SKKN - Nâng cao chất lượng học tập của HS yếu kém môn Anh văn 7

Sáng kiến kinh nghiệm 2007
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO CHẤT LƯNG HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH YẾU KÉM MÔN ANH
VĂN 7

A. PHẦN MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Việc nâng cao chất lượng đối với bộ môn Anh văn tại các trường học ,
nhất là trường ở vùng nông thôn là một vấn đề quan trọng và cần thiết . Bởi
do điều kiện sinh sống , ngoài một buổi đến trường , các em còn phải lao
động phụ giúp gia đình, không có thời gian đầu tư cho bất kỳ môn học nào,
nhất là bộ môn Anh văn- không phải là tiếng mẹ đẻ. Cha mẹ các em thường
không có thời gian , không đủ trình độ để kềm cặp thêm ở nhà . Hơn nữa,
việc trang bò cơ sở vật chất,các phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc
dạy và học môn Anh văn ở trường nông thôn còn nhiều khó khăn.
Trong khi đó môn Anh văn ngày càng giữ vò trí quan trọng . Nó cần thiết cả
khi lên cấp ba và đại học, trong khi cấp hai là nền tảng để làm cơ sở cho
việc tiếp thu bài vở ở các cấp học sau này
- Qua dự giờ ở các lớp, qua khảo sát trực tiếp sản phẩm của học sinh ở khối
lớp mình đang giảng dạy, tôi thấy mỗi lớp thường có hơn 1/3 số học sinh yếu
kém bộ môn Anh văn ở đầu mỗi năm học.
2. Nước ta đang trong giai đoạn phát triển, đã gia nhập WTO, hoà mình
với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới, nên rất cần một lực lượng trí
thức trẻ, đông đảo, rộng khắp. Để có một lực lượng tài năng đồng đều đòi
hỏi người giáo viên phải tìm cách nâng cao chất lượng học tập cho những
học sinh yếu kém- một lực lượng khá đông đúc trong các trường học hiện
nay .
Đó là những nguyên nhân đã khiến tôi chọn đề tài:”Làm thế nào để nâng
cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn Anh văn?”
Nguyễn Thò Khánh Linh Trang
1
Sáng kiến kinh nghiệm 2007
B.PHẦN NỘI DUNG
I. LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ:
- Tìm biện pháp “ Nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém
môn Anh văn 7”là một vấn đề nan giải , rất cần thiết đối với đa số giáo viên
bộ môn nói chung, đặc biệt là bộ môn Anh văn 7 nói riêng. Vấn đề này đã
được giáo viên trong tổ thảo luận nhưng chưa tìm được biện pháp hữu hiệu
nhất. Vì thế, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Anh văn 7,
qua nhiều năm thực hiện tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm trong việc
dạy phụ đạo học sinh yếu kém có hiệu quả.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ :
- Trường THCS Long Trung là một trường thuộc vùng nông thôn , nên
học sinh vất vả, phải phụ giúp cha mẹ hàng ngày ngoài giờ học , trong khi
cha mẹ không hiểu biết về bộ môn Anh văn. Phần lớn các em là học sinh
nghèo , còn lam lũ, nhiều em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không người
quan tâm kềm cặp ở nhà. Qua thực tế ở trường, cụ thể là những bài kiểm tra
đònh kỳ(15 phút,1 tiết) , các bài thi do Phòng giáo dục , Sở giáo dục ra đề
chất lượng bộ môn Anh văn chưa cao. Trong khi một số em khá giỏi rất hứng
thú với phương pháp học Anh văn mới này thì một bộ phận những em yếu
kém vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng nên dễ dẫn đến việc các em trốn học ,
nghỉ học, hay chán nản không muốn học bộ môn này. Những học sinh yếu
kém khi tiếp xúc với hình thức đề kiểm tra hoặc đề thi , các em thường
không biết nội dung yêu cầu của đề bài. Ví dụ như: chuyển câu sang thể phủ
đònh hoặc nghi vấn ; chia động từ trong ngoặc; đặt câu hỏi cho từ gạch dưới
hoặc từ trong ngoặc. Với dạng bài tập đặt câu hỏi , đa số học sinh yếu kém
không biết cách làm bài, các em thường làm sai , hoặc bỏ trống, không ghi
gì cả…. Do đó làm cho tinh thần công tác của giáo viên sa sút vì số học sinh
yếu kém bộ môn còn nhiều, một số giáo viên dạy Anh văn còn hạn chế về
mặt thi đua cuối năm do chất lượng bộ môn chưa đạt.
