Pháp luật đại cương

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Pháp luật đại cương

Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
Vấn đề ô nhiễm môi trường nước đang là một đề tài nóng bỏng của toàn
nhân loại.Nó đã, đang và sẽ làm nguy hại đến toàn thể loài người chúng ta. Nó
bị xâm hại và tổn thương nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động
của con người, do sự thờ ơ thiếu ý thức, do những nhu cầu tức thời của cá nhân,
tập thể… Gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho loài người trong đó điển
hình là Việt Nam. Chắc có lẽ điều này sẽ gây một sự chú ý hay có thể là một
suy nghĩ trong mỗi chúng ta nhĩ! Chúng ta với trách nhiệm của một công dân
sống trong một đất nước hòa bình, yêu chuộng tự do và công lý, yêu chuộng môi
trường xanh, là một con người bé nhỏ của trái đất trong vũ trụ bao la.Chính vì
thế, chúng ta còn chần chừ gì nữa! Hãy hành động thôi, hãy giữ lấy màu xanh
của đất nước, màu xanh của trái đất, hãy góp một phần sức lực dù là nhỏ bé, hãy
tiếp thêm vào đó một tí tài nằng dù là không lớn lắm để bảo vệ môi trường cho
ngày hôm nay và muôn đời sau. Tôi thiết nghĩ bạn là người quan tâm đến môi
trương nước. Xin hãy hành động…!!!
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 1
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong môi trường sống nói chung, vấn đề bảo vệ và cung cấp nước sạch là
vô cùng quan trọng. Đồng thời với việc bảo vệ và cung cấp nước sạch, việc thải
và xử lý nước thải trước khi đổ vào nguồn là một vấn đề bức xúc đối với toàn
thể loài người.
Trong những năm gần đây,cùng với sự phát triển của nền công ghiệp nước
ta, tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng đến mức báo động. Do đặc thù
của nền công nghiệp mới phát triển, chưa có sự quy hoạch tổng thể và nhiều
nguyên nhân khác nhau như: điều kiện kinh tế của nhiều xí nghiệp còn khó
khăn, hoặc do chi phí xử lý ảnh hưởng đến lợi nhuận nên hầu như chất thải công
nghiệp của nhiều nhà máy chưa được xử lý mà thải thẳng ra môi trường. Mặt
khác nước ta là một nước đông dân, có mật độ dân cư cao, nhưng trình độ nhận
thức của con người về môi trường còn chưa cao, nên lượng chất thải sinh hoạt
cũng bị thải ra môi trường ngày càng nhiều.Điều đáng quan tâm là do pháp luât
viêt nam chưa có những hình phạt xác đáng và biện pháp đúng đắng để bảo vệ
môi trường nước. Chính lẽ đó dẫn tới sự ô nhiễm trầm trọng của môi trường
sống, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của đất nước, sức khỏe, đời sống
của nhân dân cũng như vẻ mỹ quan của khu vực.
Trong đó, ô nhiễm nguồn nước là một trong những thực trạng đáng ngại
nhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời. Ngày
nay vấn đề xử lý nước và cung cấp nước sạch đang là một mối quan tâm lớn của
nhiều quốc gia, nhiều tổ chức xã hội và chính bản thân mỗi cộng đồng dân cư.
Và đây cũng là một vấn đề cấp bách cần giải quyết của nước ta trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Nhằm mục đích góp phần vào việc bảo
vệ môi trường sống của con người,nên em chọn đề tài “PHÁP LUẬT VỚI Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC”.Em hy vọng qua bài tiểu luận này sẽ tác động
một phần nào đó vào ý thức của toàn thể loài người về môi trường nước, sẽ đã
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 2
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
thông vào tư tưởng và giúp họ có một cái nhìn thông thoáng hơn về môi trường
nước.
II.MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
1.1Mục đích
- Nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên
- Tập cho sinh viên bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học
- Cho thấy tầm quan trọng của môi trường nước
- Làm rò hơn về pháp luật viêt nam với môi trường nước
1.2Yêu cầu
- Nêu ra phần tổng quan về thực trạng môi trường nước hiện nay
- Đưa ra đường lối của đảng và pháp luật của nhà nước
- Giải pháp đẻ bảo vệ môi trường nước
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề ô nhiễm môi trường nước,
pháp luât đối với ô nhiễm môi trường nước và biện pháp khắt phục.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tiềm hiểu môi trường nước với pháp luật trong phạm vi cả nước đặc biệt
quan tâm nhiều hơn đối với các thành phố lớn
V. NHỮNG ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI
- Nâng cao nhận thức của con người về vấn đề ô nhiễm môi trường nước
- Giúp hiểu biết thêm về pháp luật với môi trường nước
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích, tổng hợp, phân loại…
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp tiềm kiếm, thu thập thông tin
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 3
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
B.NỘI DUNG
I. CƠ SỠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1Cơ sở lý luận
1.1Khái niệm ô nhiêm môi trường nước
Theo hiến chương châu Âu về nước, định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến
đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và
gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ
ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa
vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại, kể cả xác
chết của chúng.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ
yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông vào môi trường nước.
1.2. Đường lối của đảng
Quan điểm chỉ đạo của Đảng Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn
mạnh: Bảo vệ môi trường nước là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội; Kết hợp chặt chẽ giữa ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm
với khôi phục và bảo vệ môi trường ; Phát triển “năng lượng sạch”, “sản xuất
sạch” và “tiêu dùng sạch”; Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải
pháp ứng phó với quá trình ô nhiễm môi trường nuớc; Bảo vệ và sử dụng hợp lý,
có hiêu quả. Đặc biệt chú trọng phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền
vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược...
