ý nghĩa văn chương

ý nghĩa văn chương
(Hoài Thanh)
I - Gợi ý
1. Tác giả:
Hoài Thanh (1909-1982) là một nhà phê bình văn học xuất sắc. Sức hấp dẫn trong
những bài phê bình của Hoài Thanh không phải ở chiều sâu của hệ thống lập luận hay ở
các thuật ngữ được sử dụng một cách chính xác mà ở khả năng cảm thụ tinh tế, ở cách
trình bày vấn đề rất giản dị mà dí dỏm, sâu sắc. Ông tạo được một phong cách phê bình
riêng, thể hiện nổi bật trong cuốn Thi nhân Việt Nam − trong đó ông giới thiệu, phê bình và
tuyển chọn những tác giả ưu tú, những tác phẩm đặc sắc nhất của phong trào Thơ mới
(1932-1945).
2. Đại ý:
Bằng cách sử dụng những hình ảnh sinh động, những dẫn chứng gần gũi, xác thực,
Hoài Thanh đã lí giải một cách thuyết phục nguồn gốc (tình cảm, lòng vị tha) và ý nghĩa
của văn chương (sáng tạo cuộc sống, xây dựng và bồi đắp những tình cảm cao đẹp,...).
II − Giá trị tác phẩm
Về nguồn gốc của văn chương, quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng văn chương bắt
nguồn từ cuộc sống lao động. Lao động sáng tạo ra con người, đồng thời sáng tạo ra cái
đẹp, trong đó có văn chương − một loại hình nghệ thuật sử dụng chất liệu ngôn từ.
Hoài Thanh nói: "Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra
là thương cả muôn vật, muôn loài". Cội nguồn của cảm hứng sáng tạo là lòng yêu thương
con người, là sự xúc động nhân văn. Nói "cốt yếu" là nói yếu tố cơ bản nhất, lòng thương
người cũng chưa phải là tất cả các yếu tố tạo nên cảm hứng sáng tạo của nhà văn.
Đoạn tiếp theo, tác giả cho rằng: "Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình
vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống". Với quan điểm này,
Hoài Thanh đã đề cập những đặc tính cơ bản nhất của văn chương - tính phản ánh và tính
sáng tạo. ở đây, hình dung không mang nghĩa động từ (tưởng tượng ra) mà có nghĩa danh
từ (có thể hiểu như hình ảnh, kết quả của sự phản ánh, sự miêu tả trong văn chương). Cuộc
sống muôn hình vạn trạng, văn chương có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống đó để khi đọc tác
phẩm, có thể hiểu rõ hơn cuộc sống xung quanh mình, cả những phạm vi mà mình không
bao giờ tiếp cận được theo cách thức thông thường.
Không chỉ phản ánh, văn chương còn sáng tạo ra cuộc sống, chính xác hơn là sáng tạo
ra những giá trị tinh thần, những vẻ đẹp làm giàu cho cuộc sống. Phản ánh cuộc sống
thường ngày nhưng văn chương còn có thể phát hiện ra những vẻ đẹp mà một người bình
thường không nhận thấy được. Hơn thế nữa, văn chương còn dựng lên những hình ảnh,
những ý tưởng mà cuộc sống hiện tại chưa có hoặc chưa đủ mức cần có để mọi người phấn
đấu xây dựng, biến chúng thành hiện thực trong tương lai.
Theo Hoài Thanh, công dụng của văn chương là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha.
Đây cũng là một đặc tính quan trọng của văn chương. Qua những hình tượng đẹp, gợi cảm,
văn chương khơi gợi những tình cảm cao đẹp, tác động đến thế giới tinh thần của con
người, giúp con người phân biệt, nhận thức được cái tốt, cái xấu, từ đó sống đẹp, cao
thượng và giàu lòng vị tha hơn. Đó chính là sức mạnh tác động của văn chương đối với
nhân cách con người.
Ngoài công dụng mà Hoài Thanh nói đến, văn chương còn có nhiều công dụng khác
như: đem đến cho con người những kiến thức rất cơ bản, phong phú trên nhiều phương
diện của đời sống, giúp con người không chỉ nhận thức được cái đẹp mà còn có khả năng
sáng tạo ra cái đẹp.
Văn bản ý nghĩa văn chương của Hoài Thanh thuộc loại văn bản nghị luận văn chương
vì nội dung mà tác giả bàn đến là ý nghĩa văn chương. Đặc sắc của văn bản này là vừa có lí
lẽ, vừa có cảm xúc, hình ảnh. Có khi tác giả kể lại một câu chuyện bên ngoài (Người ta kể
chuyện đời xưa") nhưng cũng có khi, để làm cho những lập luận thêm sức thuyết phục, tác
giả tự đưa vào bài văn những hình ảnh của đời sống ("một người hàng ngày chỉ cặm cụi lo
lắng vì mình", cảnh núi non, hoa cỏ", "tiếng chim kêu, tiếng suối chảy"). Tác giả còn tưởng
tượng: "Nếu trong pho sử loài người xoá các thi nhân, văn nhân". Cách kết hợp hài hoà các
hình ảnh trong một bài văn nghị luận khiến cho bài văn thêm sinh động, giàu sức biểu đạt,
biểu cảm.