Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Luật GD sửa đổi năm 2010

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ CƯƠNG
GIỚI THIỆU LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU
CỦA LUẬT GIÁO DỤC
(Ban hành kèm theo Kế hoạch số 45/KH-BGDĐT ngày 29/01/2010)
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật giáo dục
Luật giáo dục được Quốc hội ban hành năm 2005 (thay thế Luật giáo
dục năm 1998) và có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 01 năm 2006 đã tạo cơ
sở pháp lý để tiếp tục xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Luật đã tạo được bước tiến quan
trọng, tháo gỡ được nhiều vướng mắc trong hoạt động giáo dục. Qua 3 năm
thực hiện, Luật đã góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, nâng cao trình
độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, góp phần đào tạo nhân tài cho đất
nước. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Luật đã nảy sinh một
số điểm hạn chế, bất cập, một số quy định của Luật chưa đi vào cuộc sống.
Một số điểm chưa phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu nâng cao chất
lượng giáo dục, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục, phát huy
tốt hơn hợp tác quốc tế về giáo dục cần được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Một
số nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho rõ ràng hơn để dễ hướng dẫn, dễ thực
hiện. Những sửa đổi, bổ sung Luật giáo dục nhằm tạo cơ sở cho việc nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục, thực hiện chế độ chính sách đối với người học, tạo
điều kiện cho sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn.
Ngày 15 tháng 4 năm 2009, Bộ Chính trị có Thông báo số 242-
TB/TW kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục đến năm 2020. Các
quan điểm chỉ đạo quan trọng này cần được thể chế thành các nội dung
pháp luật. Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 5
thông qua Nghị quyết số 35/2009/NQ-QH12 về chủ trương, định hướng đổi
mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010-
2011 đến năm học 2014-2015, một số nội dung của Nghị quyết cần được
thể chế trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục
nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Với những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
giáo dục là cần thiết.
2. Quan điểm, nguyên tắc sửa đổi, bổ sung
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục được thực hiện
theo các quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc sau:
a) Đường lối, quan điểm của Đảng và các chủ trương, chính sách về
giáo dục phải được quán triệt trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật giáo dục. Đặc biệt là các quan điểm về giáo dục đã được xác định
trong Nghị quyết Trung ương 2 khoá X, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ X và Thông báo số 242-TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2009
kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2
khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục đến năm 2020.
b) Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục phải xuất phát
từ những đòi hỏi khách quan, lựa chọn những nội dung thực sự cần thiết,
tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề thực sự bức xúc trong thực tiễn,
góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động
giáo dục và trong công tác quản lý giáo dục, góp phần đổi mới giáo dục và
thực hiện "phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu".
c) Các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo
dục phải phù hợp, thống nhất, đồng bộ với quy định của Hiến pháp, các bộ
luật và luật hiện hành; phù hợp với các cam kết và điều ước quốc tế mà
Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên.
3. Quá trình soạn thảo, thông qua
Ngày 15 tháng 11 năm 2008, Quốc hội có Nghị quyết số
27/2008/QH12 về Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ
sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ 12 trong đó có Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục.
Ngày 09 tháng 02 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số
161/QĐ-TTg phân công Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng Dự án
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục.
2
Ngày 23 tháng 02 năm 2009, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo thành
lập ban soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục do
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo làm trưởng ban.
Ban soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đã
tiến hành đánh giá tình hình và xây dựng báo cáo tổng kết 3 năm thi hành
Luật giáo dục, tổ chức nghiên cứu một số chuyên đề chuyên sâu; sưu tầm,
nghiên cứu, hệ thống hoá các văn bản của Đảng, Nhà nước, các quy định
liên quan đến giáo dục; tổ chức hội thảo, tọa đàm, khảo sát lấy ý kiến về
những nội dung cần sửa đổi, bổ sung; tiếp thu tổng hợp ý kiến góp ý, xây
dựng dự án Luật, trên cơ sở đó xây dựng dự thảo Luật gửi xin ý kiến các
bộ, ngành và gửi thẩm định theo quy trình của Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật.
Ngày 30 tháng 3 năm 2009, Ban soạn thảo chỉnh sửa dự án Luật, giải
trình việc tiếp thu ý kiến góp ý và gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Sau khi có ý
kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, Ban soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu và giải
trình việc tiếp thu ý kiến thẩm định dự án Luật.
Ngày 05 tháng 8 năm 2009, phiên họp thường kỳ tháng 7 Chính phủ
đã thảo luận và thông qua Dự án Luật để trình Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội.
