LUẬT BÓNG NÉM

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu LUẬT BÓNG NÉM

UỶ BAN THỂ DỤC THỂ
THAO
Số: 1236/QĐ-UBTDTT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 6 tháng 08 năm 2003
QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM
UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO
(Về việc Ban hành Luật Bóng ném quốc tế)
BỘ TRƯỞNG - CHỦ NHIỆM UỶ BAN THỂ DỤC THỂ THAO
- Căn cứ Nghị định số 22/2003/CĐ-CP ngày 11/03/2003 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Thể dục Thể thao.
- Xét yêu cầu về phát triển và nâng cao thành tích môn Bóng ném; Theo đề nghị
của Vụ trưởng Vụ Thể thao thành tích cao II.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Áp dụng Luật bóng ném quốc tế gồm 18 Điều.
Điều 2: Luật bóng ném này được áp dụng thống nhất trong các cuộc thi đấu toàn
quốc và thi đấu quốc tế ở nước ta.
Điều 3: Luật này thay thế cho luật Bóng ném ban hành trước đây và có hiệu lực
kể từ ngày ký.
Điều 4: Các ông Chánh văn phòng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ, Vụ trưởng
Vụ Thể thao Thành tích cao II, Giám đốc các Sở Thể dục Thể thao, Sở Văn hoá
- Thông tin - Thể thao, Thủ trưởng các Vụ, Đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm
thi hành Quyết định này.
BỘ TRƯỞNG - UỶ NHIỆM UỶ BAN TDTT
Nguyễn Danh Thái (đã ký)
PHẦN I
LUẬT THI ĐẤU BÓNG NÉM
ĐIỀU LUẬT CHUNG
Bóng ném là môn thể thao thi đấu đối kháng giữa hai đội, mỗi đội có 7 người (6
cầu thủ và 1 cầu thủ môn). Mục đích của mỗi đội là ném bóng vào khung thành
(cầu môn) đối phương và ngăn cản không cho đối phương giành được bóng
hoặc ghi bàn thắng. Người chơi có thể chuyền bóng, bắt bóng, dẫn bóng, lăn
bóng, ném bóng hoặc đập nhẹ vào bóng theo bất cứ phương hướng nào nhưng
phải tuân theo luật thi đấu.
Chú ý: Để đơn giản hoá, sách luật này chủ yếu dùng từ anh ta khi nói đến các
đấu thủ, chỉ đạo viên, trọng tài và những người khác. Tuy nhiên, điều luật được
áp dụng cho cả nam và nữ, trừ trường hợp các điều có liên quan đến bóng (xem
Điều 3).
ĐIỀU 1.
SÂN BÃI
1.1. Sân thi đấu (hình 1) là một hình chữ nhật có chiều dài 40 mét và chiều rộng
20 mét, gồm 2 vùng cấm địa (Điều 1:4 và Điều 6) và một khu vực thi đấu. Các
đường biên dài hơn gọi là đường biên dọc, đường biên ngắn hơn gọi là đường
khung thành (ở giữa 2 dọc gôn) hoặc những đường ở bên ngoài khung thành (về
hai phía của khung thành).
Cần có một hành lang an toàn ở xung quanh sân thi đấu. Hành lang này có độ
rộng ít nhất là 1 mét tính từ đường biên dọc và 2 mét tính từ đường khung thành.
Các điều kiện của sân thi đấu không được thay đổi trong suốt trận đấu để tạo lợi
thế cho một bên.
1.2. Khung thành (hình 2a và 2b) được đặt ở chính giữa mỗi đường cuối sân,
gắn chặt với mặt sân hoặc mặt tường phía sau. Mặt trong của khung thành có
chiều cao 2 mét và rộng 3 mét. Các cột dọc được nối với xà ngang. Mặt sau của
cột dọc thẳng hàng với mép ngoài của đường khung thành. Điểm giao nhau giữa
cột dọc và xà ngang là hình vuông, mỗi cạnh dài 8cm.
Tại 3 mặt có thể nhìn thấy từ trong sân phải được sơn bằng 2 màu xen kẽ, có
gam màu tương phản nhai và nổi bật lên so với phần nền phía sau khung thành.