- Trước tình hình trên đòi hỏi người giáo viên phải suy nghó bằng nhiều
cách để nâng cao chất lượng bộ môn ngày một cao hơn.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
- Bao gồm cả công tác tư tưởng và tổ chức quản lý lớp. Cả hai biện pháp
này không thể tách rời mà cần được sắp xếp đan chéo nhau , được phối hợp
Nguyễn Thò Khánh Linh Trang
2
Sáng kiến kinh nghiệm 2007
hài hoà có chủ đònh vì công tác tư tưởng là biện pháp hàng đầu, còn biện
pháp tổ chức quản lý là nhân tố quyết đònh.
1. CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG:
Như trên đã nói, đây là biện pháp hàng đầu để hỗ trợ cho biện pháp
quyết đònh là tổ chức và quản lý học sinh. Thế nên trong việc nâng cao chất
lượng học tập của học sinh yếu kém môn Anh văn đã coi trọng công tác tư
tưởng bằng các việc làm sau :
a. Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình:
Học sinh ở trường THCS Long Trung yếu kém môn Anh văn có nhiều
hoàn cảnh đặc biệt , nhiều em mồ côi , cha mẹ ly hôn, các em phải sang
ởvới ông bà , cô dì….Một số ít là con được nuông chìu quá mức, được cha mẹ
bao che các lỗi lầm.
Các em có những đặc điểm tâm lý riêng, thế nên tôi thường thăm dò hoàn
cảnh gia đình của các em qua sơ yếu lý lòch, bạn bè gần nhà, giáo viên chủ
nhiệm và tìm ra biện pháp giáo dục thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao trong
việc nâng cao chất lượng học tập của các em.
Chẳng hạn, năm học 2003-2004, em Hoàng Oanh (7A
4
) đầu năm được
xếp vào nhóm trung bình khá, vài tháng sau đó em lơi lỏng việc học, trở
thành học sinh yếu kém. Tìm hiểu tôi được biết ở nhà em chỉ sợ cha, chẳng
may cha em bò tai nạn vừa mất, em sống với mẹ tha hồ trốn tiết đi chơi với
bạn bè. Nắm được tình hình đó, tôi đã giải thích cho em biết rằng : cha em
mất đi thì trách nhiệm của em đối với mẹ em sau này càng nặng nề hơn. Do
đó bản thân em phải chăm học hơn . Tôi thường xuyên trò chuyện với em và
em đã có chuyển biến tốt hơn ở bộ môn Anh văn so với đầu học kỳ.
b. Duy trì sỉ số:
Đi học đầy đủ là điều kiện tất yếu để học sinh học tốt. Cần quan tâm đến
việc vắng mặt của học sinh trong lớp, vì phần lớn những học sinh trốn tiết ,
bỏ tiết là những em học yếu, chán học, sẽ có nguy cơ nghỉ học luôn. Những
trường hợp như thế , giáo viên bộ môn cần thông báo kòp thời cho giáo viên
chủ nhiệm để báo cho phụ huynh học sinh ngay, nhằm giúp các em chấn
chỉnh lại , đưa các em trở lại lớp học.
Như trường hợp em Minh Thiện – lớp 7A
4
(2003-2004), cha mẹ ly hôn ,
gia đình nghèo, em chán học và đã thôi học.
Hoặc em Vinh Quang – lớp 7A
5
(2004-2005), cha mẹ ly thân , em sống
với ông bà nội, gia đình nghèo, ngoài một buổi học ở lớp em còn phải đi bán
Nguyễn Thò Khánh Linh Trang
3
Sáng kiến kinh nghiệm 2007
vé số phụ giúp ông bà, có nhiều lúc em đi trễ hoặc cúp tiết vì vé số bán
chưa hết, gia đình lại thường xuyên buộc em phải nghỉ học luôn.