Ngày 15 tháng 8 năm 2009, phiên họp thứ 22 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội khoá XII đã thảo luận, cho ý kiến về Dự án Luật và Báo cáo thẩm
tra sơ bộ của Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi
đồng của Quốc hội. Ngày 21 tháng 9 năm 2009, Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục,
Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội có Báo cáo số 845/VH-
GD-TTN thẩm tra Dự án Luật. Ngày 30 tháng 9 năm 2009, Hội đồng Dân
tộc của Quốc hội có Báo cáo số 558/BC-HĐDT12 phối hợp thẩm tra về Dự
án Luật.
Ngày 03 tháng 10 năm 2009, phiên họp thứ 24 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội khoá XII đã thảo luận, cho ý kiến về Dự án Luật và Báo cáo thẩm
tra của Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của
Quốc hội. Tiếp thu ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII và
Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và
Nhi đồng của Quốc hội, Báo cáo phối hợp thẩm tra của Hội đồng Dân tộc
của Quốc hội, Ban soạn thảo đã chỉnh sửa, bổ sung Dự án Luật trình Quốc
3
hội xem xét.
Trong quá trình soạn thảo, Ban soạn thảo đã tổ chức nhiều hội thảo,
hội nghị, nghiên cứu Luật giáo dục của một số quốc gia và vùng lãnh thổ
khác nhau trên thế giới, toạ đàm và nghiên cứu nhiều chuyên đề chuyên sâu
như thành lập trường, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ, bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm; tổ chức điều tra xã hội học và lấy phiếu khảo sát, điều tra sâu
một số lĩnh vực liên quan tới một số điều sửa đổi, bổ sung trong Luật; tổ
chức kiểm tra việc thực hiện Luật giáo dục năm 2005 tại một số tỉnh, thành
phố, một số cơ sở giáo dục và sở giáo dục và đào tạo; lấy ý kiến các sở giáo
dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục; lấy ý kiến các bộ, ngành và đã 4 lần đưa
Dự án Luật lên Website của Bộ Giáo dục và Đào tạo để lấy ý kiến rộng rãi
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật giáo dục.
Ngày 30 tháng 10 năm 2009, Chính phủ đã trình Dự thảo Luật trước
Quốc hội. Trên cơ sở góp ý của Quốc hội, các cơ quan liên quan đã tiếp
thu, chỉnh lý Dự thảo Luật.
Ngày 24 tháng 11 năm 2009, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có Báo cáo
số 299/BC-UBTVQH12 giải trình tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật và ngày
25 tháng 11 năm 2009, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật giáo dục.
II. NỘI DUNG LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA
LUẬT GIÁO DỤC
1. Bố cục chung của Luật sửa đổi, bổ sung
1.1 Luật gồm có hai điều
- Điều 1 gồm 31 khoản quy định về các nội dung sửa đổi, bổ sung
Luật giáo dục cụ thể như sau:
+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 6 (về chương trình giáo dục)
+ Sửa đổi Khoản 1 Điều 11 (về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em
năm tuổi)
+ Sửa đổi Điều 13 (Đầu tư cho giáo dục)
+ Sửa đổi Khoản 3 Điều 29 (về chương trình giáo dục phổ thông và
sách giáo khoa)
+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 35 (về giáo trình giáo dục nghề nghiệp)
+ Sửa đổi Khoản 4 Điều 38 (về thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ)
4
+ Bổ sung khoản 5 Điều 38 (về việc đào tạo trình độ kỹ năng thực
hành, ứng dụng chuyên sâu cho người đã tốt nghiệp đại học ở một số ngành
chuyên môn đặc biệt)
+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 41 (về giáo trình giáo dục đại học)
+ Sửa đổi Điểm b khoản 1 Điều 42 (về tên gọi trường đại học)
+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 42 (về điều kiện đào tạo trình độ tiến sỹ)
+ Sửa đổi Khoản 6 Điều 43 (về văn bằng công nhận trình độ kỹ năng
thực hành, ứng dụng cho những người được đào tạo chuyên sâu sau khi tốt
nghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc biệt)
+ Bổ sung điểm c khoản 1 Điều 46 (về trung tâm ngoại ngữ, tin học)
+ Sửa đổi Khoản 3 Điều 46 (về trung tâm ngoại ngữ, tin học)
+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 48 (về thành lập trường)
+ Sửa đổi Điều 49 (về trường của cơ quan nhà nước, của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân)
+ Sửa đổi Điều 50 (Điều kiện thành lập nhà trường và điều kiện để
