thay đổi cái gì vốn đã thích
nghi cuộc sống. Tuy chương Vương chế trong Kinh Lễ có nói bắt tả đạo, sách Luận
Ngữ có nói chống dị đoan. Thế mà thiên hạ không biết bao nhiêu người đã bỏ Phật
theo Lão, thánh vương cũng không nỡ cự tuyệt. Bởi vì ghét người ta cho lắm chỉ gây
thêm mối loạn mà thôi, vả lại thánh vương cũng không dám làm tổn thương đến cái to
tát bao dung của trời đất.
Phàm con người sinh ra trong trời đất, trung hiếu vốn là bản tính chứ không phải cái
gì giả tạo từ bên ngoài gán vào. Ví cũng như nước lữa thuận theo thế của nó thì nước
chảy vào chỗ trũng, lửa cháy nơi khô. Nếu có cái thế khác làm rối loạn không cho lửa
bốc lên, nước chảy xuống, thì đó chỉ là tạm thời mất sự bình thường mà thôi, còn bản
tính của nó vẫn không bao giờ mất. Dữu dân
21
cũng là người, ai lại không có lòng
trung hiếu? Sở dĩ phải tránh đi xa mà mong nhờ cứu giúp, gọi người khác bằng cha,
gọi người khác bằng mẹ là vì thời cùng thế bức, cực chẳng đã phải tạm trốn tránh chứ
đâu phải trong lòng muốn như vậy! Không thấy như con đối với cha mẹ đó sao? Hễ bị
đòn nhỏ thì chịu, đòn lớn thì bỏ chạy là vì lợi hại thiết thân, không thế không được. Vì
vậy sự thuận mệnh cũng có khi không thể làm được.
Xét ra đạo Công giáo
22
vào nước ta từ thời Lê. Trước tiên các giáo sĩ Bồ Đào Nha đến
giảng đạo ở tỉnh Hưng Yên, tiếp đến có các giáo sĩ người Pháp, người Y Pha Nho đến,
được nhiều người tin theo. Lúc bấy giờ giáo dân và những người trong ba đạo (Phật,
Lão, Khổng) tuy tín ngưỡng khác nhau nhưng vẫn ân ái tiếp đón nhau, lễ nghĩa đối
đãi nhau, năng lui tới với nhau không có gì hiềm nghi, đều là con dân của nước nhà
mà thôi. Từ khi ban hành lệnh nghiêm cấm thì mới sinh ra ghen ghét kỳ thị nhau, do
ghen ghét kỳ thị nhau mới sinh ra tội lệ. Từ đấy giáo dân bị phiền nhiễu đến nỗi phải
lưu ly thất sở mà mắc vào vòng hình phạt. Nước vốn trong, có quấy lên mới bị đục,
nếu ngừng thì chốc lát sẽ trong trở lại.
21
Dữu là cỏ xấu phá hại cây lúa. Thời Công giáo bị ngược đãi, trong khoảng từ Minh Mạng đến gần cuối Tự Đức, người
Công giáo bị gọi là Dữu dân để phân biệt với lương dân.
22
Trong nguyên bản bằng Hán văn, Nguyễn Trường Tộ dùng từ “đạo giáo”, nhưng “đạo giáo” đây là tác giả muốn nói
“Công giáo”.
Giáo dân cũng là người trong nước, đều là người cả, cũng là dân của trời, sự ăn ở có
liên quan nhau, vui buồn liên quan nhau. Lẽ nào bên này động mà bên kia lại yên
được sao? Một nước ví như một thân thể. Một chỗ bị đau thì toàn thân cũng không
yên. Một cục thịt thừa, một ngón tay đeo thật hết sức vô dụng thế mà cắt bỏ đi thì đau,
huống chi là tay chân hữu dụng! Trời đất đối với các hành tinh, một nước đối với dân
chúng, sự liên quan lệ thuộc duy trì cũng một lẽ như nhau. Nếu trên trời có một hành
tinh bị động, các hành tinh khác cũng nhân đó mà có chút biến đổi, huống chi dân là
gốc của một nước, dân bị tao động lẽ nào nước không sinh họa loạn? Không thấy
thượng đế là chúa tể cai trị các nước cũng như vua là chúa tể trị vì một nước đó sao?
Các nước khác nhau rất xa về ngôn ngữ, phong tục và sự ưa chuộng, nhưng thượng đế
cũng lấy một lẽ mà đối chung cả vạn vật khiến tất cả đều thuận theo trật tự, đều thỏa ý
nguyện, không bắt tất cả phải giống hệt nhau. Có thế mới sáng tỏ cái tài năng lớn, cái
uy quyền trọng và cái độ lượng rộng rãi. Trong một nước, tuy nhân dân có phân chia
nhà cửa khác nhau, nhưng vua cũng chỉ lấy một quyền mà thống trị dân chúng, lấy
một trí mà liên kết muôn dân, khiến dân tình đều được yên ổn, hành động tuy khác
nhau nhưng đều lương thiện, chí hướng khác nhau nhưng đều đáng quý cả. Như thế
thì chẳng những không tổn hại về mặt chính trị mà còn cho thấy cái tài khéo trong
việc trị nước nữa.
Phàm có vạn thứ không giống nhau thì gọi là giàu, không cái gì không chứa đựng
được hết gọi là lớn, chồng chất thành đống nhiều lớp mà không chống chõi nhau gọi
là khéo, nhiều thế lực khác nhau, nhiều tính tình khác nhau mà hợp được làm một để
sử dụng gọi là giỏi. Cho nên tạo vật nặn đúc ra không đồng một hình dạng, một khuôn
khổ, một ngôi vị, một xứ sở mà sinh ra vô số hình thái khác nhau, phương hướng khác
nhau để nhiếp trị. Thế mới thấy được cái giàu lớn khéo giỏi của tạo vật. Sở dĩ thượng
đế chế trị đại địa cũng như con người ta lập các tôn giáo riêng, không bắt ép cái này
phải nhập vào cái kia là vì có thâm ý trong đó.
Vua đảm đang công việc giúp thượng đế không phải là vua có thể biệt lập một trời đất
mà một mình cầm quyền được, chẳng qua chỉ là nhân các dân vật đã được thượng đế
tạo thành an bài đó mà thương yêu làm cho an ổn, để thông suốt cái chí của thiên hạ,
để soi thấu cái tình của muôn vật mà thôi. Như thế sao lại muốn chấn hứng hay tiêu
diệt được để trái lại trời hay sao?
Từ xưa đến nay trên mặt đất lớn lao này có nhiều đạo khác nhau đã được thành lập ở
nhiều nơi. Đạo Công giáo khởi từ Tiểu Tây, Hồi giáo từ Thiên Phương (Ả Rập), Phật
giáo khởi từ Thiên Trúc (Ấn Độ), Tây Tạng có Lạt Ma tọa sàng, Trung Quốc có Nho,
Mặc, Trang, Lão. Phàm nơi nào có dấu chân người đặt đến thì các tôn giáo cũng theo
người mà truyền vào. Hễ nước nào có thanh danh văn vật, xứ nào có giao thông trù
mật thì người theo đạo đông đúc. Nứơc càng thịnh vượng thì tôn giáo càng nhiều.
Nước dã man thì tôn giáo ít. Lấy tôn giáo nhiều hay ít mà xem nước ấy có hưng thịnh
hay không thì thấy tôn giáo nhiều, nước càng hưng thịnh.
Tuy vua các nước tuỳ theo mỗi đời có sự ưa thích khác nhau nhưng đầu tiên đạo giáo
do một người truyền bá ra, kế tiếp theo có hàng nghìn vạn ức người phụ họa theo, và
cũng có vạn ức người bài bác lại. Nhưng chưa từng thấy đạo nào vì được phụ họa mà
chấn hưng được hết cả, hay bị bài bác mà bị tiêu diệt hết cả. Ngoài ra còn có các
ngoại đạo ở các nước nhỏ, và các xứ ven biên không kể hết được, nhưng cũng chưa
nghe nước nào vì đạo giáo nhiều mà phải mất nước. Quay ngược về xưa mà xem thì
giặc Khăn Vàng (Hoàng Cân) vốn vì theo Lão Tử, loạn Hồ vốn bởi theo Mâu Ni.
Ngoài ra như Hoàng giáo, Bạch giáo và các đồ đảng Đại Thành, Từ Đoàn tụ tập quần
chúng xướng loạn, mà cũng chưa từng nghe các triều đại ấy dùng hình pháp nghiêm
khắc để tiêu diệt các tôn giáo ấy. Thực ra những tệ hại đó là do người làm ra mà thôi.
Lý thuyết và lễ văn của các tôn giáo tuy có khác nhau, nhưng đem hết sách của các
tôn giáo mà xem thì không tôn giáo nào không lấy trung hiếu làm gốc. Nếu không
như thế thì người có lương tâm ai chịu tin theo.
Xưa nay, những loạn thần tặc tử ai là người không đọc sách, ai là người không phục
lời của Khổng Mạnh. Cớ sao lại trộm lấy cái trí năng của thánh nhân mà làm thân đạo
tặc? Như thế là lỗi tại ai? Tại người hay tại tôn giáo? Nếu cứ ai đồng với mình thì dù
tệ cũng bỏ qua, còn ai khác với mình thì chỉ trích khắt khe mà đổ cho giáo pháp ấy
không tốt, thử hỏi công lý ở đâu?
