SKKN TOAN 9

Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học : 2008 - 2009
Phần I - Phần mở đầu
1. Lý do chọn viết sáng kiến kinh nghiệm
Nh chúng ta đều biết, từ năm 2002. Bộ giáo dục và đào tạo đã tiến hành cải cách ch-
ơng trình giáo dục phổ thông, trong đó có chơng trình của khối trung học cơ sở, việc cải
cách và đổi mới phơng pháp dạy học này nhằm phát huy năng lực thực sự của ngời học,
khai thác và tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh có khả năng tự phát triển, tự học tập để tìm
ra tri thức cho chính bản thân mình, để làm đợc điều này bộ giáo dục đã có những điều
chỉnh về phơng pháp giúp cho ngời dạy ( giáo viên ) và ngời học tiếp cận kiến thức không
phải lúc nào cũng theo một lối mòn cũ là thầy đọc, trò ghi chép mà đã áp dụng các phơng
pháp giảng dạy tích cực, lấy học sinh làm trung tâm để học sinh tự tìm ra kiến thức dới sự
hớng dẫn của ngời dạy. Đây là một trong những điều quan trọng để có thê thực hiện đợc tốt
phơng pháp gảng dạy mới, phù hợp với sự phát triển của thời đại.
Trong chơng trình học phổ thông. bộ môn Toán học là một trong những môn khoa
học tự nhiên quan trọng, chiếm nhiều thời lợng trong chơng trình ( 4 tiết / tuần ). Đây cũng
là một trong những môn mà việc áp dụng phơng pháp dạy học tích cực ( theo hớng đổi
mới ) là đợc thể hiện dõ nhất, với tầm quan trọng của bộ môn này, trong những năm qua,
tôi nhận thấy việc áp dụng của nhiều giáo viên , kể cả giáo viên trẻ và giáo viên lâu năm
còn nhiều lúng túng và cha đợc hiệu quả nh mong muốn. Với mong muốn nhằm nâng cao
hiệu quả dạy và học cho bộ môn Toán học này. Tôi đã lựa chọn và nghiên cứu về lĩnh vực
này và mạnh dạn đa ra một sáng kiến kinh nghiệm của bản thân. Với nội dung nh sau :
"Dạy học môn Toán theo phơng pháp tích cực "
2. Nhiệm vụ của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu nhằm nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu bản chất của phơng pháp dạy học tích cực.
+ Đa ra các phơng pháp dạy học tích cực hiệu quả cho giảng dạy bộ môn Toán học
3. Thời gian và đối tợng nghiên cứu của SKKN
Đặng Thái Sơn - Trờng : THCS Tân Hợp
1
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học : 2008 - 2009
3.1- Thời gian: Từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2008
3.2 - Đối tợng : Môn Toán THCS
4. Phơng pháp nghiên cứu
4.2 Nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu tài liệu giáo viên, các sách bồi dỡng chuyên môn, các tạp chí toán học,
các thông tin trên internet...,
4.2 - Kinh nghiệm giảng dạy và dự giờ giáo viên.
Thông qua quá trình giảng dạy môn Toán của bản thân, kết hợp với việc dự giờ của
các giáo viên khác để tìm hiểu về phơng pháp dạy học tích cực cho bộ môn Toán.
4.3 Phơng pháp đàm thoại:
Qua chò chuyện, chao đổi trực tiếp với giáo viên cùng chuyên môn, cùng phân
môn.Qua tìm hiểu thông tin ngợc từ phía học sinh trực tiếp giảng dạy.
5/ Giới hạn của skkn.
Do thời gian nghiên cứu có hạn do bản thân vừa phải tham gia giảng dạy trên lớp và
các hoạt động kiêm nghiêm khác. Nên sáng kiến kinh nghiệm này chỉ xin giới hạn phạm vi
nghiên cứu về: phơng pháp dạy học tích cực trong phạm vi THCS ở bộ môn Toán lớp 6.
Phần iI - lý luận của skkn
1. Phơng pháp dạy học tích cực là gì ?
Định hớng đổi mới phơng pháp dạy và học đã đợc xác địnhk trong nghị quyết trung -
ơng IV khoá VII (1 - 1993), nghị quyết trung ong 2 khoá VIII (12 - 1998 ), đợc cụ thể hoá
trong các chỉ thị của bộ giáo dục và đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999).
