Sáng kiến kinh nghiệm dạy từ ghép , Từ láy ở lớp 4

Bài sưu tầm làm tài liệu bồi dưỡng chuyên môn
Giáo viên : Dương Văn Hùng
Sáng kiến kinh nghiệm
Tên đề tài:
Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy.

Người thực hiện : Nguyễn Thi Ngọc Anh.
Trường: Tiểu học Cát Linh - Đống Đa - Hà Nội
A. Lý do chọn đề tài.
Từ xưa đến nay, ông cha ta vẫn có câu:
“Phong ba bão táp
Không bằng ngữ pháp Việt Nam”.
Câu nói đó đã thể hiện rõ sự phức tạp của ngữ pháp Việt Nam. Như
chúng ta đã biết, nhiệm vụ dạy ngữ pháp ở tiểu học là giúp cho học sinh
nhận diện, phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các qui tắc cấu tạo và sử
dụng các đơn vị này trong hoạt động giao tiếp của mình. Đồng thời, ngữ
pháp còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.
Học sinh muốn nắm chắc được ngữ pháp trước hết phải nắm vững cấu
tạo từ (đơn vị nhỏ của câu). Là một giáo viên được nhà trường phân công
dạy lớp 4, tôi thấy việc giảng dạy cho học sinh nắm rõ khái niệm từ, biết
vận dụng từ vào thực tế bài học, vào cuộc sống giao tiếp là điều hết sức
quan trọng. Mặt khác, học sinh muốn viết câu đúng ngữ pháp, câu có
hình ảnh, cảm xúc phải hiểu rõ từ. Hình ảnh, cảm xúc được thể hiện rõ ở
các từ đơn, từ ghép, từ láy (đặc biệt là từ láy).
Do đó, việc giảng dạy cho học sinh cần nắm chắc, phân biệt rõ cấu
tạo các từ sẽ là cơ sở cho việc viết văn hay, đúng ngữ pháp.
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài:
" Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đơn, từ ghép, từ láy "
B. Cơ sở lý luận và thực tiễn để giải quyết
Trong chương trình ngữ pháp lớn bốn, học sinh được học:
1: Khái niệm về cấu tạo từ:
Từ đơn, từ ghép, từ láy
2. Các từ loại cơ bản trong câu
Danh từ, động từ, tính từ, đại từ
3. Các kiểu câu chia theo mục đích nói
Câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu cầu khiến, câu hội thoại
4. Các bộ phận phụ trong câu
Trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ
Để học tốt các phần 2, 3, 4 học sinh phải nắm chắc, phân biệt rõ về
từ đơn, từ ghép, từ láy, vì các từ loại trong câu cũng không nằm ngoài cấu
tạo của từ.
Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy học sinh sau khi học riêng khái niệm
từng bài, vận dụng giải quyết bài tập thì phần lớn là làm được (do được
tham khảo trước sách Để học tốt Tiếng Việt) nhưng khi đựơc luyện sang
bài khác (như các bài tập đọc) thì còn lúng túng, nhầm lẫn giữ từ láy – từ
ghép, 1 từ ghép thành 2 từ đơn hoặc 2 từ đơn thành 1 từ ghép.
Sau đây, tôi xin trình bày một kinh nghiệm nhỏ để hướng dẫn học
sinh không nhầm lẫn khi xác định cấu tạo từ.
C. Quá trình triển khai thực hiện đề tài.
Rút kinh nghiệm những năm đầu dạy lớp 4, ba năm học gần đây,
ngay từ khi dạy khái niệm cấu tạo từ, tôi đã khắc sâu kiến thức cơ bản
trong từng bài.
Cụ thể:
1. Dạy bài: Từ đơn, từ ghép.
* Tôi chọn ngữ liệu là câu ngắn gọn nhưng đủ cả từ đơn, từ
ghép để hình thành khái niệm. Tôi trích đoạn giờ dạy như sau:
Giáo viên Học sinh
Cho câu:
Mùa thu, gió thổi mát
rượi.
+ Con dùng dấu gạch xiên
(/) để phân từ câu: Mùa thu,
gió thổi mát rượi.


+ Mùa thu /, gió / thổi / mát rượi.

+ Con hãy nhận xét số
lượng tiếng trong các từ.
+ Như vậy, từ có 1 tiếng
và có từ có 2 tiếng. Từ có 1
tiếng gọi là từ đơn, vậy từ đơn
là từ như thế nào?

+ Từ mùa thu và từ mát rượi có 2 tiếng, từ gió
và từ thổi có 1 tiếng.
+ Từ đơn là từ có một tiếng.

+ Nhận xét gì về nghĩa
của từ đơn?
+ Những từ có nhiều tiếng
như từ mùa thu và mát rượi
được gọi là từ ghép.
+ Hãy nhận xét mối quan
hệ giữanh các tiếng trong từ
mùa thu?
( mùa thu là từ ghép tổng
hợp)
+ Hãy nhận xét mối quan
hệ giữa các tiếng trong từ mát
rượi?
( mát rượi là từ ghép
phân loại )
+ Nghĩa của từ ghép do
sự phối hợp nghĩa của các
tiếng tạo thành.
+ Vậy từ ghép là gì?
+ Từ đơn phải có nghĩa rõ ràng.