Từ xưa đạo Công giáo đã phát hưng ở miền Tây phương Đông, miền Nam phương
Bắc, miền Đông phương Tây, nhất thống toàn thịnh như Đại Tần (tức La Mã), tung
hoành cát cứ như nước Mông Cổ và những nước rộng đến 5, 6 nghìn dặm la liệt như
sao trên trời, bày bố khắp như quân cờ, vua tướng ở các nước ấy quyền quý, thông
minh, hùng hổ, đều nổi dậy mưu hại giáo đồ. Hơn 300 năm nay, số giáo dân bị giết
hại, thống kê số người có tên họ bị chôn ở nhà đá có đến trên mười triệu người; còn
những người vô danh khác bị vùi lấp như kiểu giáo dân ở Biên Hòa (của ta) thời
không kể xiết. Lúc bấy giờ như ở hai nước Pháp, Y Pha Nho, số giáo dân bị độc hại
cũng hằng hà sa số. Nhưng giết một người thì có nghìn người theo, giết mười người
thì có vạn người theo thêm. Vua tướng các nước đã không tiêu diệt nổi đạo, mà trái lại
được đạo cảm hóa. Vì sao vậy? Vì phàm vật gì có sức lớn mà lại có gốc nguồn thì
càng bị quấy rối di động càng xuất hiện mãi mãi không cùng. Như nước và lửa, có ai
có thể múc hết nước, dập tắt hết lửa?
Đạo Công giáo đã thịnh hành từ Đại Tây, Tiểu Tây rồi dần dần chuyển qua Đông
Nam. Và đã 300 năm nay cũng bị các nước ở đấy ngăn trở sát hại như ở phương Tây
trước kia. Thế mà người theo đạo ngày càng đông. Theo thống kê ở Trung Quốc thời
Minh đạo đã có hơn 60 vạn. Còn như người nước ta, Nhật Bản, Cao Ly, Miến Điện,
Thiên Trúc, Ba Tư, Tây Tạng, Hung Nô, Lữ Tống và các đảo ở ngoài bể thì không kể
trong số này. Càng cấm mà người theo càng đông là vì sao vậy? Vì rằng tạo vật quý
trọng sự sống vô cùng, thường hay phù trợ những người bị mưu hại. Nếu không phù
trợ mà còn giúp kẻ có thế lực được thỏa lòng sát nhân thì thiên hạ sẽ bị kẻ lớn mạnh
nuốt hết, mà kẻ nhỏ bé sẽ không còn nòi giống nữa. Huống chi các vua thường
nghiêm cấm đạo mà người truyền đạo thì vẫn tiếp nối nhau đời này sang đời khác
không thôi. Tuy hoặc có lúc hơi bị áp chế nên tạm ngừng, nhưng lúc ấy, chính là lúc
củng cố vun bồi để sẽ phát sinh thêm nữa. Ví như suối ở trên núi, nguồn suối càng sâu
càng dài, thì nước tuôn ra càng xa càng mạnh. Như thế là những cái gì mà trời dung
thì người không thể tiêu diệt hết. Nếu như quả là trời dung mà người diệt thì lẽ nào
tạo vật không có quyền lực để xử việc đó?
Giáo dân cũng do tạo vật sinh dưỡng và đạo giáo cũng do tạo vật bảo dưỡng, huống
chi giáo dân cũng là một thành phần của nhân dân trong nước? Trong số đó nếu có kẻ
bội nghịch chẳng qua cũng chỉ một phần nghìn phần trăm mà thôi, tại sao không minh
xét, mà cứ đổ riết cho tất cả là nghịch? Do đó mới coi những người theo đạo vô luận
lớn bé trẻ già, trung nịnh trí ngu đều đáng xua đuổi sát hại như chim non chuột thối.
Nếu làm như thế mà hợp với lòng của tạo vật, thì tạo vật vốn là bậc cha mẹ của muôn
loài sao không sớm tiêu diệt đạo ấy đi còn để truyền lan làm gì cho khắp thế giới phải
sa hầm mắc bẫy? Chắc chắn không phải như vậy…
Nói tóm lại, bất kỳ trong đạo giáo nào, hễ ai phản nghịch loạn thường đều là người
đắc tội trong tôn giáo, cứ áp dụng hình pháp không tha để cho đạo giáo được trong
sạch. Còn ai yên phận tuân theo pháp luật thì để cho họ tự nhiên có hại gì đâu? Đồng
hành mà không nghịch nhau là được, cần gì bắt phải nhất tề những cái mà tạo vật
không thể nhất tề, cũng không cần thiết phải nhất tề, để làm tổn thương hòa khí? Kính
mong đại nhân ra sức hồi thiên
23
đem lòng hiếu sinh bắc cầu cho kiến qua
24
để được
cùng với trời đất góp phần ích dụng. Nói một tiếng khiến giáo dân được mang ơn một
phần. Đó cũng là hợp với câu “đại đức viết sinh”
25
vậy. Xin dâng lời thô ngu, kính
mong cao minh lượng xét.
Nguyễn Trường Tộ ký.
DI THẢO SỐ 3
23
Hồi thiên: Làm cho vua hồi tâm nghĩ lại. Tích Truơng Huyền khuyên can Đường Thái Tôn bỏ việc tu bổ cung Lạc Dương.
Người ta gọi Trương Huyền có sức hồi thiên. Đây có ý nói khuyên vua bỏ việc cấm đạo.
24
Bắc cầu cho kiến qua (biên kiều độ nghị) do tích Vương Tăng đời Tống bên Trung Quốc là một người đã từng đậu trạng
nguyên làm Tể tướng. Thuở nhỏ có hôm nhân đi qua một chỗ có nhiều tổ kiến bị nước ngập, ông bèn lấy cành tre bắt
ngang làm cầu cho kiến bò qua khỏi chỗ nước chảy, khỏi bị ngập chết trôi. Tác giả dẫn tích này cốt nói trẻ nhỏ mà có lòng
nhân đức biết quý trọng sự sống. Vì vậy mà về sau trở thành một vị danh thần. Ý nói cứu được nhiều sinh linh.
25
Câu “Thiên địa chi đại đức viết sinh” nghĩa là đức lớn của trời đất là sự sống.
BÀI TRẦN TÌNH
26
(Ngày 26 tháng 3 năm Tự Đức 16, tức 13 tháng 5 năm 1863)
Tôi thuở bé không được dạy bảo, lớn lên lưu lạc nhiều nơi, nhưng những hoài bão và
việc làm của tôi có chỗ khác hơn người.
Từ bé tôi đã thận trọng trong việc giao du, thích yên tĩnh, đối với tất cả những sự cầu
danh, lấn lướt, giành công, tham lợi tôi đều coi như mây bay nước chảy. Vả lại, tôi
không ham thích kinh doanh, không thích chuyện vợ con, đoạn tuyệt với hai cạm bẫy
tài sắc. Người ta ở đời sở dĩ không được thanh thản tự do mà phải chìm đắm trong lưới
trần tục, lạc theo phường phản nghịch, đều do hai cạm bẫy này mà ra cả. Tôi thoát khỏi
vòng đó, cho nên việc làm của tôi có khác người, như những điều sau đây là những
bằng chứng xác thực. Đấy là điều khác thứ nhất.
Đến lúc lớn lên tôi chu du các nước, những điều mắt thấy tai nghe góp lại thành một sự
ích dụng lớn. Về việc họ, không môn nào tôi không để ý tới: cái cao của thiên văn, cái
sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị
nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là để ý
nghiên cứu về sự thế dọc ngang, tan hợp trong thiên hạ. Thường những người học được
như vậy hay dùng đó làm phương tiện để cầu vinh, để tiến thân, còn tôi thì dùng để đền
đáp lại cái mà trời đã cho tôi học được, chứ không mong kiếm chác một đồng tiền nào.
Đấy là điều khác thứ hai.
Đến lúc đạo sắp bị diệt, tôi qua sông vượt biển để giữ lấy cái chân lý. Tuy nhiên đến các
nước ngoài, trước mặt những người quyền quý, lời nói việc làm của tôi đều giữ thể diện
cho nước mình. Nếu ai làm nhục đến các bậc công khanh nước ta, tôi đều biện bác ngay
không chút sợ sệt. Như người khác ở địa vị tôi lúc ấy, tất hạ mình tôn xưng người, cúi
đâu luồn luỵ để được yên thân. Còn tôi thì tôi biện bác ngang nhiên, tỏ rõ tài năng của
mình, tán dương rất mực những điều sở trường của nứơc mình và che đỡ những điều sở
đoản. Tôi không có chức phận của người sứ giả ngoài bốn phương, mà làm được như
thế. Đấy là điều khác thứ ba.