Khung thành phải có lưới được lắp đặt sao cho khi bóng bay vào khung thành
thì thường là nằm yên trong lưới.
1.3. Tất cả các đường trên sân đều được tính vào khu vực thi đấu. Đường khung
thành có độ rộng 8cm ở phần giữa hai cột dọc (xem hình 2a), còn tất cả các
đường khác rộng 5cm. Các đường nằm giữa 2 khu vực sát nhau có thể được thay
thế bằng cách vẽ màu khác nhau.
1.4. Trước mỗi khung thành có một vùng cấm địa (xem Điều 6). Vùng cấm địa
được xác định bởi vạch cấm địa (đường 6 mét), được vẽ như sau: (i) một đường
thẳng dài 3 mét ngay phía trước khung thành, đường này song song với đường
khung thành và cách đường khung thành 6 mét (đo từ mép ngoài của đường
khung thành đến mép trước của vạch cấm địa); và (ii) 2 đường 1/4 cung tròn,
mỗi cung có bán kính 6 mét (tính từ mép bên trong của cột dọc), nối đường
thẳng dài 3 mét và đường cuối sân (hình 1 và 2a).
1.5. Vạch mép phạt trực tiếp (vạch 9 mét) là một đường nét đứt cách vạch cấm
địa 3 mét. Chiều dài mỗi đoạn và phần khoảng cách giữa 2 đoạn là 15cm (xem
hình 1).
1.6. Vạch ném phạt 7 mét là một đường thẳng dài 1 mét, ngay trước khung
thành. Nó song song và cách đường khung thành 7 mét (tính từ mép sau của
đường khung thành tới mép trước của vạch 7 mét) (xem hình 1).
1.7. Vạch giới hạn thủ môn (vạch 4 mét): là một vạch dài 15cm ngay trước
khung thành. Vạch này song song và cách đường khung thành 4 mét (đo từ mép
sau của đường khung thành tới mép trước của vạch 4 mét) (xem hình 1).
1.8. Đường giữa sân nối 2 điểm giữa của 2 đường biên dọc (hình 1 và 3).
1.9. Vạch thay người (đoạn nét đứt ở đường biên dọc) cho mỗi đội được kẻ từ
đường giữa sân đến điểm cách đường giữa sân 4.5 mét. Tại điểm kết thúc của
vạch thay người kẻ một đường song song với đường giữa sân, mở rộng về hai
phía trong và ngoài đường biên mỗi bên 15cm (hình 1 và 3). Những yêu cầu chi
tiết hơn về kỹ thuật cho sân và khung thành có thể tìm trong phần “Hướng dẫn
về sân và khung thành thi đấu”.

ĐIỀU 2:
THỜI GIAN THI ĐẤU, TÍN HIỆU KẾT THÚC VÀ TẠM DỪNG THI
ĐẤU
Thời gian thi đấu
2.1. Thời gian thi đấu thông thường cho tất cả các đội có vận động viên từ 16
tuổi trở nên là 2 hiệp, mỗi hiệp 30 phút, nghỉ giữa hai hiệp 10 phút. Thời gian thi
đấu thông thường cho đội tuyển trẻ là 2 hiệp x 25 phút đối với lứa tuổi từ 12 -16
và 2 hiệp x 20 phút đối với lứa tuổi từ 8-12. Trong cả hai trường hợp thời gian
nghỉ giữa hiệp là 10 phút.
2.2. Hiệp phụ được bắt đầu sau khi nghỉ 5 phút nếu trận đấu kết thúc với tỉ số
hoà sau khi thi đấu hết 2 hiệp chính và bắt buộc phải quyết định đội thắng. Thời
gian thi đấu hiệp phụ gồm 2 hiệp, mỗi hiệp 5 phút và nghỉ giữa 2 hiệp là 1 phút.
Nếu kết quả vẫn tiếp tục hoà sau 2 hiệp phụ đầu tiên thì 2 đội sẽ tiếp tục thi đấu
thêm 2 hiệp phụ nữa sau khi nghỉ 5 phút, mỗi hiệp vẫn là 5 phút và nghỉ giữa 2
hiệp là 1 phút. Nếu tỉ số vẫn hoà thì sẽ quyết định đội thắng theo điều lệ của
giải.