+ TIếng mùa và tiếng thu đều có nghĩa,
tiếng thu
bổ sung nghĩa cho tiếng mùa ( nói rõ
mùa nào).
+ Tiếng mát có nghĩa rõ ràng, tiếng
rượi không có nghĩa rõ ràng.

+ Từ ghép là từ có nhiều tiếng ghép lại
mà có ý nghĩa

* Sau đó, yêu cầu học sinh tự tìm các ví dụ về:
- Từ đơn: mây, mưa, đá, nói, chạy,…
- Từ ghép có nghĩa phân loại: hoa hồng, hoa mai, bút chì, bút
máy, gia đình, gia tộc,…
- Từ ghép có nghĩa tổng hợp: ăn mặc, nhà cửa, cười nói, bàn
ghế, bánh kẹo…
* Khắc sâu: Từ ghép có quan hệ về nghĩa.
2. Dạy bài từ láy:
Tôi tiến hành theo thứ tự sau:
* Dựa vào sự hiểu biết từ láy ở phân môn Từ ngữ, tôi yêu cầu
học sinh cho các ví dụ về từ láy. Sau đó hình thành khái niệm về từ láy: Từ
láy là từ do hai hay nhiều tiếng láy tạo thành.
* Phân loại từ láy thành các kiểu láy khác nhau:
- Láy phụ âm đầu: tha thẩn, tràn trề, hối hả,…
- Láy vần: lờ đờ, lạo xạo, loắt choắt,…
- Láy phụ âm đầu và vần: vòi vọi, rào rạo, lanh lảnh,…
- Láy tiếng: cao cao, luôn luôn, bon bon,…
* Khắc sâu: từ láy có quan hệ về âm thanh.
- Khi củng cố bài để học sinh dễ so sánh từ láy, từ ghép toi cho sẵn
một yếu tố cấu tạo từ (1 tiếng), yêu cầu tìm từ có tiếng gốc đó theo những
kiểu cấu tạo khác nhau.
- Ví dụ: Dựa vào tiếng gốc sau đây, hãy tạo ra các từ ghép, từ láy:
mềm, đỏ, xinh
Học sinh sẽ tìm được như sau:

Tiếng gốc Từ ghép Từ láy
- mềm - mềm dẻo, mềm
nhũn, mềm yếu …
- mềm mại, mênh
mông, mênh mang,…
- đỏ - đỏ gay, đỏ hoe,
đỏ hỏn, đỏ loét, đỏ
ngầu, đỏ ối, đỏ ửng,…..
- đỏ đắn, đo đỏ,….
- xinh - xinh đẹp, xinh
tươi,….
- xinh xắn, xinh
xẻo, xinh xinh,…
3. Dạy bài ôn tập:
* Khắc sâu: Sự giống nhau và khác nhau của từ ghép, từ láy.
- Giống nhau: Số lượng tiếng l từ 2 trở lên.
- Khác nhau:
+ Từ ghép: Các tiếng có quan hệ về nghĩa
+ Từ láy: Các tiếng có quan hệ về âm.
* Hướng dẫn phân biệt từ láy, từ ghép, nhiều từ đơn.
Từ láy Từ ghép Nhiều từ đơn
+ Có tác dụng
tăng hoặc giảm nghĩa.
- Tăng: sạch sành
sanh, chót vót,…
- Giảm: đo đỏ,
chậm chạp,…
+ Hoàn chỉnh về
nghĩa ( nhiều tiếng có
chung một nghĩa)
Ví dụ: sân trường
( chỉ nơi vui chơi tập
trung của học sinh )
+ Có cấu tạo chặt
chẽ, không thể thêm bớt
được từ nào.
Ví dụ: sân trường
- Không thể thêm:
sân để trường
=> sai nghĩa, vô lý
- Không thể bớt
thành sân hoặc trường
=> Chưa rõ nghĩa.
+ Nhiều từ kết hợp
với nhau nên tách ra
mỗi tiếng vẫn có nghĩa
=> chính là từ đơn.
Ví dụ: sách mới, áo
đẹp

+ Không có cấu tạo
chặt chẽ, có thể thêm từ
vào được.
Ví dụ: Sách rất
mới, áo rất đẹp
* Sau khi học sinh biết cách phân biệt, tôi chốt lại: Muốn xét 1 từ là
từ ghép hay từ đơn cần đưa vào một văn cảnh cụ thể.
* Tôi đưa ra 1 đoạn trích trong bài Rừng Phương Nam ( tập đọc lớp 4
tập 1), yêu cầu học sinh tìm từ đơn, từ ghép, từ láy.
Chim hót líu lo. Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất. Gió đưa
mùi hương ngọc lan xa, phảng phất khắp rừng.
+ Trước khi phân loại từ theo cấu tạo, học sinh phải vạch được đúng
ranh giới từ. Nếu xác định từ sai thì sẽ phân loại nhầm 1 từ ghép thành 2
từ đơn hoặc ngược lại 2 từ đơn thành 1 từ ghép. (ở dạng bài này học sinh
không nhầm từ láy với từ ghép vì từ láy rất dễ nhận ra).
+ Kết quả phân từ là:
Chim / hót / líu lo/. Nắng / bốc / hương / hoa tràm / thơm / ngây
ngất/. Gió / đưa / mùi / hương ngọt / lan xa/, phảng phất / khắp rừng/.