Kịp đến lúc người Pháp gây hấn với ta, tôi đã cực lực chối từ lời mời của họ. Nhưng sau
nghĩ rằng tình thế nước ta hiện nay tạm hòa là thượng sách. Vì chưa đủ sức chống chọi
26
Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 53-64, Hv 135 tờ 129-145, Hv 634/1 tờ 85-103, NAM PHONG số 117 trang 54-59
Bản Hv 189/1, so với ba bản sau, có nhiều câu, nhiều chữ chỉnh hơn. Đây có lẽ là bản mà Nguyễn Trường Tộ, khi sao chép
lại để gởi cho một vị đại thần nào đó, có chấp bút thêm; ở đầu bài ghi: Tự Đứcnăm 17, trong lúc thực sự bài Trần tình này,
theo như ba bản kia và các tác giả khác như ông Nguyễn Lân và ông Đào Duy Anh nói: 26 tháng 3 năm Tự Đức 16.
Bản chính thức gởi cho Trần Tiễn Thành được lưu giữ tại thư viện Bảo Đại; trước năm 1945 các ông Trần Mạnh Đàn, Đào
Đăng Vỹ, Nguyễn Lân đều đã tham khảo. Điều đáng chú ý là ông Nguyễn Lân, trong sách đã dẫn ở trang 57 có trích một
đoạn nằm trong số khoảng 428 chữ mà ba bản văn Hv 135, Hv 634/1 và NAM PHONG không có. Đoạn này liên quan đến
thái độ lật lọng của Pháp có thể do NAM PHONG tự ý đục bỏ. Các bản văn Hv 135 và Hv 634/1 có lẽ đã được sao chép từ
một bản gốc giống như bản được sao chép cho NAM PHONG. Còn bản chính thức lưu giữ lại Thư viện Bảo Đại cũng như
bản Hv 189/1 lưu giữ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ thì có đủ.
Về đầu đề, thì Hv 135 và NAM PHONG nói: Trần tình khải; Hv 634/1 Trần tình. Riêng Hv 189/1 thì không có đầu đề,
nhưng có mào đầu: “Ti Nguyễn Trường Tộ trần tình khấu bẩm: Tôi Nguyễn Trường Tộ cúi đầu bày tỏ nỗi lòng”.
được với họ, cho nên, phải uốn nắn mà theo họ. Như thế may ra góp được một phần nhỏ
đối với việc bàn hòa. Nỗi khổ tâm của tôi phải uyển chuyển để được chu toàn thật
không bút mực nào tả được. Nhưng ở lâu với nước Tề đâu phải là chí nguyện
27
. Tôi đã
dự định trong lòng từ lâu, nếu như việc đó được thành công thì tôi lại bay bổng cao xa
ngao du khắp bốn bể. Như trước kia tôi có đưa cho người bạn Trung Quốc câu thơ rằng:
“Thành công tôi sẽ ngao du” (Công thành ngã diệc tâm hãn mạn). Đấy là nguyện vọng
của cả đời tôi. Như thế thì tuy sống cảnh giang hồ mà lòng vẫn lo tưởng đến nơi lăng
miếu Triều đình. Đấy là điều khác thứ tư.
Sau đó rồi đại đồn
28
thất thủ, người Pháp giao cho tôi giữ việc giấy tờ. Tôi thật như mũi
tên nằm trên lòng cung. Thế nhưng lời lẽ trong các giấy tờ, một bên tôi gọi là “quan
binh”, một bên tôi gọi là “triều binh”. Hễ có những lời thô bỉ nhục mạ, tôi đều sửa lại
cho được trang nhã nghiêm chỉnh, không khi nào dựa thế mà quên đại nghĩa. Người xưa
ở trong hàng trận mà không thất lễ vua tôi. Chỉ chừng đó cũng đã được bề trên yêu quý.
Còn tôi đang ở trong lòng địch, không quyền không thế, chúng tác uy tác phúc trên đầu
mà giữ được lễ nghĩa như thế lẽ nào lại không hơn những người xưa đó hay sao? Hơn
nữa tôi còn làm trung gian điều hòa hai bên, để giảm bớt sự hà khắc gay gắt của kẻ
địch, để cứu giúp nhân dân khỏi vòng nước lửa. Đối với những người chịu sự giúp đỡ
kín đáo đó, tôi cũng không lấy đó làm điều ơn đức. Mỗi khi thấy các quan của triều
đình bị nhục, tôi coi họ như cha mẹ mình mà âm thầm tỏ lòng cung kính, an ủi, tìm cách
sắp xếp cách cư xử, để tránh sự ngược đãi của kẻ địch. Nhưng tôi cũng phải khéo léo
không để lộ dấu tích, sợ kẻ địch sinh nghi. Việc nay xin hỏi quan lãnh binh thì biết rõ.
Nếu như người khác ở địa vị ấy sẽ hoạnh hoẹ cầu lập công, thêm dầu thêm lửa, xui địch
giết hại, để thỏa mãn thù hằn. Còn tôi, tôi vẫn nghĩ tới luân thường đạo lý, không dám
ôm lòng phẫn nộ, để tổn thương danh phận. Đấy là điều khác thứ năm.
Sau đó khâm sai Nguyễn đại nhân
29
đến bàn việc hòa hiếu. Tôi vui sướng không biết
bao nhiêu mà kể. Thường khi gặp phái viên ở trên tàu, tôi giả vờ chỉ trời chỉ đất như nói
những chuyện không đâu, mà thực ra ở trong có vô số những mật thuyết cơ mưu, mong
phái viên nghe được mà đem về chuyền đạt. Tức như đảng giặc Quảng Yên lúc ấy tuy
chưa phát lộ, mà tôi đã nói rõ với quan Phan
30
để bẩm lên Triều đình biết mà đề phòng
trước (việc ấy là vào khoảng tháng ba năm Tự Đức 14). Đến lúc bọn giặc đó nổi lên, tôi
lại hết sức nói với mọi người rằng: Bọn chúng không làm gì được. Ai mà theo chúng tất
sẽ làm quỷ không đầu. Cũng có nhiều người nghe đến thế lực của chúng to lớn đã phụ
27
Nguyên văn: Cửu Tề phi chí: trích lời của Mạnh Tử, có ý nói: ở lâu với nước Tề không phải là bản chí của Mạnh Tử, và ở
lâu với nước Pháp không phải là bản chí của tác giả.
28
Tức là đồn Kỳ Hòa bị tràn ngập ngày 23-24 tháng 2-1861.
29
Tức Nguyễn Bá Nghi được phái đến thương thuyết với Charner tháng 3 và 4/1861.
30
Nguyên văn là “Phan quý viên” tức một viên chức họ Phan, chứ không phải Phan Thanh Giản bởi vì trong đoạn sau khi
nói tới Phan Thanh Giản, thì tác giả nói “Phan đại nhân”. Vả chăng Phan Thanh Giản chỉ tới Sài Gòn để ký hòa ước 5-6-
1862 (Tự Đức 15). Quan Phan nói ở đây là Phan Văn Khả ở đoạn sau?
họa theo, tôi lại cực lực ngăn cản và nói rằng: Nếu trời không có mắt, chúng nó mới
hoành hành được. Tôi nói tôi sẽ lẻn về, họp những ngừơi oán ghét chúng, chết cũng
quyết đánh, thề không chịu làm dân của chúng nó
31
. Những lời nói đó của tôi hiện
những tín đồ trong bản đạo và người ngoài ai cũng biết. Ngày trước tôi cũng có đưa cho
Phan đại nhân một câu thơ:
Quảng Yên cá chậu sống bao lâu,
Gia Định lừa
32
kêu kế đã cùng.
Xin xem câu ấy thì biết ý tôi. Bấy giờ đường vận chuyển lương thực cho quân thứ ở
Biên Hòa gặp khó khăn. Có một lần tàu Pháp tuần hành nhặt được một bó công văn.
Quan Pháp dùng những chữ số 1, 2, 3, 4… viết lên trên mỗi trang rồi đưa về tàu giao tôi
phiên dịch. Trong đó tôi đã chọn lấy một hai điều không liên quan đến việc quân sự
đem dịch ra, số còn lại thì tôi dịch tráo trở lời văn làm cho họ không hiểu được. Trong
đó có một khoản nói về kế hoạch bí mật vận chuyển lương thực. Tôi bèn lấy một tờ giấy
khác đánh số rồi đem tráo vào đó, bí mật lấy tờ giấy kia giao cho tri phủ Phan Văn Khả
mang về.
Lại có một lần nữa, người Pháp bắt được bản ghi tên các nhà bá hộ ở Phước Lộc, Tân
Hòa bấy lâu lén lút chở lúa gạo lương thực đến Phước Tuy như Phạm Cự Chung v.v…
Tôi cũng đưa thay đổi cất giấu, nếu không thì mấy người này cũng không có đất mà ẩn
náu nữa!