Tín hiệu kết thúc
2.3. Thời gian thi đấu được tính từ khi có tiếng còi khai cuộc của trọng tài cho
giao bóng và kết thúc khi có tín hiệu kết thúc tự động của đồng hồ hay tín hiệu
của trọng tài bấm giờ. Nếu không có tín hiệu nào được phát ra thì trọng tài chính
trên sân sẽ thổi còi báo hiệu kết thúc (Điều 17:10).
Chú ý: Nếu không có đồng hồ lớn trên sân có hệ thống báo hiệu kết thúc tự
động, trọng tài bấm giờ sẽ sử dụng đồng hồ để bàn hoặc đồng hồ bấm giây và
đưa ra tín hiệu kết thúc (Điều 18:2,2).
Nếu có thể thì nên đặt đồng hồ lớn trên sân chạy ở chế độ từ 0-30 phút.
2.4. Phạm lỗi và hành vi phi thể thao xảy ra trước hoặc cùng một lúc với tín hiệu
báo giờ (hết hiệp một hoặc kết thúc trận đấu) đều phải bị phạtm, ngay cả khi
việc này không thể làm được sau khi có tín hiệu kết thúc. Trọng tài chỉ cho kết
thúc trận đấu sau khi cho thực hiện ném phạt trực tiếp cần thiết (trừ trường hợp
ném phạt theo Điều 13:4) hoặc ném phạt đền 7 mét và kết quả sẽ được công
nhận ngay lập tức (Xem phần giải thích luật - 1).
2.5. Giao bóng phải được thực hiện lại nếu tín hiệu kết thúc (hết một hiệp hoặc
kết thúc trận đấu) phát ra đúng vào lúc đang thực hiện ném phạt trực tiếp hoặc
ném phạt 7 mét hoặc khi bóng đang bay trên không. Kết quả của lần ném sẽ
được trọng tài công nhận ngay sau rồi mới cho kết thúc trận đấu.
2.6. Các đấu thủ hoặc chỉ đạo viên phải chịu các hình thức xử phạt cá nhân nếu
phạm lỗi hoặc có thái độ phi thể thao trong khi đang thực hiện ném phạt trực
tiếp hoặc ném phạt 7 mét trong hoàn cảnh đã được mô tả ở Điều 2:4-5. Tuy
nhiên, lỗi vi phạm trong khi thực hiện ném phạt như thế này không thể dẫn đến
ném phạt cho đội kia.
2.7. Nếu các trọng tài cho rằng trong trọng tài bấm giờ đã ra tín hiệu kết thúc
(hết hiệp một hay kết thúc trận đấu) quá sớm thì họ phải giữ các đấu thủ lại sân
và cho thi đấu đến hết thời gian quy định. Đội đang khống chế bóng khi có tín
hiệu kết thúc sớm của trọng tài sẽ tiếp tục được có bóng khi trận đấu tiếp tục.
Nếu bóng ngoài cuộc, trận đấu sẽ được tiếp tục bằng quả giao bóng theo tình
huống trước đó.
Nếu bóng vẫn trong cuộc, trận đấu sẽ được tiếp tục bằng ném phạt trực tiếp theo
Điều 13:4a-b. Nếu hiệp thứ nhất của trận đấu (hoặc hiệp phụ thứ nhất) được kết
thúc quá muộn so với thời gian quy định thì thời gian thi đấu hiệp 2 sẽ được rút
ngắn lại tương ứng khoảng thời gian vượt quá ở hiệp trước. Nếu hiệp thứ 2 của
trận đấu (hoặc hiệp phụ thứ 2) được kết thúc muộn hơn thời gian quy định thì
trọng tài không thể thay đổi được gì.
Thời gian tạm dừng
2.8. Trọng tài sẽ là người quyết định thời điểm và khoảng thời gian tạm dừng
trận đấu.