Hay em Minh Nhân – lớp 7A
1
(2004-2005) thường xuyên trốn học , gia
đình không hay biết. Ban Giám Hiệu nhà trường và Giám thò đã mời cha mẹ
các em vào và thông báo cho phụ huynh biết để quản lý con cái chặt chẽ
hơn.
c. Xây dựng tốt mối quan hệ Thầy trò:
Học sinh yếu kém thường mang nhiều mặc cảm. Các em có hai mặt tâm
lý đối nghòch nhau : một số em quậy phá, nghòch ngợm, trốn học , bỏ tiếtø và
một số em rút vào cái vỏ của mình qua những biểu hiện như : nhút nhát,
không phát biểu, xa lánh bạn bè, thầy cô.
Biện pháp cần đặt ra ở đây là giáo viên phải thường xuyên quan tâm đến
các em, gần gũi , trò chuyện, nâng đỡ các em, đôi lúc cũng phải cứng rắn
qû phạt các em.
Học sinh yếu thường phạm nhiều khuyết điểm kéo dài cả về học tập lẫn
đạo đức, chúng ta không thành kiến với các em , không vội vàng cho điểm
xấu mà phải tìm cách giúp đỡ để các em vượt qua khó khăn, ham thích học
tập hơn.
Như em Trãi- lớp 7A
2
(2003-2004) mất căn bản, tiếp thu bài chậm, lo sợ
khi giáo viên gọi đến. Đối với những em như Trãi, tôi thường có thái độ dòu
dàng, nâng đỡ , kềm cặp , bổ sung kiến thức cho em ngoài giờ.
Em Hoà – lớp 7A
1
có khả năng tiếp thu nhanh hơn em Trãi, nhưng lại lười biếng
trong học tập. Những em trong nhóm này đều được răn dạy theo cả hai biện
pháp”cứng rắn- nhẹ nhàng”, la rầy và động viên.
d. Nêu tấm gương sáng:
Chọn những em tiêu biểu nêu gương , mẫu cho các em noi theo. Khen
thưởng những em yếu kém có tiến bộ dù chỉ 0,25 điểm nhằm khích lệ , động
viên tinh thần của các em.
e. Tìm hiểu , đóng góp ý kiến với cha mẹ học sinh:
Nhà trường và gia đình là cầu nối quan trọng trong việc học tập của các
em . Cha mẹ phải thực sự là một “giáo viên” ở nhà , nhắc nhở các em chuẩn
bò bài, học bài và hướng dẫn làm bài tập nếu được.
Cha mẹ phải quan tâm đến con cái, phải sống lành mạnh cả về thể chất lẫn
tinh thần.
Giáo viên bộ môn ít có dòp gặp trực tiếp cha mẹ học sinh. Do đó, chúng ta
phải kòp thời báo những vi phạm của học sinh mình qua giáo viên chủ nhiệm để
Nguyễn Thò Khánh Linh Trang
4
Sáng kiến kinh nghiệm 2007
nhờ họ liên hệ phụ huynh , nếu cần có thể gặp gỡ họ trực tiếp để trao đổi một
số vấn đề có liên quan.
f. Tinh thần , trách nhiệm của người thầy:
Cũng như cha mẹ học sinh, người thầy cũng phải gương mẫu , là tấm gương cho
học sinh noi theo. Người thầy phải có tinh thần trách nhiệm cao, không thành
kiến bỏ rơi một học sinh nào . Luôn tìm tòi học hỏi không ngừng để cải tiến
phương pháp , dùng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau sao cho phù hợp
với từng đối tượng học sinh.
2. CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỌC SINH YẾU KÉM:
a. Đánh giá chất lượng học tập của học sinh:
Nhằm đánh giá đúng mức độ học tập của học sinh , vào đầu năm học nhà
trường thường tổ chức kiểm tra chất lượng đầu năm . Từ đó , giáo viên bộ môn
có thể phân học sinh ra làm 4 nhóm: giỏi - khá - trung bình – yếu kém.
Từ đó , giáo viên bộ môn lập danh sách theo dõi học sinh yếu kém , quan sát
hàng ngày , ghi nhận kết quả qua từng kỳ kiểm tra. Muốn theo dõi chất lượng
học tập của học sinh yếu kém một cách chính xác , giáo viên phải thực sự
nghiêm túc trong việc coi và chấm trả . Việc làm này có đúng đắn , chúng ta
mới nắm được các mặt tồn tại của học sinh để kòp thời phụ đạo bổ sung. Mỗi
giáo viên bộ môn đều có trong tay sổ “ Theo dõi sự tiến bộ của học sinh”.