được cho phép hoạt động giáo dục)
+ Bổ sung Điều 50a (về đình chỉ hoạt động giáo dục và Điều 50b về
giải thể nhà trường)
+ Sửa đổi Điều 51 (về thẩm quyền, thủ tục thành lập hoặc cho phép
thành lập; cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục; sáp
nhập, chia, tách, giải thể nhà trường)
+ Sửa đổi Khoản 1 Điều 58 (về công khai mục tiêu, chương trình giáo
dục)
+ Sửa đổi Điểm b khoản 1 Điều 69 (về trung tâm ngoại ngữ, tin học)
+ Sửa đổi Điểm c khoản 1 Điều 69 (về đào tạo trình độ tiến sĩ, trình độ
thạc sĩ của viện nghiên cứu khoa học)
+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 69 (về vấn đề ký hợp đồng đào tạo trình độ
thạc sĩ của Viện nghiên cứu khoa học)
+ Sửa đổi Khoản 3 Điều 70 (về tên gọi nhà giáo ở cao đẳng nghề)
+ Sửa đổi Điều 74 (về thỉnh giảng)
+ Sửa đổi Điều 78 (về cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi
dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục)
+ Sửa đổi Điều 81 (về tiền lương)
5
+ Sửa đổi Khoản 4 Điều 100 (về trách nhiệm quan lý nhà nước về
giáo dục)
+ Sửa đổi Khoản 2 Điều 101 (về học phí, lệ phí)
+ Bổ sung khoản 4 Điều 108 (về việc công dân Việt Nam ra nước
ngoài, việc hợp tác về giáo dục với tổ chức, cá nhân nước ngoài và người
Việt Nam định cư ở nước ngoài)
+ Sửa đổi Điều 109 (về khuyến khích hợp tác về giáo dục với Việt
Nam)
+ Bổ sung Mục 3a Chương VII (về kiểm định chất lượng giáo dục)
- Điều 2 quy định hiệu lực thi hành của Luật từ ngày 01 tháng 7 năm
2010.
1.2 So với bố cục của Luật giáo dục 2005
- Luật bổ sung 5 điều mới.
- Sửa đổi, bổ sung liên quan đến 24 điều (trên tổng số 120 điều).
2. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể
2.1 Về chương trình giáo dục:
Khoản 2 Điều 6 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Chương trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định,
tính thống nhất, tính thực tiễn, tính hợp lý và kế thừa giữa các cấp học và
trình độ đào tạo; tạo điều kiện cho sự phân luồng, liên thông, chuyển đổi
giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ
thống giáo dục quốc dân; là cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện;
đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.”
Sửa đổi, bổ sung này nhằm triển khai thực hiện quy định về chương
trình giáo dục với chất lượng cao hơn trong thực tế, bảo đảm chương trình
giáo dục phải hợp lý và phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc
tế, tạo cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện.
2.2 Về phổ cập giáo dục
Khoản 1 Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục
tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Nhà nước quyết định kế
hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo
dục trong cả nước.”
Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 5 thông
6
qua Nghị quyết số 35/2009/NQ-QH12 về chủ trương, định hướng đổi mới
một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010-2011
đến năm học 2014-2015 trong đó xác định “phổ cập giáo dục mầm non 5
tuổi”.
Để có cơ sở triển khai giải pháp tập trung cho trẻ 5 tuổi có điều kiện
chuẩn bị bước vào học lớp 1, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
giáo dục đã bổ sung quy định “phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi”. Đây là
yêu cầu có tính pháp lý cao, cần có sự ổn định và thực hiện lâu dài, huy
động nguồn lực lớn các lực lượng xã hội tham gia, cần được xác định rõ
ngay trong Luật này. Quy định phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi thể hiện
tính ưu việt của chế độ ta và khẳng định thành tựu Quốc gia trong việc giáo
dục và chăm sóc trẻ em. Theo thống kê, hiện nay tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học
bình quân cả nước là 90%, tuy nhiên, nhiều nơi mới đáp ứng được học một
buổi một ngày và nhiều tỉnh có tỷ lệ thấp hơn đáng kể. Để đảm bảo tính
khả thi của Luật sau khi được ban hành, Chính phủ đã giao Bộ Giáo dục và
Đào tạo xây dựng Đề án để triển khai thực hiện quy định này. Quy định
như trên của Luật sẽ tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư có
hiệu quả cho nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói chung và trẻ em 5
tuổi nói riêng.