Tạm dừng trận đấu là bắt buộc khi:
a). Đưa ra quyết định tạm đuổi 2 phút, truất quyền thi đấu và đuổi hẳn.
b). Cho thực hiện ném phạt 7 mét;
c). Cho hội ý;
d). Phạm lỗi thay người hoặc một đấu thủ bên ngoài vào sân sai quy định;
e). Có tín hiệu còi của trọng tài bấm giờ hoặc của Giám sát kỹ thuật;
f) Các trọng tài thấy cần hội ý theo Điều 17:8;
Thời gian tạm dừng trận đấu thông thường được đưa ra trong một số tình huống
xác định khác, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh (Xem phần giải thích luật-2).
Những lỗi xảy ra trong thời gian tạm dừng cũng được xem như lỗi xảy ra trong
thời gian thi đấu (Điều 16:13 đoạn 1).
2.9. Trọng tài trên sân báo hiệu cho trọng tài bấm giờ khi cần dừng đồng hồ và
khi cho tiếp tục chạy sau thời gian tạm dừng. Trọng tài chính trên sân báo hiệu
tạm dừng thi đấu cho trọng tài bấm giờ bằng 3 tiếng còi ngắn và tay ra Hiệu tay
số 16. Sau mỗi lần tạm dừng thời gian thi đấu, trọng tài bao giờ cũng thổi còi
báo hiệu tiếp tục trận đấu.
2.10. Mỗi đội có quyền có 1 phút hội ý trong mỗi hiệp thi đấu chính (Xem phần
giải thích luật -3).
ĐIỀU 3:
BÓNG
3.1. Bóng được làm bằng da hoặc chất liệu giả da, Bóng phải có hình cầu và
không được bóng hoặc trơn.(Điều 17:3).
3.2. Kích cỡ của bóng như chu vi hoặc trọng lượng phù hợp với các hạng, các
lứa tuổi khác nhau như sau: Bóng có chu vi 58-60cm và trọng lượng 425-
475gram(số 3 của IHF) cho Nam và Nam trẻ (trên 16 tuổi). Bóng có chu vi 54-
56cm và trọng lượng là 325-375gram (số 2 của IHF) cho Nữ và Nữ trẻ (trên 14
tuổi) và Nam trẻ (từ 12 - 16 tuổi). Bóng có chu vi 50-52cm và trọng lượng là
290-330gram (số 1 của IHF) cho Nữ trẻ (8-14 tuổi) và Nam trẻ (từ 8-12 tuổi);
Chú ý: Các yêu cầu kỹ thuật đối với bóng dùng trong những trận đấu quốc tế
phải theo “quy định về bóng của IHF”. Kích thước và trọng lượng của bóng
mini không được quy định trong luật thi đấu thông thường.
3.3. Trong mỗi trận đấu, phải có ít nhất 2 quả bóng đủ tiêu chuẩn. Bóng dự trữ
phải được để ở bàn của trọng tài bấm giờ trong suốt thời gian thi đấu và phải
đảm bảo tiêu chuẩn theo Điều 3:1-2. 3.4. Trọng tài sẽ quyết định thời diểm sử
dụng bóng dự trữ. Trong những trường hợp cần thay bóng, trọng tài nên nhanh
chóng đưa bóng vào cuộc để giảm thiểu và tránh tạm dừng trận đấu.
ĐIỀU 4:
ĐỘI,THAY NGƯỜI, TRANG PHỤC
Đội bóng
4.1. Một đội bóng gồm 12 vận động viên. Mỗi đội không được phép có hơn 7
cầu thủ thi đấu trên sân. Số còn lại là đấu thủ dự bị. Trong toàn bộ thời gian thi
đấu, mỗi đội bắt buộc phải có 1 thủ môn trên sân. Thủ môn có thể trở thành cầu
thủ giữa sân vào bất cứ lúc nào. Tương tự như vậy, một đấu thủ đang thi đấu ở
khu vực giữa sân có thể làm thủ môn tại mọi thời điểm (tuy nhiên xem Điều 4.4
và 4.7).
Một đội ít nhất phải có 5 đấu thủ trên sân khi bắt đầu trận đấu. Số lượng cầu thủ
ở mỗi đội có thể tăng lên đến 12 vào bất cứ thời điểm nào trong trận đấu kể cả
khi thi đấu hiệp phụ. (Đối với các giải của IHF và Châu lục, việc này phải tuân
theo điều lệ giải).
Trận đấu vẫn có thể tiếp tục thậm chí khi một đội có dưới 5 đấu thủ trên sân.