Còn như các hòa ước của hai bên trao đổi hàng chục lần thì trong chữ Pháp có chỗ nào
nhục mạ không khiêm tốn, tôi đều bỏ hết không dám viết ra. Còn những công văn có lý
thẳng lời hay có ích cho việc nước tôi đều dịch rất rõ ràng đầy đủ. Lúc ấy hòa ước tuy
chưa thành nhưng tướng Charner cũng đã dần dần có thái độ hòa dịu, đã chịu bớt cho số
bạc bồi thường và giảm số đất phải nhượng. Chẳng may, có một bận tôi có việc phải đi
xa, quan Pháp vớ được một đạo công văn giao cho viên giám đốc người Pháp nhờ một
người Hoa phiên dịch, trong có mấy khoản nói về việc treo giải thưởng cho những
người chém được quân và quan Pháp. Tướng Pháp thấy thế, liền cho là Triều đình giả
31
Đảng giặc “Quảng Yên” mà tác giả nói đến đây là đảng Lê Duy Minh, cũng có nơi gọi là Lê Duy Phụng hay Tạ Văn
Phụng, tự xưng là dòng dõi họ Lê đứng lên chống lại nhà Nguyễn. Theo linh mục Le Grand de la Lyraie, thông dịch viên
của quân đội Pháp (1858-1873), người có quen biết Lê Duy Minh là thầy giảng của linh mục Castex, thì Lê Duy Minh theo
Ba Khuất hoạt động tại vùng Quảng Yên từ năm 1851 nhưng thất bại sang ở với các thừa sai Pháp tại Hồng Kông (đổi tên
là Phụng), và năm 1858 theo Le Grand de la Lyraie về Đà Nẵng làm thông dịch cho Pháp, tìm cách làm áp lực để Tướng
Pháp đánh thẳng lên Huế, nên bị trả về Hồng Kông, đầu năm 1861, được Charner đem về Sài Gòn để manh nha lập đồ
đảng quấy phá ở Bắc bộ (điều mà Nguyễn Trường Tộ đã phát hiện và phản ánh với “Phan quý viên”) năm 1862 là lúc Lê
Duy Phụng được Pháp hỗ trợ mạnh để làm áp lực bắt Triều đình Huế phải ký hòa ước 1862. Lúc này là lục Nguyễn Trường
Tộ trao cho Phan Thanh Giản câu thơ “Giặc ở Quảng Yên như cá ở trong chậu”, tức không sống được lâu, sang năm Tự
Đức 19 (1866) thì đảng Lê Duy Phụng bị tiêu diệt hoàn toàn và Lê Duy Phụng bị bắt và xử tử.
32
“Lừa kêu”: Trích truyện của Liễu Tống Nguyên, nhà văn thời Đường, có kể là ở đất Kiếm vốn không có lừa, nhưng một
người đã đem một con lừa từ nơi khác đến thả trong rừng. Hổ thấy lừa to lớn, thì tưởng là vị thần, nghe lừa hí thì sợ, nhưng
rồi dần dần nghe quen, nên lại gần, lừa tức giận tung vó đá hổ. Hổ sấn tới nhảy lên cắn cổ lừa ăn thịt. Do đó câu thơ “Gia
Định lừa kêu kế đã cùng” có nghĩa là bọn Pháp ở Gia Định cũng giống như con lừa ở đất Kiếm đã hí lên thì tài năng cũng
đã để lộ ra hết rồi, chẳng có gì đáng sợ nữa.
hòa. Tôi tuy đã nhiều lần giải thích, nhưng trong giấy lại có ghi ngày tháng làm căn cứ
nên không thể làm sao được, trong lòng lấy làm lo ngại. Do đấy tướng Charner chán
nản thất vọng thu xếp về nước.
Tôi lại gởi cho Nguyễn đại nhân một bức thư. Khi ấy tôi đã dò biết tướng Bonard sắp
sang. Ba tỉnh sắp mất. Phía trong phong bì bức thư đó, tôi lấy bút chì mật viết mấy
hàng: “Xin đại nhân phái gấp một người lanh lợi có trí nhớ tốt, đến chỗ ở của tôi, tôi có
vài điều bí mật cần nói để người đó về trình lại, xin điều đình ngay để kịp cứu vãn tình
thế”. Ở phía ngoài, mặt sau phong bì tôi có viết mấy chữ: “Xin xem bên trong phong
bì”. Nếu phong bì ấy còn đến ngày nay, thì hiện dấu chữ của tôi đủ làm bằng chứng.
Không biết vì sao không thấy Nguyễn đại nhân phái người đến hỏi. Tôi mong đợi đến
mấy ngày. Rồi tướng Charner xuống tàu về nước, để lỡ mất cơ hội ấy. Tôi đành ngậm
ngùi than thở mà tự nghĩ rằng: Phải chăng ý Trời khiến thế? Người dẫu có cao mưu tài
trí cũng không thể cưỡng được. (7). Đứng trước tình thế khó khăn ấy, nếu quả tôi là kẻ
có lòng phản bội Tổ quốc thì sao tôi lại có thể cẩn thận suy nghĩ, bí mật lo liệu được như
vậy?Kế đó tướng Bonard sang. Tôi thấy ông ta có những hành động nghịch lại việc bàn
hòa. Tình thế đã khó lại khó thêm, tôi mới quyết định xin thôi không làm việc nữa. họ
không chịu xét. (8)
33
Tôi nhất định từ, không nhận bổng lộc. Ai cũng chê cười tôi là ngu.
Mặc dầu họ có sai người đến cố nài ép trao cho tôi, tôi cũng bỏ đi lánh mặt. Thấy lòng
tôi quyết định, chí tôi vững chắc họ lại đem quan chức ra dụ tôi. Tôi nói: “Nhận quan
chức thì được bổng lộc, không nhận thì dù bần cùng đến phải làm đứa ăn xin cũng htà
làm đứa ăn xin chứ không chịu theo mà phụng sự cho họ. Câu nói này hiện có cố Hòa
34
và những người lúc bấy giờ cùng nghe. Xem thế thì thấy tôi đã cương trực đến như thế
nào. Hơn nữa, mội khi nói chuyện với những bậc trí thức, tôi đều nói đến những hành vin
và chính sách hà khắc của họ. Tuy nhiên cũng còn giữ lễ của kẻ trượng phu nên chưa
dám nặng lời, và ngay đối với hạng ngu phu nô dịch tôi cũng dùng lời lẽ nhẹ nhàng.
Nhưng về sau đến lúc quá quắt không chịu được nữa (ở đây tôi đã dùng rất nhiều lời lẽ
để nói), đã ví họ như người đàn bà mới về làm dâu, thói xấu tật hư chưa manh nha lộ
dạng. Đối với hạng ưa chuộng quyền thế lợi lộc thì tôi bảo như thế là vì “miếng ăn mà
không nghĩ gì đến tư cách của mình”. Đối với hạng người cho chúng là lớn mạnh mà sợ
thì tôi giận ra mặt và bảo như thế là “làm tăng trưởng nhuệ khí người ta, mà tự diệt uy
phong của mình”. Đối với hạng người cho chúng là giàu có thì tôi mắng nhiếc rằng:
“thứ ăn mày đến cửa nhà ai cũng chúc tụng”. Đối với hạng người cho rằng chúng có thế
lực vững, có nhiều lợi thế hơn có thể chịu đựng lâu dài thì tôi bảo rằng “chuyện hưng
thịnh suy vong là điều vô thường”. Tôi lại đem những lợi hại của phương Tây xa xôi ra
so sánh để thấy rằng chúng mạnh chỉ là tạm thời mà dễ yếu, còn ta tuy yếu mà dễ mạnh
33
Đoạn chữ xiên “Tôi nhất định từ… mà phụng sự cho họ” lại có trong Từ Ngọc Nguyễn Lân sđd trang 27.
34
Tức linh mục Croc, có tên Việt là cố Hòa, sau này là Giám mục giáo phận Vinh.
được lâu dài. Đó là điều tôi thường đem ra tranh luận mãi không thôi. Xin hỏi những
người chung quanh sẽ biết tôi nói có đúng không. Vì vậy, ngày trước tôi có đưa cho Phan
đại nhân một câu thơ rằng:
Khói lửa trời Nam rồi sẽ dứt,
Phương Tây binh giáp tạm hùng thôi
35
Tôi nghĩ rằng thời kỳ khôi phục nước nhà đã có xác chứng ở bốn bể, dự tính được ở
tương lai. Đi theo con đường nào mới được? Con đường phải theo không thể tìm ở
trong nước mà phải tìm ở trong thiên hạ. Như trong tờ bàn về việc nên hòa năm xưa
36
,
tôi đã mật trình với Nguyễn đại nhân rằng: một là mình phải khéo léo ngăn chặn đừng
để họ tìm cớ sinh sự làm lan rộng ra; hai là hãy thong thả sắp đặt đợi lúc họ sơ hở; ba là
để dân thư thái củng cố sức lực. Như đoạn cuối trong bài có nói: Dân đã yên rồi thì sau
sẽ đưa những người tài hiền đi ra bốn bể để học tập các nước lớn những phương pháp
tấn công, phòng thủ, phân tán, tập hợp. Ở chung với họ lâu ngày thì mới đo lường các
đức tính, các lực lượng mà biết tình trạng của họ. Học được tinh thông rồi mới có kỹ
xảo. Kỹ xảo giỏi thì mới mạnh, dưỡng uy súc nhuệ đợi thời mà hành động. Như thế thì
tuy mất miền Đông mà lấy được miền Tây
37
cũng chưa lấy gì làm muộn.
