Chuyên đề trình tự soạn giáo án

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Chuyên đề trình tự soạn giáo án

Trư ờng THCS TT Trà Cú Sáng kiến kinh nghiệm
A/. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Việc thay đổi nội dung chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường THCS là thay đổi
hàng loạt các công việc trong công tác chuyên môn cũng như trong các công tác khác của một giáo viên.
Trong đó có một công việc bắt buộc cho tất cả giáo viên trước khi lên lớp phải thực hiện đó là soạn giáo
án. Soạn giáo án là chuẩn bị cho việc dạy và học của thầy và trò trong một đơn vị thời gian theo phân
phối chương trình nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo.
Đến nay công việc này nhiều giáo viên hiểu và quan niệm thực hiên rất khác nhau. Có giáo viên
cho rằng soạn giáo án là tóm tắt nội dung SGK hay chép lại sách giáo khoa thậm chí có giáo viên sử
dụng bài soạn có sẳn để lên lớp.
Có một thời gian tôi cũng đã hiểu và quan niệm như thế. Nhưng qua quá trình công tác giảng dạy,
tìm tòi và tham khảo tài liệu, tôi đã nhận ra được một “Trình tự để soạn giáo án cho một tiết dạy”. Xin
trình bày để các đồng nghiệp tham khảo và đóng góp ý kiến.
B/. NỘI DUNG.
Soạn giáo án cho một tiết dạy có thể theo trình tự sau:
- Đọc kĩ bài học trong SGK và SGV
- Giải các bài tập trong SGK
- Hình dung phương tiện dạy học
- Mường tượng, suy ngẫm theo 5 giai đoạn trước khi soạn giáo án
- Tiến hành soạn giáo án
I/. Đọc kĩ bài học trong SGK và SGV
- Ở bước này, GV phải đọc kĩ SGK để nắm được cấu trúc của bài học, số lượng và trình tự của các
đơn vị kiến thức mà SGK đã trình bày và các bài tập mà SGK đề nghị, đây là đối với tiết dạy bài mới.
Còn đối với tiết luyện tập, GV đọc kĩ SGK để nắm được số lượng bài tập và các dạng bài tập, chọn lựa ra
để luyện tập cho HS.
- Sau khi đọc kĩ SGK, GV phải đọc kĩ SGV để nắm được mục tiêu của bài, trong bài dạy GV cần
chú ý điểm nào? Nên đọc kĩ phần gợi ý dạy học, vì phần này giúp cho chúng ta hình dung các phương
tiện dạy học, và suy ngẫm theo 5 giai đoạn trước khi soạn giáo án. Gv cũng cần đọc hướng dẫn giải bài
tập của SGV để nắm được hướng giải và các kết quả, giúp cho việc giải các bài tập trong SGK nhanh
hơn.
II/. Giải các bài tập trong SGK.
- Khi nắm được nội dung của bài học trong SGK cũng như mục tiêu và gợi ý dạy học trong SGV
thì GV nên giải tất cả các bài tập trong SGK.
- Giải các bài tập trong SGK giúp cho GV hiểu được những đơn vị kiến thức nào cần thiết cho việc
giải bài tập và những kiến thức cũ nào cần cũng cố trong khi giải bài tập. Công việc giải bài tập này còn
giúp cho GV phân loại các dạng bài tập, nhận ra mức độ của các bài tập để có thể chọn ra củng cố bài
học cho HS hay hướng dẫn HS về nhà làm.
- Bên cạnh đó việc giải bài tập trong SGK giúp cho GV trình bày bài giải trên lớp hay hướng dẫn
HS về nhà không gặp phải sự lúng túng để thực hiện thành công tiết dạy.
- Sau khi giải xong tất cả các bài tập trong SGK thì GV cần làm tiếp công việc gì để chuẩn bị soạn
giáo án?
III/. Hình dung phương tiện dạy học.
- Trong tình hình đổi mới như hiện nay, thì GV chúng ta khi giảng dạy mà không có sử dụng đồ
dùng dạy học là chưa có sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy. Vì vậy trong trình tự soạn giáo án,
bước hình dung phương tiện dạy học không thể bỏ qua.