Các trọng tài có quyền quyết định khi nào thì huỷ bỏ trận đấu (Điều 17:13).
4.2. Mỗi đội được phép có tối đa 4 chỉ đạo viên trong thời gian thi đấu. Không
thể thay những người này trong khi trận đấu đang diễn ra. Trong đó, một người
được coi là lãnh đội. Chỉ có lãnh đội mới được phép liên lạc với trọng tài bấm
giờ, thư ký và có thể cả trọng tài chính trên sân (tuy nhiên, xem phần giải thích
luật - 3: tạm dừng hội ý).
Nói chung, lãnh đội không được vào sân trong khi đang thi đấu. Nếu vi phạm sẽ
bị phạt như lỗi hành vi phi thể thao (xem Điều 8:4, 16:1d, 16:3d và 16:6b). Trận
đấu sẽ được tiếp tục bằng ném phạt trực tiếp cho đối phương (Điều 13:1a-b, tuy
nhiên xem phần giải thích luật -9).
4.3. Một Vận động viên hay một chỉ đạo viên được quyền tham gia nếu người
đó đã được đăng ký vào biên bản thi đấu và có mặt khi trận đấu bắt đầu. Nếu các
đấu thủ và chỉ đạo viên đến sau khi trận đấu đã bắt đầu thì phải được sự đồng ý
của trọng tài bấm giờ, thư ký cho phép tham gia và đăng ký vào biên bản thi
đấu.
Theo quy tắc, 1 đấu thủ được phép tham gia có thể vào sân qua vạch thay người
của đội mình vào bất cứ thời điểm nào (tuy nhiên xem Điều 4.4, 4.6). 1 đấu thủ
không được quyền tham gia sẽ bị truất quyền thi đấu nếu vào sân (Điều 16.6a).
Trận đấu tiếp tục bằng ném phạt trực tiếp cho đối phương (tuy nhiên xem phần
giải thích luật-9, Điều 13.1a-b).
Thay người:
4.4. Đấu thủ thay thế có thể vào sân thi đấu tại bất kỳ thời điểm nào và nhiều lần
mà không cần thông báo cho trọng tài bấm giờ, thư ký miễn là các cầu thủ mà
họ thay thế đã rời sân (Điều 4:5). Các đấu thủ luôn luôn rời sân và vào sân ở
vạch thay người của đội mình (Điều 4:5). Điều này cũng áp dụng đối với thay
thủ môn (xem thêm điều 4:7 và 14:10). Luật thay người cũng có hiệu lực trong
suốt thời gian tạm dừng trận đấu (trừ khi tạm dừng hội ý).
4.5. Phạm lỗi thay người sẽ bị phạt tạm đuổi 2 phút đối với cầu thủ phạm lỗi.
Nếu có 2 đấu thủ trở lên trong cùng một đội phạm lỗi thay người trong cùng một
tình huống thì chỉ có đấu thủ đầu tiên bị phạt. Trận đấu sẽ được tiếp tục bằng
ném phạt trực tiếp cho đối phương (Điều 13:1a-b và phần giải thích luật-9).
4.6. Nếu có thêm một đấu thủ vào sân mà không qua thay người khác làm ảnh
hưởng đến trận đấu từ khu vực thay người, đấu thủ đó sẽ bị tạm đuổi 2 phút.
Ngoài ra, đội bóng còn bị phạt thiếu 1 đấu thủ nữa trong 2 phút tiếp theo. Nếu
một đấu thủ vào sân trong khi đang bị tạm đuổi 2 phút, đấu thủ đó sẽ phải chịu
thêm 2 phút tạm đuổi.
Lần tạm đuổi này có hiệu lực ngay lập tức nên đội đó sẽ phải chịu thiếu thêm
người trong khoảng thời gian còn lại của 2 phút tạm đuổi thứ nhất. Trong cả hai
trường hợp, trận đấu sẽ được tiếp tục bằng ném phạt trực tiếp cho đối phương
(Điều 13:1a-b, và phần gải thích luật - 9).