Còn những điều mà Triều đình thâm mưu mật nghị cố nhiên không phải là những điều
mà kẻ thảo dã này dám bàn luận ước lượng đến. Nhưng tình thế lớn trong thiên hạ biến
đổi vô cùng, thường thường có những cái mà con người không tính trứơc được. Dù là
thánh nhân cũng không thể không học mà hay. Huống chi ta với họ phương Đông và
phương Tây, đường đất xa nhau, mắt chưa thấy tai chưa nghe, tình cảm chưa thông
hiểu, sự cơ chưa rõ hình. Chưa ra khỏi nhà nửa bước, thì làm sao biết được họ? Cho
nên, Mục công
38
đời Tần tuy có Bách Lý Hề, Thúc Kiến, Mạnh Minh là những người
hiền nhưng xảy đến sự thế Tây Nhung cũng phải đợi Dư Do báo tin rồi mới biết. Lẽ nào
ở trong triều có ba hiền lương như bọn Lý Hề, Thúc Kiến, Mạnh Minh mà lại không
bằng một Dư Do sao? Rõ thực con người dầu là trí tuệ cũng có chỗ không đủ, dù là
thông minh cũng có chỗ không biết. Đến như Hán Cao Tổ không phải không thông
minh, thế mà việc để tang Nghĩa Đế phải đợi Đổng Trọng Công nói rồi mới phát tang.
Khổng Tử không phải là không có trí tuệ cao vượt, thế mà bị người dân quê bắt mất
ngựa cũng phải đợi người giữ ngựa nói hộ rồi mới được trả lại. Đó là vì việc lớn trong
thiên hạ không phải một mình có thể biết hết. Tính tình con người mỗi nơi mỗi khác,
35
Nguyên văn hai câu thơ có chữ Ly hỏa và Đoài kim.
Ly hỏa: Ly ở phương Nam thuộc hỏa, ám chỉ việc binh đao ở nước ta có ngày sẽ khắc phục được; Đoài kim: Đoài ở
phương Tây thuộc kim, ám chỉ nước Pháp tạm thời xưng hùng.
36
Lời bàn về việc nên hòa (Hòa từ) là một bản văn của Nguyễn Trường Tộ đã gởi cho Nguyễn Bá Nghi tháng 3-4/1861.
Đây có thể là bản “Thiên hạ đại thế nguyên tập” đăng trên NAM PHONG số 100 tháng 11-1925.
37
Nguyên văn: “Thất chi Đông ngung, thu chi tang du” câu trong Hậu Hán thư, Phùng Dị truyện. Ý nói mất miền Đông
(mặt trời mọc) mà lấy lại miền Tây (mặt trời lặn).
38
Mục Công, vua nước Tần đời Xuân Thu.
nếu không phải cùng nòi giống, không thể hiểu rõ được. Tôi tuy phận thấp hèn nhưng
tình thế lớn dọc ngang trong thiên hạ, tình trạng lợi hại của những nước ngoài cũng đều
biết sơ qua một vài điều. Từ lâu ôm ấp trong lòng chưa được nói ra! Cho nên trước kia
tôi có đưa cho Phan đại nhân một bài thơ rằng:
Dệt mướn thôn Tây chẳng phải nghèo?
Khung cửi nhà người sẵn đấy theo
Gấm vóc cung Đông như hỏi đến
Kim vàng trân trọng nắn đường thêu
39
.
Tôi lại đưa cho Phan đại nhân mấy câu:
Mặt trời cho dẫu không soi đến
Hướng Dương xin vẫn nếp hoa quỳ
40
Xem đây cũng đủ thấy tấm lòng nhiệt huyết của tôi.
Trước kia cũng có một lần Hiệp lãnh Phạm đại nhân
41
đến chỗ ở của Giám mục Hậu
42
tôi thấy đại nhân có lòng lo cho việc nước bảo vệ công lý, hỏi han ân cần chu đáo. Thấy
vậy tôi mừng thầm và xin hẹn với ngài hôm nào cải trang ăn mặc thường đến chỗ tôi ở
để tiện việc mật trình. Nhưng lúc bấy giờ vì quan Pháp nghi ngại Phạm đại nhân quá
lắm, đề phòng rất kỹ càng. Tôi sợ việc lộ ra sẽ luỵ đến đại nhân nên phải có thái độ giấu
đầu che đuôi. Rồi không biết Phạm đại nhân nghi ngờ làm sao đã không đến chỗ tôi ở.
Tôi thất vọng vô cùng.
Xem mấy việc trên đủ biết dụng tâm sâu kín của tôi như thế nào. Nay ở Gia Định,
những người ở trong tình cảnh đáng lo sợ, trừ các thuộc quan nhỏ của Triều đình ra, chỉ
có mình tôi mà thôi. Ví lúc trước tôi có đi với người Pháp, bất đắc dĩ phải làm cái việc
thân ở Hán tâm ở Hàn. Về tình thế tuy không thẹn, nhưng ai thấu rõ nguồn cơn? Xưa
nay những người sa chân lỡ bước lưu lạc tha hương cũng nhiều. Tuy sống ở đất khách
nhưng người nào chả có gốc, ai lại vong tình cố quốc được. Về sau cũng có người nhân
đấy lập công, cũng có người suốt đời sống lưu lạc, nhưng cả hai đều không tránh được
công luận để án lại nghìn thu. Tôi mỗi lần đọc thư trả lời của Lý Lăng
43
gởi Tô Vũ
không lúc nào không rơi lệ rởn tóc. Thật là một lần sa chân lỡ bước mà nuốt hận suốt
đời. Những lúc gặp phải cảnh trái ngược như thế thật là khó xử trí. Bởi vì trong danh
giáo hạng người biết xét rõ nguồn cơn để rộng lượng khoan hồng, biết đặt pháp luật ra
ngoài mà xét theo tình để không hà khắc, biết viện những lý lẽ trong pháp luật ra mà
39
Bài thơ này ngụ ý nói rằng: Cũng như những cô gái đi dệt thuê ở thôn Tây không phải vì nghèo mà vì muốn học nghề để
có thể dạy cho đồng hương nếu cần, Nguyễn Trường Tộ đi với Tây cũng không phải vì nghèo mà vì muốn học hỏi để giúp
Triều đình nếu Triều đình cần đến.
40
Có ý nói rằng: Tuy Triều đình không dùng, nhưng lòng tác giả vẫn luôn hướng về Triều đình, lo toan đến quốc sự.
41
Tức Phạm Phú Thứ.
42
Tức Giám mục Gauthier, có tên Việt là Hậu.
43
Lý Lăng, một viên tướng thời Vũ đế nhà Hán, cầm quân đánh nhau với Hung Nô, nhưng vì thế yếu lại không nhận được
viện binh nên buộc phải tạm đầu hàng. Vũ đế được tin Lý Lăng đầu hàng đã giết vợ con họ hàng Lý Lăng. Sau Tô Vũ đi sứ
sang Hung Nô, Lý Lăng viết thư cho Tô Vũ kể hết nỗi lòng.
bênh vực kẻ cùng đường lỡ bước, chẳng qua chỉ được một hai người. Còn những kẻ chỉ
biết nhìn và coi trọng việc trước mắt thì có đến hàng nghìn vạn. Cho nên, hễ hợp nhau
thì tuy nói là sơ nhưng lại càng thân, còn việc đã nghịch nhau rồi thì dù có nói thật cũng
nghi. Thế thường nhân tình là vậy. Bởi thế những kẻ sĩ khi gặp cảnh trái ngang, thường
thường thân bại danh liệt, lưu lạc không về, luống đem khí uất ức tâm lý mà vùi chôn
nơi cát vàng cỏ úa mà thôi. Đấy chính là sự thế của tôi ngày nay. Cảnh ngộ tuy có khác
nhưng bản lĩnh của tôi không vì hoàn cảnh mà đổi đời. Nương thân nơi cửa người
nhưng thề quyết không bày mưu cho họ. Như năm trước tôi có gởi cho người bạn Trung
Quốc một câu thơ rằng:
Nguỵ Tào sống gởi: Từ Nguyên Trực
Tần Lã không thờ: Lỗ Trọng Liên
44
Cũng có lúc nghĩa khí ở trong lòng vì sự tức giận mà bộc lộ ra. Anh em bạn của tôi cho
rằng, đã có cái chí khí như vậy sao không bí mật làm nội ứng? Ý ấy trước kia tri phủ họ
Phan cũng đã nói đến. Tôi đã lấy câu hỏi của Dự Nhượng
45
rằng: “Không muốn làm
việc dễ mà làm việc khó” để trả lời và xin đợi đến ngày sau sẽ biết. Xem thế đủ thấy
thâm ý của tôi là giữ lấy cái chính không dám làm điều sai lầm. Nhưng điều dụng tâm
kín đáo khó khăn của tôi bị nhùng nhằng trở ngại, lại càng gay go hơn thế nữa.
Từ lúc tôi lớn lên, bước chân ra xứ khác, chẳng được Triều đình biết đến, thế mà không
sợ phạm tội, quên mình là kẻ hèn mọn dám nói đến việc cao xa, chẳng tránh hiềm nghi
dám trình bày lợi hại. Như thế thật là ngạo mạn. Đó là tội thứ nhất.
Ở Triều đình tôi không có địa vị, yến tiệc tôi không dự. Những việc trọng đại tôi không
có liên quan gì, thế mà không biết giữ mình sống bấp bênh theo chúng là hơn. Huống
chi ở trong vòng của quân địch mà lại ôm chí khác. May ra dẫu thành công cũng không
tránh khỏi sự chê bai. Như trường hợp vợ cũ của Mãi Thần quay đầu trở về xin chịu
tội
46
. Cho dù lượng bể bao dung cũng chưa chắc không khỏi có điều lo ngại về sau. Lỡ
ra lòng người khó chắc, sa cơ bại lộ thì thân chịu một mình, nào ai biết đến. Thế thì tội
gì mà làm như vậy? Đó là tội thứ hai.