1
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Trư ờng THCS TT Trà Cú Sáng kiến kinh nghiệm
- Ta đã đọc kĩ SGK cũng như SGV, đã nắm được cấu trúc bài học, mục tiêu của bài, đặc biệt là
phần gợi ý dạy học. qua đó giúp ta hình dung được các phương tiện cần thiết, phương tiện nào cần cho
hoạt động nảo trong tiến trình dạy học.
- Ngoài các phương tiện có sẵn, Gv có thể sử dụng các đồ dùng dạy học mà thầy và trò tự làm lấy.
IV/. Mường tượng suy ngẫm theo 5 giai đoạn trước khi soạn giáo án.
Trước khi viết giáo án, GV nên suy ngẫm theo 5 giai đoạn sau:
1) Giai đoạn tổ chức các hoạt động nhằm: kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp
giới thiệu bài mới.
2) Giai đoạn tổ chức các hoạt động nhằm: hướng dẫn, diễn giải, khám phá, phát hiện tình
huống, đặt và nêu vấn đề.
3) Giai đoạn tổ chức các hoạt động nhằm: để học sinh tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử
nghiệm, qui nạp… để tìm ra kết quả, giải quyết vấn đề.
4) Giai đoạn tổ chức các hoạt động nhằm: rút ra kết luận, tổng kết, hệ thống kết quả hoạt
động của học sinh và đưa ra kết luận giải quyết vấn đề.
5) Giai đoạn tổ chức các hoạt động nhằm: tiếp tục củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ
năng để vận dụng linh hoạt vào giải bài tập.
V/ Tiến hành soạn giáo án.
Sau khi đã mường tượng, suy ngẫm các hoạt động cần thiết để tổ chức cho HS thì giáo viên có thể
tiến hành viết giáo án theo cấu trúc sau:
Ngày soạn:
Ngày dạy:
Tiết: (theo ppct) Tên bài học
A- Mục tiêu.
- Kiến thức, kĩ năng và thái độ HS cần đạt được sau bài học.
B- Chuẩn bị.
- Chuẩn bị của GV và HS như là đồ dùng dạy học, đồ dùng học tập, kiến thức cũ và các bài tập ở nhà.
C- Tiến trình dạy học.
Phần này phải thể hiện được 5 bước lên lớp sau đây:
1) Ổn định lớp.
2) Kiểm tra bài cũ và đặt vấn đề chuyển tiếp vào bài mới.
3) Dạy học bài mới.
4) Củng cố và luyện tập bài học.
5) Hướng dẫn học sinh học ở nhà.
C/. ÁP DỤNG SOẠN MỘT BÀI HỌC CỤ THỂ.
Trong phần này, tôi xin minh hoạ trình tự trên để soạn một bài học cụ thể. tiết 63 trong phân phối
chương trình, bài học: Phương trinh chứa dấu giá trị tuyệt đối.
I/ Đọc kĩ bài học: “Phương trình chứa dấu giá trị tuyệt đối trong SGK và SGV.
- Ở bước này ta nên đọc kĩ bài học trong SGK Toán 8 tập 2 (NXBGD_2004) từ trang 49 đến trang 51.
Sau đó đọc bài hướng dẫn trong SGV Toán 8 tập 2 (NXBGD_2004) từ trang 57 đến trang 59.
- Ở tiết này có hai mục tiêu HS cần đạt được đó là:
+ Biết bỏ dấu giá trị tuyệt đối ở biểu thức dạng | ax | và | x + a |.
+ Biết giải một số PT dạng | ax | = cx + d và dạng | x + a | = cx + d.
- Dạy tiết này cần chú ý một số điểm sau:

2
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Trư ờng THCS TT Trà Cú Sáng kiến kinh nghiệm
1) Có hai mức độ thực hiện việc bỏ dấu giá trị tuyệt đối ở biểu thức dạng | ax | và dạng | x + a |.
Mức độ thứ nhất: Cho điều kiện của biến x, tuỳ theo điều kiện đó xác định xem giá trị của biểu thức
trong dấu giá trị tuyệt đối là âm hay dương mà bỏ dấu giá trị tuyệt đối. Ví dụ 1, ?1 và bài tập 35 ở SGK
thể hiện ở mức độ đó. Mức độ thứ hai: Phải tìm ra điều kiện làm cho biểu thức trong dấu giá trị tuyệt đối
không âm hay âm, để từ đó bỏ dấu giá trị tuyệt đối tuỳ theo mỗi điều kiện. Các ví dụ 2, Ví dụ 3, ?2 và
các bài tập 36, 37 vận dụng mức độ đó để giải phương trình chứa dấu giá trị tuyệt đối.
2) Khi vận dụng cách bỏ dấu giá trị tuyệt đối vào giải phương trình chứa dấu giá trị tuyệt đối, một
khó khăn nảy sinh là yêu cầu phân loại các khả năng xảy ra để xét theo mỗi khả năng, sau đó tổng hợp
kết quả theo các khả năng đó . Đây là nội dung thể hiện yêu cầu bồi dưỡng tư duy lôgic nhưng không ghi
tường minh. SGK giới thiệu qua các Ví dụ để học sinh dần dần tiếp nhận ( cũng như một số bài tập có
nêu cách giải thứ hai để chứng minh BĐT đã đưa ra ở chương này). Khi thực hành theo mức này, HS
phải tự đặt ra bài toán về BPT (SGK giới hạn ở các BPT dạng
0

ax
hoặc
0
≥+
bx
để khỏi nhoè nội
dung chính là cách giải PT chứa dấu giá trị tuyệt đối).
3) Phần phát triển ở bài tập đối với HS khá giỏi nên giới thiệu cách giải PT dạng | ax + b | = cx + d
cho HS theo trình tự: Đặt vấn đề, ví dụ mẫu, chẳng hạn | 2x – 5 | = 3x + 1, khái quát dạng bài tập có biểu
thức trong dấu giá trị tuyệt đối dạng ax + b và cho HS giải một vài bài cụ thể thuộc dạng đó để cũng cố.
Sau khi đọc kĩ SGV, GV có thể tiến hành bước thứ hai.
II/ Giải các bài tập 35, 36, 37 trang 51 SGK Toán 8 tập 2.
35. Bỏ dấu giá trị tuyệt đối và rút gọ các biểu thức:
a) A = 3x + 2 + | 5x | trong hai trường hợp:
0

x
và x < 0:
b) B = | - 4x | - 2x + 12 trong hai trường hợp:
0

x
v à x > 0;
c) C = | x – 4 | - 2x + 12 khi x > 5;
d) D = 3x + 2 + | x + 5 |.
Giải.
a) – Khi
0

x
, ta có:
05

x
nên | 5x | = 5x. Vậy
A = 3x + 2 + 5x = 8x + 2
– Khi x < 0, ta có: 5x < 0 nên | 5x | = - 5x. Vậy
A = 3x + 2 – 5x = 2 – 2x
b) – Khi
0

x
, ta có:
04
≥−
x
nên | - 4x | = - 4x. Vậy
B = - 4x – 2x + 12 = - 6x + 12
– Khi x > 0, ta có: - 4x < 0 nên | - 4x | = 4x. Vậy
B = 4x – 2x + 12 = 2x + 12
c) – Khi x > 5, ta có: x – 5 > 0

x – 4 > 0 nên | x - 4 | = x - 4. Vậy
C = x - 4 – 2x + 12 = - x + 8
d) – Khi
05
≥+
x
hay
5
−≥
x
, ta có: | x + 5 | = x + 5. Vậy
D = 3x + 2 + x + 5 = 4x + 7
– Khi x + 5 < 0, hay x < - 5, ta có:| x + 5 | = - (x + 5). Vậy
A = 3x + 2 – (x + 5) = 2x – 3
36. Giải các phương trình:
a) | 2x | = x - 6; b) | - 3x | = x - 8;
c) | 4x | = 2x + 12; d) | - 5x | - 16 = 3x.
Giải.
a) Ta có:
| 2x | = 2x khi
02

x
hay
0

x
;
| 2x | = - 2x khi 2x < 0 hay x < 0.