Trang phục
4.7. Tất cả các đấu thủ trên sân phải mặc trang phục giống nhau. Màu sắc và
kiểu dáng của trang phục 2 đội phải được dễ dàng phân biệt với nhau. Đấu thủ là
thủ môn phải mặc trang phục có màu sắc khác với các đối thủ khác trên sân của
cả 2 đội và thủ môn của đội kia (Điều 17:3).
4.8. Các đấu thủ phải được đánh số từ 1 đến 20. Các số áo có chiều cao ít nhất
20cm ỏ phía sau và 10cm ở phía trước ngực. Màu của các số phải tương phản
với tông màu của áo. Đội trưởng của mỗi đội phải mang băng đội trưởng trên
cánh tay. Băng đội trưởng có độ rộng 4cm và màu sắc phải khác với màu của áo.
4.9. Các đấu thủ phải đi giày thể thao. Không được phép mang hoặc đeo các vật
dụng có thể gây nguy hiểm cho người khác. Bao gồm: Bảo vệ đầu hoặc mặt nạ,
vòng tay, đồng hồ, nhẫn, vòng cổ hay dây chuyền, hoa tai, kính mà không được
bọc lại hoặc có khung cứng hoặc bất cứ thứ gì khác có thể gây nguy hiểm cho
các đấu thủ (17:3). Được phép mang băng đầu nếu nó được làm từ chất liệu
mềm dẻo. Các đấu thủ không tuân theo quy định này sẽ không được phép tham
gia cho đến khi chấp hành.
4.10. Nếu một đấu thủ bị chảy máu hay có máu trên người hoặc trên trang phục,
đấu thủ đó phải tự nguyện rời sân ngay lập thức (bằng hình thức thay người
thông thường), để được cầm máu, băng bó và gột sạch vết máu trên người và
trên trang phục. Đấu thủ không được phép vào san nếu như chưa làm xong
những việc này. Một đấu thủ không tuân theo chỉ dẫn của trọng tài về vấn đề
này sẽ bị coi như vi phạm điều luật về hành vi phi thể thao (8:4, 16:1d và 16:3c).
4.11. Trong trường hợp bị chấn thương, trọng tài có thể cho phép (bằng Hiệu tay
số 16 và 17) 2 người đã được đăng ký (4:3) vào sân trong thời gian tạm dừng chỉ
với mục đích giúp đỡ đấu thủ bị chấn thương của đội đó (4:2, 16:1d, 16:3d,
16:6b).
ĐIỀU 5.
THỦ MÔN
Thủ môn được phép:
5.1. Chạm bóng bằng bất cứ phần nào của cơ thể trong khi phòng thủ trong vùng
cấm địa.
5.2. Di chuyển cùng bóng trong vùng cấm địa mà không bị giới hạn như các đấu
thủ trên sân (7:2, 7:7). Tuy nhiên, thủ môn cũng không được phép trì hoãn thời
gian thực hiện phát bóng (Điều 6:5, 12:2 và 15:3b).
5.3. Rời khỏi vùng cấm địa mà không có bóng và tham gia thi đấu ở khu vực
giữa sân. Khi đó, thủ môn phải tuân theo những luật lệ dành cho các đấu thủ thi
đấu ở khu vực giữa sân. Thủ môn bị coi như đã rời khỏi vùng cấm địa khi có bất
cứ bộ phận nào của cơ thể chạm sân bên ngoài vạch cấm địa.
5.4. Ra khỏi vùng cấm địa cùng bóng, tiếp tục chơi bóng nếu chưa khống chế
được bóng Thủ môn không được phép:
5.5. Gây nguy hiểm cho đối phương trong khi phòng thủ (8:2, 8:5);
5.6. Rời vùng cấm địa khi đã khống chế được bóng (xem phần ném phạt trực
tiếp theo điều 13:1 nếu trọng tài đã thổi còi để thủ môn phát bóng, nếu không thì
thủ môn sẽ thực hiện lại quả phát bóng);
5.7. Tiếp tục chạm bóng ngoài vùng cấm địa sau quả phát bóng lên mà chưa
chạm vào một đấu thủ khác (Điều 13:1a).
5.8. Chạm bóng khi đang nằm hoặc lăn ra trên mặt sân ở bên ngoài vùng cấm
địa mà thủ môn còn đang ở trong vùng cấm địa (Điều 13:1a).