Xưa nay những kẻ trung thần nghĩa sĩ, ai chẳng muốn đem tài ra giúp nước. Nhưng một
mai việc không thành bị dèm che thì thân danh bại hoại sự nghiệp tiêu tan. Huống gì tôi
ở vào hoàn cảnh khó biện bạch, dễ bị nghi kỵ, mà lại làm việc vượt ngoài phạm vi của
44
Nguyên văn:
Ký thân Tào thị, Từ Nguyên Trực
Bất đế Dinh Tần, Lỗ Trọng Liên
Đời Tam Quốc, Từ Nguyên Trực theo Lưu Bị, bị Tào Tháo bắt mất mẹ, nên phải về theo họ Tào, nhưng nhất định không
bày mưu cho họ Tào.
Đời Chiến Quốc, Lỗ Trọng Liên cho nước Tần là man rợ, nên không chịu tôn Tần Thuỷ Hoàng làm hoàng đế. Ông nói: Thà
nhảy xuống sông mà chết chứ không chịu làm dân nhà Tần.
45
Dự Nhượng, người nước Tần, thời Chiến Quốc, đồ đệ của Trí Bá, Trí Bá bị Triệu Trương Tử giết, Dự Nhượng làm đủ
cách để cải trang nhằm giết cho được Triệu Dương Tử.
46
Chu Mãi Thần, đời Hán, nghèo bị vợ bỏ. Sau ông được làm quan, vợ xưa trở lại, ông lấy bát nước đầy đổ xuống đất và
bảo vợ nếu múc lại đổ đầy được, ông chịu tái hợp.
mình, không biết giấu tên che dạng để cầu toàn thân lại còn đem thân hèn mọn hiến
dâng ý kiến. Một giọt nước bổ ích gì cho núi sông? Sao mà ngu vậy! Đó là tội thứ ba.
Vì tôi là kẻ tự biết rõ mình, thấy mình một cách chính xác, bao nhiêu những việc thế
tình nham hiểm, hoạn hải ba đào không việc gì không biết, nên mới cam tâm chịu ba tội
ấy. Chuốc lấy mối lo không phải thuộc phận sự của mình, ôm lấy những việc khó làm,
chí đó mới có thể giữ được. Người xưa xét người không xét ở thành bại mà xét ở chỗ có
hay không có tấm lòng. Có lòng mà gặp thời đắc dụng là điều may. Có lòng mà gặp
phải trắc trở luân lạc, là điều không may. Có lòng mà gặp thời không tốt, đến phải cô
quạnh không chốn nương thân lại còn mắc tội, là điều rất không may. Nhưng nếu lấy
điều khoan dung nhân hậu mà xét, thì nhìn vào lầm lỗi của một người có thể biết được
lòng nhân hậu của người đó. Huống chi tôi nay như con cá voi ở giữa bể, trong gia đình
không hệ luỵ vợ con, ngoài xã hội không lo bị kềm chế, thế mà biết nhớ về cố đô, căm
giận quân thù. Cho dầu một ngày kia may mà thành sự, tôi vẫn biết khó tránh khỏi lời dị
nghị mà yên thân được. Hơn nữa tôi cũng biết rõ rằng tội trước khó chuộc và kẻ có tài
thì dễ rước lấy tai ương. Tôi vốn là người hiểu sâu đạo giáo. Việc đời được mất vinh
nhục tôi đều xem như ngoại vật, chỉ cần bảo toàn lấy cái điều rất quý ở nơi mình là đủ
rồi, nhưng thấy người có việc bất bình cũng phải tuốt gươm cứu giúp, mà bản thân
không mong người đó báo ơn. Chỉ khi nào không mong người báo đáp người ta mới
làm được những việc phi thường, khẳng khái. Hơn nữa, tôi còn thấy một cái gì cao
thượng hơn sự so đo đền ơn trả nghĩa theo cách thường tình ở đời. Như trước kia tôi đã
thiêu huỷ cả một tập văn thư có ghi tên Phạm Cự Chung đó là một chứng cứ. Ngoài ra
những việc làm như minh oan cứu người, nói những lời lợi cho nước thì không thể kể
hết. Tôi vốn không có trách nhiệm về việc công, không mong khen thưởng, không
mong bao đáp sau này, mà làm được như thế, không phải là khác hơn người đó sao?
Xưa, Đông Phương Sóc dâng thư tự tiến cử mình, toàn khoe khoang những tài năng bản
lĩnh của mình không hề giấu giếm tý nào. Tôi tuy không hài hoạt kê không bằng
Phương Sóc nhưng thâm hiểu nhân tình thế thái, biết rõ điều lợi hại, những đạo lý cao
sa, những điều bí ẩn tinh vi, so với Phương Sóc còn có phần hơn, cho nên không sợ
ghen ghét nghi ngờ cứ nói ra hết thảy, để thấy rắng kẻ sĩ trong thiên hạ không bị ràng
buộc thì cách cư xử của họ thường vượt ra ngoài khuôn sáo. Thê thì không nên lấy cái
luận đoán thường tình mà câu thúc họ, để rồi khiến cho họ cũng sẽ chết già trên mặt
biển, cũng buồn thảm như những người xưa mà thôi.
Cúi xin đại nhân lấy quan niệm cao cả rộng lượng mà vượt ra ngoài những xét đoán hẹp
hòi, thương kẻ vong thân bất hạnh này, bỏ qua những hình tích bề ngoài mà xét thấu
tấm lòng thành của tôi. Nếu như đại nhân vui lòng nhận những lời lẻ vụn vặt nay, tôi
kính xin dâng mấy bài Thiên hạ phân hợp đại thế luần, Tế cấp luận, Giáo môn
luận… để cho ngụp nước nơivũng chân trâu dặm may ra có thể chảy thấu ra biển cả.
Được thế thì nước đó qua trăm dặm may ra có thể giúp được ít nhiều. Như thế, tôi dẫu
chết vùi nơi chốn mường mọi cũng tỏ được tám lòng không quên nguồn gốc.
Muôn nhờ ơn. Kính bái.
DI THẢO SỐ 4
KẾ HOẠCH DUY TRÌ HÒA ƯỚC MỚI
47
(Khoảng 11-17 tháng 2 năm Tự Đức 17 tức khoảng 18-24 tháng 3 năm 1864)

Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin kính bẩm,
Sự thế hiện nay rất khó xử, cần phải tìm người giúp, bủa lưới bốn mặt, để họ không
được hoành hành, thì bản minh ước
48
mới lâu dài được, phải lấy kinh nghiệm các nước
khác đã bị trúng ám kế của họ để làm gương, và bắt chước những mưu mô mà các nước
khác đã chế ngự được họ. Hai lối ấy là việc rất gấp cho tình thế hiện nay. Tôi đã trình
bày sơ lược với hai vị phó sứ và bồi sứ
49
rằng việc ấy mười phần chắc chắn không nghi
ngờ gì nữa. Vì họ nghĩ rằng nước ta từ trước chưa bao giờ giao thiệp với nước ngoài,
chưa hiểu rõ các mánh khoé nên họ mới dùng những kế đã thi thố ở các nước khác ra
thi thố với ta. Nếu đại nhân
50
đã có mưu kế riêng rồi, thì tôi không dám bàn nữa. Còn
nếu muốn mưu tính việc thiên hạ, khiến những bọn ghét nhau tự xâu xé lẫn nhau, để ta
được nhân đó mà hưởng lợi, như xưa kia Anh mất Hợp Chủng Quốc là vì có nước Pháp
xen vào; Khang Hy được chia bờ cõi với người Nga vì bị Hà Lan dụ dỗ; Nhã Điển khỏi
bị thần phục Thổ Nhĩ Kỳ vì có Anh, Pháp giúp đỡ. Các nước Nhật Nhĩ Man
51
khỏi bị
thôn tính là nhờ có các nước lớn giữ cho. Lý do vì sao được như thế, trong tờ trình bày
tháng trước tôi đã bẩm qua rồi. Cúi xin đại nhân soi xét tấm lòng thành đem việc
chuyển tâu lên. Nếu ngày kia có việc
52
, tôi xin được phụ giúp, tôi cũng có thể trình bày
một vài ý kiến để chuộc tội trước.
Hiện nay tôi muốn đi qua kinh đô nước Anh. Nhân nước Anh có mở đại hội cách trí, họ
thường sai người đi khắp các nước đến các đầu phố phỏng vấn về tình hình người
47
Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/13 tờ 63-71 và Hv 634/3 tờ 34-46.
Hai bản hoàn toàn giống nhau, chỉ khác một vài chỗ sai sót của người chép.
Về niên hiệu thì chỉ có Hv 634/3 ghi “Tự Đức 23” với đầu đề “Điều trần hiện tình”. Nhưng qua nội dung, chúng ta có thể
đoán chắc rằng bài này được viết gời Phan Thanh Giản vào khoảng giữ tháng 2 năm Tự Đức 17 tức hạ tuần tháng 3-1864.