Luật giáo dục, điều 24.2 đã ghi: " Phơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy đợc
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, của từng môn học, bồi dỡng và hớng dẫn cho học sinh phơng pháp tự học tập, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại cho học
sinh niềm vui, hứng thú học tập của học sinh"
Đặng Thái Sơn - Trờng : THCS Tân Hợp
2
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học : 2008 - 2009
Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới phơng pháp dạy và học theo hớng tích cực là h-
ớng tới hoạt động học tập chủ động của học sinh ( ngời học ), làm sao trong hoat động này
phải lấy học sinh làm trung tâm, học sinh phai tự tìm phát hiện ra vấn đề , tự tìm ra đợc
kiến thức dới sự hớng dẫn của giáo viên. Tránh học sinh phải học tập theo lối cũ, thụ động,
thầy đọc và trò ghi chép.
2. Thế nào là tính tích cực trong học tập.
Tính tích cực (TTC) là một sản phẩm vốn có của con ngời, bởi vì để tồn tại và phát
triển con ngời phải luôn chủ động, tích cực cải biến môi trờng tự nhiên, cải tạo xã hội, vì
vậy hình thành TTC xã hội là một trong nhngc nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục.Tính tính
tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, nhận thức đặc trng ở khát vọng hiểu biết,
cố gắng trí lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. TTC nhận thức trong hoạt động học
tập liên quan trớc hết đến động cơ học tập. Động cơ đúng sẽ tạo ra hứng thú, Hứng thú là
tiền đề của tự giác, Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực. Tính tích cực sản
sinh nếp t duy độc lập. suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo, ngợc lại, phong cách
học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác , hứng thú, bồi dỡng động cơ học tập.
TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu nh: Hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo
viên, bổ xung câu tre lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trớc vấn đề đợc nêu ra,
hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ các vấn đề cha dõ, cha hiểu kỹ. Chủ động vận
dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập chung chú ý đến vấn đề đang
học, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trí trớc các khó khăn.,
TTC của học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp đến cao nh:
- Bắt chớc, gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn
- Tìm tòi: độc lập giải quyết các vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau
về một số vấn đề
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
3. Phơng pháp dạy học tích cực
Phơng pháp dạy học tích cực ( PPDH TC ) là một thuật ngữ rút gọn, đợc dùng ở
nhiều nớc để chỉ những phơng pháp giáo dục, dạy học theo hớng phát huy tính tích cực ,
chủ động của ngời học.
Đặng Thái Sơn - Trờng : THCS Tân Hợp
3
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học : 2008 - 2009
" Tích cực " trong PPDH tích cực đợc dùng với nghĩa hoạt động, chủ động, trái với
nghĩa không không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
PPDH tích cực hớng tới việc hoạt động hoá hoạt động nhận thức của ngời học, nghĩa là tập
chung vào phát huy tính tích cực của ngời học chứ không phải là tập chung vào phát huy
tính tích cực của ngời dạy, tuy nhiên để dạy học theo phơng pháp tích cực thì giáo viên
phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phơng pháp cũ ( thụ động ) thày đọc và trò ghi chép.
Nh vậy muốn đổi mới cách học thì trớc tiên phải đổi mới cách dạy, cách dạy sẽ chỉ
đạo cách học, nhng ngợc lại thói quen học tập của học trò cũng ảnh hởng tới cách dạy của
thầy giáo. Chẳng hạn : có trờng hợp học sinh đòi hỏi cách dạy chủ động tích cực nhng giáo
viên cha đáp ứng đợc, hoặc cớ trờng hợp giáo viên hăng hái áp dung PPDH tích cực nhng
lại không thành công vì học sinh cha thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động. Vì vậy
giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phơng
pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới phơng pháp dạy
học phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hopự nhịp nhàng giữa hoạt động dạy và hoạt
động học thi mới thành công, nh vậy, việc dung thuật ngữ " Dạy học tích cực : đê phân biệt
với
" Dạy và học thụ động".
4. Mối quan hệ giữa dạy học tích cực và dạy học lấy học sinh làm
trung tâm.
Từ thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục trong nớc và nớc ngoài,
một số văn bản của bộ giáo dục và đào tạo thờng nói tới việc cần thiếtphải chuyển dạy học
lây giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tơng tự nh: dạy học tập
trung của ngời học, dạy học căn cứ vào ngời ngời học.. các thuật ngữ này có chung một
nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong quá trình dạy học, khác
với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên.