5.9. Đưa bóng vào vùng cấm địa khi bóng đang nằm hoặc lăn trên mặt sân ngoài
vùng cấm địa (Điều 13:1a);
5.10. Đưa bóng từ khu vực giữa sân trở lại vùng cấm địa (Điều 13:1a);
5.11. Chạm bóng bằng bàn chân hoặc cẳng chân khi bóng đang nằm trong vùng
cấm địa hoặc đang chuyển động về phía khu vực giữa sân (Điều 13:1a).
5.12. Vượt qua vạch giới hạn thủ môn (vạch 4 mét) hoặc đường kéo dài của
vạch này trước khi bóng rời tay của đối phương đang thực hiện ném phạt 7 mét
(Điều 14:9); Chú ý: Chừng nào mà thủ môn còn để một chân ở trên hoặc trong
vạch giới hạn thủ môn (vạch 4 mét) thì anh ta được phép di chuyển chân kia
hoặc bất kỳ phần nào của cơ thể qua vạch này nhưng không được chạm sàn (ở
trên không).

ĐIỀU 6:
VÙNG CẤM ĐỊA
6.1. Chỉ có thủ môn mới được phép vào vùng cấm địa (tuy nhiên, xem Điều
6:3). Vùng cấm địa bao gồm cả vạch cấm địa. Bất cứ đấu thủ nào chạm vào
vạch cấm địa đều bị coi là vào vùng cấm địa.
6.2. Khi có một đấu thủ trên sân vào vùng cấm địa, quyết định như sau:
a. Ném phạt trực tiếp khi một đấu thủ trên sân vào vùng cấm địa khi đang khống
chế bóng (Điều 13:1a);
b. Ném phạt trực tiếp nếu vào vùng cấm địa không có bóng nhưng giành được
lợi thế (Điều 13.1a-b, Điều 6:2c).
c. Phạt đền 7m nếu 1 đấu thủ phòng thủ vào vùng cấm địa làm mất cơ hội ghi
bàn rõ ràng (Điều 14:1a).
6:3: Không bị phạt khi vi phạm vào vùng cấm địa trong những trường hợp:
a). Đấu thủ vào vùng cấm địa sau khi chơi bóng và không gây bất lợi cho đối
phương
b). Đấu thủ vào vùng cấm địa nhưng không có bóng và không tạo được lợi thế;
c). Đấu thủ vào vùng cấm địa trong hoặc sau một nỗ lực phòng thủ, nhưng
không gây bất lợi cho đối phương.
6.4. Bóng thuộc về thủ môn khi ở trong vùng cấm địa. Đấu thủ trên sân không
được phép chạm vào bóng khi bóng đang nằm hoặc lăn trên mặt sân trong vùng
cấm địa hoặc nằm trong tay thủ môn (Điều 13:1a-b).
Tuy nhiên, các đấu thủ được phép chơi bóng khi bóng đang ở trên không của
vùng cấm địa, trừ khi thủ môn đang thực hiện quả phát bóng (Điều 12:2).
6.5. Thủ môn sẽ đưa bóng vào cuộc thông qua một quả phát bóng (Điều 123)
khi bóng dừng lại trong vùng vấm địa.
6.6. Trận đấu sẽ tiếp tục (bằng một quả phát bóng theo Điều 6:5) nếu một đấu
thủ của đội bóng phòng thủ chạm bóng khi đang phòng thủ và thủ môn bắt được
hoặc bóng dừng lại trong vùng cấm địa.
6.7. Nếu một đấu thủ chơi bóng trong vùng cấm địa của đội nhà thì quyết định
như sau:
a). Tính một bàn thắng nếu bóng lọt vào gôn;
b). Ném phạt trực tiếp nếu bóng dừng lại trong vùng cấm địa hoặc nếu thủ môn
chạm bóng và bóng không vào gôn (Điều 13:a-b).
c). Ném biên nếu bóng đi ra ngoài đường cuối sân (Điều 11:1);
d). Tiếp tục trận đấu nếu bóng bay qua vùng cấm địa trở lại giữa sân mà không
chạm vào thủ môn.
6.8. Nếu bóng từ vùng cấm địa dội trở lại giữa sân coi như bóng trong cuộc.
ĐIỀU 7.