STT
Họ và tên
học sinh
Kết quả
Đầu HKI
Giữa
HKI
Cuối
HKI
Giữa
HKII
Cuối
HKII
b. Phụ đạo học sinh yếu kém:
Đây là một công tác cần phải có đối với những học sinh yếu kém. Ngay
từ bài khảo sát chất lượng đầu năm và căn cứ vào tình hình học tập ở lớp dưới,
giáo viên bộ môn có thể lập danh sách những em dưới trung bình để có thể cho
vào lớp phụ đạo . Một học sinh yếu kém có tiến bộ hay không là nhờ vào sự
phối hợp nhòp nhàng giữa ba môi trường : nhà trường – gia đình – xã hội. Dựa
vào danh sách học sinh yếu kém của từng lớp, Ban Giám Hiệu nhà trường tổ
Nguyễn Thò Khánh Linh Trang
5
Sáng kiến kinh nghiệm 2007
chức một buổi họp mặt phụ huynh của những em yếu kém đó nhằm thông báo
cho phụ huynh về việc học tập của con em mình. Qua đó đa số phụ huynh đều
đồng tình với việc phụ đạo cho con em họ.
Nhờ có sự tổ chức quản lý của Ban Giám Hiệu nhà trường , việc dạy phụ
đạo cho học sinh yếu kém một phần nào đó cũng góp phần nâng cao chất lượng
học tập. Trong quá trình dạy phụ đạo, tôi thường phân chia các em yếu ra từng
nhóm khác nhau : yếu về từ vựng hay yếu về ngữ pháp.
Ở nhóm yếu về từ vựng, đa số các em không biết cách học từ vựng,
không biết từ loại của từ , học mà không nhớ rõ nghóa , hoặc nhớ nghóa mà
không thuộc từ . Đối với học sinh nhóm này, tôi yêu cầu các em mỗi ngày học
ba từ vựng. Vào 15 phút đầu giờ, tôi nhờ cán sự bộ môn và một số em học giỏi
trong lớp đi kiểm tra những em yếu từ vựng này và báo kết quả lại cho tôi . Đến
ngày học phụ đạo lần sau , tôi sẽ kiểm tra tất cả từ vựng mà tôi đã yêu cầu các
em học trong một tuần. Làm được như thế, đối với một em chòu học từ vựng một
cách nghiêm túc thì chẳng bao lâu lượng từ vựng trong trí nhớ của các em sẽ
được nâng lên rất nhiều.
Riêng các em yếu về ngữ pháp, tôi sẽ phụ đạo cho các em theo từng loại
hình bài tập khác nhau: chia động từ trong ngoặc, chuyển câu sang thể phủ đònh
hoặc nghi vấn, đặt câu hỏi với từ gạch dưới hoặc từ trong ngoặc… Trước khi đưa
ra dạng bài tập nào đó , tôi thường dành 15 phút đầu giờ để nhắc lại những kiến
thức cơ bản về phần ngữ pháp đó.
Chẳng hạn ,hôm nay tôi muốn yêu cầu học sinh làm bài tập chia động từ ở thì
quá khứ đơn, trước khi đưa lên bảng một số câu cụ thể , tôi nhắc lại phần lý
thuyết cơ bản.
*Thì quá khứ đơn( The Simple Past Tense):
Công thức :

Cách dùng: Để diễn tả một hành động hay một sự việc đã xảy ra tại một thời
điểm xác đònh ở quá khứ và chấm dứt trong quá khứ, thường đi kèm với các
trạng từ sau : last…, …ago, yesterday, before, in 2000…
Chú ý: Nếu động từ có qui tắc -----> ta thêm –ED
Nếu động từ bất qui tắc ----> ta chuyển sang cột hai trong bảng động từ
bất qui tắc.
Nhắc lý thuyết trước như thế thì khi áp dụng làm bài tập , nhìn vào câu thấy có
những từ đi kèm như :yesterday, last Sunday, three years ago…thì các em dễ
dàng chia động từ được ngay.
Nguyễn Thò Khánh Linh Trang
6
S+ V
ed
/ V
2
+ O