Lịch sử phát triển của giáo dục cho thấy, một thầy dạy cho một lớp đông học sinh,
cùng lứa tuổi và trình độ tơng đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng
học sinh nên đã hình thành kiểu dạy " Thông báo đồng loạt:. Giáo viên quan tâm trớc hết
đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong
chơng trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho học sinh hiểu và nhớ những điều giáo viên
Đặng Thái Sơn - Trờng : THCS Tân Hợp
4
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học : 2008 - 2009
đang giảng, cách dạy này đã đẻ ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ mà ít chú ý suy
nghĩ, động não, cho nên đã hạn chế chất lợng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu
phát triển năng động của xã hội hiện đại. Để khắc phục tình trạng này, các nhà s phạm kêu
gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập thể lớp. Phơng pháp
dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm ra đời.
Trên thực tế, trong quá trình dạy học của ngời học vừa là đối tợng của hoạt động dạy
, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học, dới sự chỉ đạo của ngời
thầy, ngời học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ,
hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình đợc. Vì vây, nếu ngời học không tự giác
chủ động, không chịu học, không có phơng pháp học tốt thi hiệu quả của việc dạy sẽ rất
hạn chế.
Nh vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của ngời học thi đơng nhiên phải
phát huy tính tích cực va chủ động của ngời học. Tuy nhiên dạy học lấy học sinh làm trung
tâm không phải là một phơng pháp dạy học cụ thể. Đó là một t tởng, quan điểm giáo dục,
một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả quá quá trình dạy học về mục tiêu, nội
dung, phơng pháp, phơng tiện, tổ chức, đánh giá. Chứ không phải là liên quan đến phơng
pháp dạy và học.
5. Đặc chng của phơng pháp dạy học tích cực.
a. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong phơng pháp dạy học tích cực, của ngời học - đối với hoạt động "dạy', đồng
thời là chủ thể của hoạt động " học " - đợc cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên
tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình cha dõ chứ không phải
thụ động tiếp thu tri thức đã đợc giáo viên sắp đặt. Đợc đặt vào những tình huống của đời
sống thực tế, ngời học trực tiếp quan sát, thảo luận làm thí nghiệm, giải quyết các vấn đề
đặt ra theo suy nghĩ của mình, từ đó lắm đợc phơng pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó,
không dập theo các khuân mẫu sẵn có, đợc bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.
Dạy học cách này giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hớng dẫn
hành động, chơng trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực
tham gia các chơng trình hành động cộng đồng.
b. Dạy và học chú trọng phơng pháp rèn luyện tự học.
Đặng Thái Sơn - Trờng : THCS Tân Hợp
5
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học : 2008 - 2009
Phơng pháp tích cực xem việc rèn luyện phơng pháp học tập cho học sinh không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy mà còn là một mục tiêu dạy học.
Trong xã hội hiện đại đang phat triển nhanh - vói sự bùng nổ thông tin, khoa học, ký
thuật, công nghệ phát triển nh vuc bão - Thì không thể nhồi nhét vào đầu học sinh khối l-
ợng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho học sinh phơng pháp dạy học ngay
từ các cấp dới và càng lên bậc cao càng phải chú trọng hơn nữa.
Trong phơng pháp học thì cốt lõi là phơng pháp tự học, nếu rèn luyện cho ngời học
có đợc phơng pháp và kỹ năng, thói quen và ý trí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học,
khôi dậy nội lực vốn có trong mỗi con ngời, kết quả học tập sẽ đợc nâng lên gấp bội. Vì
vậy, ngày nay ngời ta nhấn mạnh hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự
chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay
trong trờng phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có
sự hớng dẫn của giáo viên.
c. Tăng cờng học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, t duy của học sinh không thể đồng đều
tuyệt đối thì khi áp dụng phơng pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cờng độ,
tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập nhất là khi bài học đợc thiết kế thành một chuỗi công
tác độc lập.
áp dụng phơng pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn. Việc
sử dụng các phơng tiện công nghệ thông tin trong nhà trờng sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá
hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều đợc hình
thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trờng giao tiếp thầy - trò, trò
- trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên cong đờng chiếm lĩnh nội dung
học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân đợc bộc lộ,
khẳng định hay bác bỏ, qua đó ngời học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng
đợc vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của ngời thầy giáo.
Trong nhà trờng, phơng pháp học tập hợp tác đợc tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc
trờng. Đợc sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6
ngời. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề
gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ
Đặng Thái Sơn - Trờng : THCS Tân Hợp
6