THI ĐẤU, THI ĐẤU TIÊU CỰC
Thi đấu Các đấu thủ được phép:
7.1. Ném, bắt, chặn, đẩy và đánh bóngg bằng bàn tay (mở hoặc đóng), cánh tay,
đầu, thân, đùi và đầu gối;
7.2. Giữ bóng tối đa là 3 giây, kể cả khi bóng đang nằm trên sân (Điều 13:1a);
7.3. Cầm bóng di chuyển tối đa 3 bước (Điều 13:1a), một bước được tính khi:
a). Một đấu thủ đang đứng với 2 chân trên sàn, nhấc một chân lên rồi đặt xuống
hoặc di chuyển vị trí một bàn chân từ chỗ này sang chỗ khác.
b). Một đấu thủ chỉ chạm mặt sân bằng một chân, bắt bóng và sau đó chạm mặt
sân bằng chân kia;
c). Một đấu thủ sau khi nảy lên bắt bóng chỉ chạm mặt sân bằng một chân rồi lại
nhẩy lò cò tiếp bằng chân đó hoặc chạm sàn bằng chân kia;
d). Một đấu thủ nhảy lên bắt bóng và chạm sàn bằng cả 2 chân cùng một lúc, sau
đó nhấc 1 chân lên rồi đặt xuốn hoặc di chuyển vị trí một bàn chân từ chỗ này
sang chỗ khác.
Chú ý: Chỉ tính là một bước nếu một bàn chân di chuyển từ vị trí ban đầu sang
một vị trí khác và sau đó bàn chân kia kéo tới cạnh bàn chân thứ nhất.
7.4. Khi đang đứng tại chỗ cũng như di chuyển, đấu thủ có quyền;
a). Đập bóng xuống đất một lần và bắt lại bằng 1 hoặc 2 tay;
b). Đập bóng xuống đất nhiều lần liên tiếp bằng một tay (rê bóng) hoặc lăn bóng
trên sàn liên tục bằng 1 tay và sau đó bắt lại hoặc cầm bóng lên bằng 1 hoặc 2
tay.
Ngay khi đấu thủ đã khống chế được bóng bằng 1 hoặc 2 tay, bóng phải rời khỏi
tay trong vòng 3 giây hoặc không quá 3 bước (Điều 13:1a); Đập bóng hoặc rê
bóng bắt đầu được tính khi đấu thủ chạm bóng bằng bất kỳ phần nào của cơ thể
làm bóng rơi xuống mặt sân; Sau khi bóng chạm vào một đấu thủ khác hoặc
khung thành, đấu thủ được phép vỗ bóng, dẫn bóng hoặc bắt bóng lại.
7.5. Chuyển bóng từ tay này sang tay kia.
7.6. Chơi bóng trong khi đang quỳ, ngồi hoặc nằm trên sân.
Các đấu thủ không được phép:
7.7. Chạm bóng nhiều hơn một lần trừ khi bóng đã chạm mặt sân, chạm đấu thủ
khác hoặc khung thành (Điều 13:1a); Bắt bóng không chắc thì không bị phạt.
Chú ý: Bắt bóng không chắc có nghĩa là không kiểm soát được bóng khi đang cố
gắng bắt bóng hoặc chặn dừng bóng. Nếu bóng đã được kiểm soát thì đấu thủ
không chạm bóng quá một lần sau khi đã vỗ bóng hoặc dẫn bóng.
7.8. Chạm bóng bằng chân hoặc cẳng chân từ khi bóng do đối phương ném vào
chân (Điều 13:1a-b).
7.9. Tiếp tục chơi bóng nếu bóng chạm vào trọng tài trên sân. Thi đấu tiêu cực.
7.10. Đội không được phép giữ bóng mà không có nỗ lực rõ ràng về tấn công
hoặc ném bóng vào khung thành thì việc đó bị coi như thi đấu tiêu cực (xem
phần giải thích luật-4). Đội giữ bóng sẽ bị phạt trựck tiếp (Điều 13:1a). Điểm
thực hiện quả phạt trực tiếp là vị trí quả bóng lúc trận đấu bị tạm dừng.

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu LUẬT BÓNG NÉM