3
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Trư ờng THCS TT Trà Cú Sáng kiến kinh nghiệm
ĐK:
0

x
, ta có:
| 2x | = x - 6

2x = x – 6

2x – x = - 6

x = - 6 ( không TMĐK).
ĐK: x < 0, ta có:
| 2x | = x - 6

- 2x = x – 6

- 2x – x = - 6

- 3x = - 6

- 3x : (- 3) = - 6 : (- 3)

x = 2 ( không TMĐK).
Vậy: S = φ.
b) Ta có:
| - 3x | = - 3x khi
03
≥−
x
hay
0

x
;
| - 3x | = - ( - 3x) khi - 3x < 0 hay x > 0.
ĐK:
0

x
, ta có:
| - 3x | = x - 8

- 3x = x – 8

- 3x – x = - 8

- 4x = - 8

- 4x : (- 4) = - 8 : (- 4)

x = 2 ( không TMĐK).
ĐK: x > 0, ta có:
| - 3x | = x - 8

- (- 3x) = x – 8

3x – x = - 8

2x = - 8

2x : 2 = - 8 : 2

x = - 4 ( không TMĐK).
Vậy: S = φ.
c) Ta có:
| 4x | = 4x khi
04

x
hay
0

x
;
| 4x | = - 4x khi 4x < 0 hay x < 0.
ĐK:
0

x
, ta có:
| 4x | = 2x + 12

4x = 2x + 12

4x – 2x = 12

2x = 12

2x : 2 = 12 : 2

x = 6 (TMĐK).
ĐK: x < 0, ta có:
| 4x | = 2x + 12

- 4x = 2x + 12

- 4x – 2x = 12

- 6x = 12

- 6x : (- 6) = 12 : (- 6)

x = - 2 (TMĐK).

4
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Trư ờng THCS TT Trà Cú Sáng kiến kinh nghiệm
Vậy: S = { 6; - 2 }.
d) Ta có:
| - 5x | = - 5x khi
05
≥−
x
hay
0

x
;
| - 5x | = - ( - 5x) khi - 5x < 0 hay x > 0.
ĐK:
0

x
, ta có:
| - 5x | - 16 = 3x

- 5x – 16 = 3x

- 5x – 3x = 16

- 8x = 16

- 8x : (- 8) = 16 : (- 8)

x = - 2 (TMĐK).
ĐK: x > 0, ta có:
| - 5x | - 16 = 3x

- (- 5x) - 16= 3x

5x – 3x = 16

2x = 16

2x : 2 = 16 : 2

x = 8 (TMĐK).
Vậy: S = {- 2 ; 8 }.
37. Giải các phương trình:
a) | x – 7 | = 2x + 3; b) | x + 4 | = 2x – 5;
c) | x + 3 | = 3x – 1; d) | x – 4 | + 3x = 5.
Giải.
a) Ta có:
| x - 7 | = x - 7 khi
07
≥−
x
hay
7

x
;
| x - 7 | = - ( x - 7) khi x – 7 < 0 hay x < 7.
ĐK:
7

x
, ta có:
| x - 7 | = 2x + 3

x – 7 = 2x + 3

x - 2x = 3 + 7

- x = 10

x = - 10 (không TMĐK).
ĐK: x < 7, ta có:
| x - 7 | = 2x + 3

- (x – 7) = 2x + 3

- x + 7 = 2x + 3

- x - 2x = 3 - 7

- 3x = - 4

- 3x : (- 3) = - 4 : (- 3)


x =
3
4
(TMĐK).
Vậy: S = {
3
4
}.
b) Ta có:
| x + 4 | = x + 4 khi
04
≥+
x
hay
4
−≥
x
;
| x + 4 | = - (x + 4) khi x + 4 < 0 hay x < - 4.

5
Thái Nguyễn Chí Nguyện
Thái Nguyễn Chí Nguyện

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Chuyên đề trình tự soạn giáo án