Thực vậy, chúng ta biết là Phan Thanh Giản, cùng với hai phó sứ và bồi sứ, Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản, đi sứ ở
Pháp về, mang theo một bản dự thảo Hòa ước, thay thế cho Hòa ước 5-6-1862. Theo dự thảo Hòa ước mới: Pháp trả lại cho
Việt Nam ba tỉnh phía Đông và chỉ giữ lại một vài địa điểm làm nơi buôn bán. Ngược lại, Triều đình Huế phải trả cho Pháp
một khoản tiền bồi thường rất lớn hằng năm. Phái bộ Phan Thanh Giản, phải lưu lại Sài Gòn từ 11 đến 17 tháng 2 năm Tự
Đức 17 tức từ 18 đến 24 tháng 3 năm 1864, trong lúc chờ tàu trở về Huế.
48
Bản minh ước: Tức bản dự thảo Hòa ước mới được thương thuyết tại Paris giữa phái bộ Phan Thanh Giản và Aubaret
cuối năm 1863.
49
Phó sứ và bồi sứ: tức Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản.
50
Đại nhân: tức Phan Thanh Giản, chánh sứ.
51
Nhật Nhĩ Man: tức liên minh các nước Đức (Confédération du Rhin).
52
Việc: đây là việc đi giao thiệp, thương thuyết hay đi ra nước ngoài theo như kế hoạch được trình bày trong bài văn này.
phương Tây giao tế với các nước khác như thế nào (việc này có tương quan đến đại thế
tung hoành, phân hợp của các nước). Người này đến Gia Định, phỏng vấn người Pháp
gần đây thế nào, Đại Nam thế nào, nhưng người Pháp không chịu nói sự thật. Y nghe
tiếng tôi, tự đến hỏi thăm. Thật tình có bụng muốn gặp nhau nên nhân y muốn mời tôi
cùng đi, tôi mừng thầm cho đó là cơ hội tốt khiến tôi có thể đến tận nước Anh, như
trong tờ mật bẩm ngày trước tôi đã nói lý do cần đi nước ngoài là vì thế.
Vậy cúi xin đại nhân cho tôi mượn bộ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ (tại sao lại cần dùng bộ sách
ấy, tôi đã nhờ hai vị phó sứ, bồi sứ chuyển trình rồi). Nếu được đại nhân cho mượn, thì
xin giao cho người thông ngôn của hỏa thuyền (ngoài bì nhớ đề: cố Hòa
53
ở nhà Phước
nhận) cầm về cho tôi. Khi nào xong việc, xin trả lại tử tế. Muôn đội ơn đại nhân.
Nếu có việc gì ở nước ngoài, cần dùng đến tôi, thì xin cho biết gấp, tôi xin đợi ở Gia
Định. Không thì tôi xin đi trước. Hoặc đi hoặc ở lại, xin theo ý định của đại nhân.
Tháng trước, tôi đã bẩm lên quan Thượng thư bộ Binh biết rằng: Họ muốn làm kế bưng
tai ăn trộm truông, cho nên gấp rút phái thuyền đến Kinh xin hoàn thành công việc
54
.
Đấy là mưu kế độc ác. Có hai lẽ (hai lẽ ấy tôi đã bẩm rõ rồi). Vả lại trong tờ hòa ước họ
có buộc một điều kiện là: “Có thuận cho thi hành mới được thi hành”
55
, chính là mưu
ngăn chặn người khác chia lợi với mình sau này vậy. Vì gần đây các nước ký hòa ước
chung với phương Tây, phần nhiều đều có các nước cùng chứng vào, nên khó bề tự ý
muốn làm gì thì làm. Chỉ có lần này họ đem kế ấy thi hành ở nước ta. Họ biết chắc chắn
thế nào ta cũng sẽ vi phạm trước. Ý họ muốn mượn cớ đấy để phía Nam lấy Cao Miên,
phía Bắc thông lên Vân Nam (họ nghe nói tơ Vân Nam tốt nhất thiên hạ, lại nghe Hải
Dương có mỏ than) chứ không phải chỉ vì ba tỉnh mà thôi.
May phen này (người Anh nghe họ thông thương với Cao Miên rất giận) Triều đình ta
cương quyết sai sứ sang Tây, họ tưởng là ta đã khám phá được âm mưu của họ rồi (vì
nước họ có hai đảng: Một là Viện Công Hầu, một là Viện Thứ Dân; Viện Công Hầu thì
hay bợ đỡ ý vua, còn Viện Thứ Dân thì cho việc ấy là bức hiếp người ta, vì nước ta
chưa có sai lỗi gì lớn, mà làm như thế là chưa hợp nghĩa; vả lại Viện này nhiều người có
thiện cảm với đạo giáo, cho là nếu gây sự càn bậy, sợ thiên hạ chê cười, cho nên dư luận
xôn xao không thuận. Nay ta muốn mưu việc cũng phải ngầm thông với Viện này mới
được; nếu cần ngầm thông, cũng phải tốn nhiều công sức, biết nhiều ngõ ngách, nay
chưa ban đến kịp). Cho nên họ làm kế tạm cho lại (kế này 200 năm trước, người Anh đã
53
Cố Hòa: tức linh mục Croc, lúc đó làm thông ngôn cho Pháp và linh hướng cho các bà dòng Thánh Phaolô (Nhà phước,
phúc gia).
54
Xin hoàn thành công việc: (Cầu thành giả) tức việc phái bộ Bonard đến Huế tháng 4-1863 để làm lễ trao đổi bản Hòa ước
đã được vua nước Pháp và vua Tự Đức phê chuẩn.
55
Thuận cho thi hành mới được thi hành: (Doãn hành tắc hành), đây là điều 4 của Hòa ước 5-6-1862, trong đó có quy định
rằng: Khi vua nước Nam có ký hòa ước, trong đó có vấn đề xét nhượng đất cho một nước khác, thì vua nước Pháp có đồng
ý mới được ký kết, không cho ký kết thì không được ký kết. (Đại Phú Lãng Sa Hoàng thượng doãn hành tắc hành, bất doãn
hành tắc bất hành).
thi hành ở 5 xứ Ấn Độ, người Anh thấy lòng dân chưa phục, nếu hiếp chế phải tốn kém
nhiều sức binh lính, cho nên giả vờ không tham mà trả lại, chỉ dùng thổ quan thay họ
cai trị. Sau đó họ hết sức dụ dỗ, và lấy của tốt mua lòng. Lúc đầu, thấy thổ quan còn có
lòng vì nước, họ cũng giả làm không nghe biết. Rồi lâu ngày sinh tệ, vì tính con người
ta chưa thoát khỏi niềm tục, ít người không bị của cải mua chuộc; vả lại dần dần đút lót
đưa vào, cũng vì nể nang, mà dễ xiêu người; lâu ngày về sau, phân nửa bọn thổ quan, đã
bị họ lợi dụng. Huống hồ họ lại đã am hiểu phong thổ, nên sau chỉ cần đánh một trận là
tiêu diệt; trong đó cũng có bọn muốn làm Hoàng Sào
56
chống lại, nhưng khi sức họ đã
đủ bao trùm hết, thì dù có Hoàng Sào cũng nuốt luôn).
Họ trả lại cho ta một là vì danh nghĩa ép buộc (Điều này ngày trước tôi cũng đã bẩm lên
quan bộ Binh biết rõ. Xin đợi đến khi về Kinh xem lại kỹ càng).
Hai là để lấy lòng (Điều này chưa dám nói rõ).
Ba làm tạm mua hư danh, rồi sẽ thong thả thực hiện ý đồ (Tôi đã từng dò biết được chắc
chắn không sai, họ cũng bàn bạc với nhau rằng: Sứ bộ nước Nam đã sang, mà ta cứ giữ
khư khư không cho, sợ sinh sự không tốt đẹp, như mấy việc tôi đã nói ở trên. Vả lại họ
giữ chưa được vững, sợ người khác giúp ta, âm thầm chẹn họng họ. Chi bằng bề ngoài
giả tiếng là cho chuộc mà nâng cao giá lên. Nếu ta chịu hết điều kiện, thì hiện nay họ
được lợi. Ngày sau ta không khỏi trái ước. Lúc ấy hai mối lợi họ đều được, mà ta thì
không có lời lẽ gì để bộc bạch với thiên hạ, họ mới có thể giữ được bền vững lâu dài,
như việc người nước Anh trước kia. Hoặc là muốn ta cho sự thề ước quá nặng, lại tưởng
ta không biết đường lối, khó tìm được người giúp đỡ, chỉ cứ lúng túng lấy nặng nhẹ làm
điều, kéo dài ngày tháng. Hoặc ta nghi ngờ mà không chịu, hay chịu mà không theo
đúng lời họ yêu cầu, thì họ sẽ có lời lẽ với thiên hạ, mà cái cớ để lấy lại càng
thêm vững chắc. Điều ấy trong ý họ tính được bảy phần. Trước đây, những điều ta chịu
hết, trong ý họ chỉ có ba phần. Hai điều ấy, ta rất khó xử trí. Các nước đã từng bị kế độc
ác ấy của phương Tây. Nếu nói rằng họ đã mệt mỏi mà trả đất lại cho ta, thì hiện nay
chưa có khả năng như thế).