2.3 Về sách giáo khoa
Khoản 3 Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo
dục phổ thông; duyệt và quyết định chọn sách giáo khoa để sử dụng chính
thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ
thông, bao gồm cả sách giáo khoa bằng chữ nổi, bằng tiếng dân tộc và sách
giáo khoa cho học sinh trường chuyên biệt, trên cơ sở thẩm định của Hội
đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo
khoa; quy định tiêu chuẩn, quy trình biên soạn, chỉnh sửa chương trình giáo
dục phổ thông và sách giáo khoa; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, phương
thức hoạt động, tiêu chuẩn, số lượng và cơ cấu thành viên của Hội đồng
quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm về chất lượng
chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa.”
Quy định trên đây nhằm góp phần bảo đảm chất lượng của sách giáo
7
khoa và quản lý tốt hơn việc biên soạn, ban hành sách giáo khoa. Nhiệm vụ
của các trường chuyên biệt như trường năng khiếu, trường giáo dưỡng,
trường dành cho người tàn tật, khuyết tật, trường dự bị đại học có điểm
khác so với cơ sở giáo dục phổ thông nói chung, do đó sách giáo khoa dùng
để giảng dạy trong các trường chuyên biệt cần có quy định phù hợp với
người học tại các cơ sở giáo dục này.
2.4 Về giáo trình giáo dục nghề nghiệp và giáo trình giáo dục đại học:
- Khoản 2 Điều 35 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Giáo trình giáo dục nghề nghiệp cụ thể hóa các yêu cầu về nội
dung kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi
môn học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng
yêu cầu về phương pháp giáo dục nghề nghiệp.
Hiệu trưởng nhà trường, Giám đốc trung tâm dạy nghề tổ chức biên
soạn hoặc tổ chức lựa chọn; duyệt giáo trình giáo dục nghề nghiệp để sử
dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chính thức trong cơ sở giáo dục nghề
nghiệp trên cơ sở thẩm định của Hội đồng thẩm định giáo trình do Hiệu
trưởng nhà trường, Giám đốc trung tâm dạy nghề thành lập để bảo đảm có
đủ giáo trình giảng dạy, học tập.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà
nước về dạy nghề theo thẩm quyền quy định việc biên soạn, lựa chọn, thẩm
định, duyệt và sử dụng giáo trình giáo dục nghề nghiệp; quy định giáo trình
sử dụng chung, tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình sử dụng chung cho
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.”
Khoản 2 Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Giáo trình giáo dục đại học cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến
thức, kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi môn học,
ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu về
phương pháp giáo dục đại học.
Hiệu trưởng trường cao đẳng, trường đại học tổ chức biên soạn hoặc
tổ chức lựa chọn; duyệt giáo trình giáo dục đại học để sử dụng làm tài liệu
giảng dạy, học tập chính thức trong trường trên cơ sở thẩm định của Hội
đồng thẩm định giáo trình do Hiệu trưởng thành lập để bảo đảm có đủ giáo
trình giảng dạy, học tập.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc biên soạn, lựa chọn,
8
thẩm định, duyệt và sử dụng giáo trình giáo dục đại học; quy định giáo
trình sử dụng chung, tổ chức biên soạn và duyệt giáo trình sử dụng chung
cho các trường cao đẳng và các trường đại học.”
Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 41 Luật giáo
dục theo hướng: bên cạnh việc tổ chức biên soạn giáo trình, thủ trưởng cơ
sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có quyền tổ chức lựa chọn
giáo trình để sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chính thức; bổ sung
trách nhiệm phải “bảo đảm có đủ giáo trình để giảng dạy, học tập” của thủ
trưởng cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bổ sung quy định về việc tổ chức biên
soạn và duyệt giáo trình sử dụng chung cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại
khoản 2 Điều 35 và khoản 2 Điều 41.
Việc sửa đổi Luật theo hướng trên tạo cơ sở pháp lý để các cơ sở giáo
dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể lựa chọn giáo trình của cơ
sở giáo dục khác để sử dụng tại cơ sở giáo dục mình; các cơ sở giáo dục
cùng đào tạo một chuyên ngành với trình độ giống nhau có thể cùng phối
hợp biên soạn giáo trình, tránh lãng phí thời gian, tiền của; khắc phục tình
trạng thiếu giáo trình trong giảng dạy, học tập.
2.5 Về thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ:
Khoản 4 Điều 38 Luật giáo dục hiện hành quy định:
“4. Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với
người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có
bằng thạc sĩ. Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có
thể được kéo dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ tương
đương với trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở một số ngành chuyên môn đặc
biệt.”.
Khoản 4 Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“4. Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm học đối với
người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có
bằng thạc sĩ. Trong trường hợp đặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có
thể được kéo dài hoặc rút ngắn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
Nghiên cứu sinh không có điều kiện theo học tập trung liên tục và
được cơ sở giáo dục cho phép vẫn phải có đủ lượng thời gian học tập trung
9