Nhưng mà muốn nên việc lớn, phải tranh giành hàng trăm năm, chứ không phải chỉ
tranh giành một lúc mà được. Họ dòm ngó đất ta, cầu thành công sau vài mươi năm, thì
ta muốn trấn áp được họ, cũng phải cầu hiệu quả sau vài mươi năm, chứ không thể một
lúc mà được. Họ đã lấy được Gia Định, tự cho là nơi thiên nhiên hiểm trở, có thể đua
đuổi với người Anh. Có điều là ta phải biết xử khéo đừng để cho lan rộng ra.
Vậy một là phải tìm được ngoại viện để phá mưu của họ (Điều này có nhiều chỗ cơ yếu,
khó nói vắn tắt được).
56
Hoàng sào: Người đất Oan Cú, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc nổi lên đánh đuổi vua Hy Tây, nhà Đường (862-877) lên làm
vua.
Hai là phải tìm những tụi du côn của nước nào có giao hiếu với họ, âm thầm đến nước
ta (Tuy bọn chúng cũng có nhiều người muốn theo ta những ta chưa biết tìm đường đấy
thôi. Còn như bọn vô lại các nước, ở tản mác khắp nơi, cũng có nhiều người rất là
mạnh khoẻ gan dạ. Nếu ta biết khéo dùng thường thường được chúng ra sức liều chết.
Tôi đã biết hạng ngừơi ấy mang tội phiêu lưu, không cần gì ở trên đời này cả. Chỉ cần
được no ấm khoái lạc thì dù có chết cũng không từ. Nếu ta dùng được thì có lợi rất lớn)
để gieo lòng nghi hoặc cho họ.
Ba là phải học hết các món khôn khéo của họ, mà trong khi qua lại giao tế, phải nhượng
cho họ ba phần. Đại phàm đem chuyện phi lý mà buộc cho người, tất nhiên phải có dựa
vào một lý lẽ nào đó. Nếu ta không có điều gì để họ có thể chấp lý được thì chắc chắn
họ phải im không dám hành động gì. Cứ bủa vây bốn mặt rồi chờ khi có tệ (Tệ này tôi
đã dự đoán không sai, 10 năm sau sẽ thấy) mới có thể mưu đồ được.
Tôi xem qua các nước từ 500 năm lại đây, sở dĩ chế ngự được họ, không ngoài ba điều
trên và ít nhất cũng phải dùng đến hai điều. Nếu không có ba điều ấy, từ trước đến nay,
tôi chưa thấy có mưu chước gì được cả. Nhưng thời khác, thế khác. Hiện nay bí quyết
chống giặc của Triều đình đã có những bậc tài trí như thánh nghĩ ra, đâu phải hạng hèn
mọn như tôi có thể suy đoán được. Những đại nhân có lòng hạ cố, nên tôi tự nghĩ, nói
mà được việc, thì dù có tội cũng cam lòng. Mong sao những dòng nước nhỏ được chảy
xuống bể, dầu không bổ ích gì, nhưng cũng được có chỗ để hướng về.
Tôi xin đem hiệu quả có thể thu được ở điều thứ nhất mà tính để mừng trước. Còn như
đi đường ngõ nào, thì trên Triều đình đã có sẵn kế hoạch, tôi đâu dám vượt phận mà nói
càn.
Xưa vua Đạo Quang nhà Thanh đã từng nói: Chước chống rợ giặc, hay nhất chỉ có một
đường là “dùng rợ đánh lại rợ”. Nhưng vì họ lại lấy việc tự hạ mình làm xấu, cho nên
chưa thấy công hiệu lớn của chứơc ấy. Có điều thấy rõ là người Nga sở dĩ không dám ở
yên đất Mông Cổ, vì nhờ nước Hà Lan: Nhật Bản bị đuổi ra ngoài bể cũng bởi Bồ Đào
Nha. Còn các nước khác đã được hiệu quả như vậy, không thể kể hết.
Tôi xét thấy sự thế hiện nay chỉ người Anh có thể cộng tác được với ta. Vì Anh và Pháp
có mối thù truyền kiếp. Nay người bác của vua Pháp bị người Anh đày ở ngoài một đảo
xa xôi, người Pháp lấy làm xấu hổ.
Người Anh mất Hợp Chủng Quốc do Pháp hất cẳng; người Pháp sở dĩ tạm thời hợp tác
với người Anh vì người Anh giỏi về đường biển. Nay nếu có đánh nhau thì người Pháp
chỉ giỏi về đường bộ, không thể biến hóa được (Khoản này có nhiều điều lợi hại, nhưng
không quan thiết đến ta, nên không nói kỹ làm gì). Vả lại, người Anh hiện đã làm chủ
được tình thế phương Đông, hơn gấp 10 Pháp cho nên Pháp phải miễn cưỡng hoà thuận
với Anh. Nhưng tính người Pháp hay kiêu điệu, lại hay nghe dèm pha, nên càng dễ ly
gián. Người Anh tuy giữ được nhiều nơi, nhưng chưa chỗ nào hiểm trở bằng Gia Định.
Nay nếu Pháp lấy được Gia Định thì sẽ bất lợi cho mình. Nên nếu có cơ hội thuận tiện,
lẽ nào người Anh bỏ qua. Nay nếu ta tỏ ý cầu viện người Anh, thì cũng dễ nói. Đấy là
một điều lợi.
Vả lại nước Pháp vài năm sau tất sẽ có nội loạn, mà thuộc địa Anh lại nhiều chỗ gần
thuộc địa Pháp. Gia Định đã là nơi thiên nhiên hiểm trở, mà từ lâu người Anh hận người
Pháp đã chiếm được, thì sự muốn cướp giật lại càng sâu sắc. Sợ một ngày kia, Pháp bị
nội loạn, không quan cố được nơi xa, rồi đem chỗ này đổi lấy chỗ kia, thì liệu ta có khỏi
cái nạn đuổi hùm cửa trước, rước sói cửa sau không? Cho nên người quân tử lo mưu
phải nghĩ lâu dài đến con cháu về sau. Nay nếu ta thông hiếu với người Anh, thì ngày
trước họ đã mưu với thiên hạ để ngăn trở người Pháp, để tỏ việc họ làm là giúp người
hoạn nạn, gỡ việc rối ren, mai sau chẳng may sự thế đổi thay, thì họ làm sao bưng được
hết mắt thiên hạ, ngồi ỳ ra mà thuận chịu đổi chác với người Pháp? Thiên hạ lẽ nào lại
không có người như người Anh đứng chực đằng sau hay sao? Ngăn trước, phòng xa,
đấy là hai điều lợi.
Hiện nay người Pháp muốn làm giúp ta với ý đồ mờ ám (điều này không cần nói rõ
cũng hiểu) như năm trước họ đã thi kế ấy với nước Rôma
57
. Nếu xong việc thì được
hưởng nửa phần lợi. Nếu việc không thành thì vạ có người khác chịu. Nay nếu ta ngầm
nhờ người Anh dò xét, chẳng may việc có bại lộ, thì người Anh với ta đã có lý lẽ để nói
với thiên hạ. Rồi sau lấy việc đó mà trách người Pháp, sự trái đã có nơi chịu. Nhờ người
giúp ta, đó là việc ngay thẳng mà dễ nói (Điều này sẽ dẫn đến nhiều việc quan trọng,
nhưng chưa thể trình bày). Được thế thì chẳng những miền Bắc yên, mà miền Nam
cũng có thể khơi dậy được. Đấy là ba điều lợi.
Người Pháp với ta, sự việc chưa biết đến đâu là cùng. Gần đây, nhiều khi người Pháp
cũng mời người Anh cùng đi đôi với họ. Nếu nay ta không gấp rút thông hiếu với người
Anh trước, vạn nhất ngày sau lại sinh chuyện, mà Pháp với Anh đã đi đôi với nhau rồi,
thì ta chịu sao nổi? Nay nếu ta biết liệu trước sẽ có thể giao hảo được với người Anh,
thế thì dù sau này có xảy ra việc gì ắt họ sẽ một là sợ danh nghĩa, hai là vì cảm tình mà
hòa hoãn. Đấy là bốn điều lợi.
Người Pháp tuy tự khoe khoang giàu mạnh, nhưng so lực lượng cũng đã chịu nhường
người Anh. Nay nghe ta thân thiện với người Anh, ắt biết ta sẽ lập mưu ngăn cản họ.
Nay nếu người Pháp đem nhiều lời ly gián, thì lại sợ người Anh thấy rõ tâm địa mà chê
cười. Tuy người Anh chưa công khai giúp ta, nhưng người Pháp cũng đã biết, nếu có
hành động gì, chắc người Anh cũng sẽ ngầm báo tin cho ta. Và mối thù ngày trước, to
như núi; lúc nào người Pháp cũng lo ngay ngáy sợ người Anh kết hợp với ta. Lần trước
Pháp giao kết với Nga toan để ngầm chống Anh, nhưng nay đã sinh hiềm khích và tự
57
Với nước Rôma: tức việc Napôlêông (Napoleon) III đem quân sang giúp Giáo hoàng giữ đất Rôma của Tòa thánh.

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Di thảo Nguyễn Trường Tộ