Trong bài học kinh nghiệm về phát triển nhanh và bền vững, Đảng ta chỉ rõ:
phát triển nhanh phải đi đôi với nâng cao tính bền vững, hai mặt tác động lẫn
nhau, được thể hiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả tầm ngắn hạn và dài hạn;
Tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều
rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh
tế tri thức; Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 4
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc
làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói,
giảm nghèo; Từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng; Phải rất
coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển...
Với chiến lược phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, Đảng ta đề
ra các quyết sách gắn nhiệm vụ bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế-xã hội;
Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Thực hiện nghiêm lộ
trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về
bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử lý các hành vi vi
phạm. Nhà nước tăng đầu tư đồng thời có các cơ chế, chính sách ưu đãi để đẩy
mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực bảo vệ môi trường nước.
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Bảo
vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ
trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ
sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là
nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường . Kết hợp
phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững.
Bảo vệ môi trường cần được gắn với trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân
và mọi người dân theo nguyên tắc "mình vì mọi người, mọi người vì mình" là
tuyệt đối đúng. Văn hóa môi trường cần được sớm hình thành bên cạnh văn hóa
công sở, văn hóa thôn xóm, văn hóa doanh nghiệp.
Thành công của công tác bảo vệ môi trường là giải quyết tốt hàng loạt mâu
thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, cục bộ và tổng thể. Công tác này đòi hỏi
phải tập trung, kiên trì, giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, tiến hành đồng
bộ các biện pháp một cách thường xuyên, liên tục với quyết tâm cao
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 5
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
nhất. Bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm quyền con người được sống trong
môi trường trong lành, an toàn. An ninh sinh thái là một bộ phận của an ninh
quốc gia. Bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh sinh thái và chủ động ứng phó
với biến đổi khí hậu là góp phần giữ vững và tăng cường an ninh quốc gia. Vì
vậy, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn mang tính
toàn cầu; là yếu tố bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc gia, nâng cao khả
năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đòi hỏi phải thay đổi từ
thói quen, nếp nghĩ, tâm lý đến hành động của từng người, cộng đồng của từng
quốc gia và toàn thế giới. Chính những điều đó hình thành nên đạo đức và nhân
văn môi trường và là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh trong thời đại mới.
1.2. Pháp luật của nhà nước
THEO LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
SỐ 52/2005/QH11 NGÀY 29 THÁNG 11 NĂM 2005 ĐÃ QUY ĐỊNH NHƯ SÂU:
Điều 57. Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển
1. Nguồn thải từ đất liền, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, khu
dân cư ven biển, trên biển, trên đảo phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có
giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường biển.
2. Chất thải và các yếu tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông, vận tải, khai thác trên biển phải được
kiểm soát và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.
3. Dầu, mỡ, dung dịch khoan, hoá chất và các chất độc hại khác được sử
dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau khi sử dụng
phải được thu gom, lưu giữ trong thiết bị chuyên dụng và phải được xử lý theo
quy định về quản lý chất thải nguy hại.
4. Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hoà
xã hội Chủ Nghiã Việt Nam
Điều 59. Nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 6
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
1. Bảo vệ môi trường nước sông là một trong những nội dung cơ bản của
quy hoạch khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước trong lưu vực sông.
2. Các địa phương trên lưu vực sông phải cùng chịu trách nhiệm bảo vệ môi
trường nước trong lưu vực sông; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do tài
nguyên nước trong lưu vực sông mang lại và bảo đảm lợi ích cho cộng đồng dân
cư.
Điều 60. Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông
1. Nguồn thải trên lưu vực sông phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải
pháp kiểm soát, xử lý trước khi thải vào sông.
2. Chất thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao
thông vận tải, khai thác khoáng sản dưới lòng sông và chất thải sinh hoạt của các
hộ gia đình sinh sống trên sông phải được kiểm soát và bảo đảm yêu cầu về bảo
vệ môi trường trước khi thải vào sông.
3. Việc phát triển mới các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư
tập trung trong lưu vực sông phải được xem xét trong tổng thể toàn lưu vực, có
tính đến các yếu tố dòng chảy, chế độ thuỷ văn, sức chịu tải, khả năng tự làm
sạch của dòng sông và hiện trạng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phát triển đô
thị trên toàn lưu vực.
Điều 61. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi
trường nước trong lưu vực song
1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm sau đây:
a) Công khai thông tin các nguồn thải ra sông;
b) Kiểm soát nguồn thải vào nước sông và xử lý các trường hợp vi phạm tiêu
chuẩn môi trường;
c) Phối hợp với cơ quan hữu quan trong việc xác định đối tượng gây thiệt
hại về môi trường và giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường trong trường
hợp đối tượng bị thiệt hại thuộc các địa phương khác trên lưu vực.
2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên thượng nguồn dòng sông có trách nhiệm phối
hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên hạ nguồn dòng sông trong việc điều tra
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 7
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
phát hiện, xác định nguồn gây ô nhiễm nước sông và áp dụng các biện pháp xử
lý.
Trường hợp có thiệt hại về môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra
thiệt hại có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan để tổ chức việc điều
tra, đánh giá về mức độ thiệt hại và yêu cầu các đối tượng gây thiệt hại phải bồi
thường.
3. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi phát sinh nguồn thải có trách nhiệm áp dụng
các biện pháp cưỡng chế buộc đối tượng gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn
phải thực hiện nghĩa vụ khắc phục và bồi thường thiệt hại theo quy định của
pháp luật.
Điều 62. Tổ chức bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông
1. Việc điều phối hoạt động bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông nằm trên
địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện theo quy
định của Thủ tướng Chính phủ.
2. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm thực hiện các
biện pháp bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện quy định
của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông.
Điều 63. Bảo vệ môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch
1. Nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch phải được điều tra, đánh giá trữ lượng,
chất lượng và bảo vệ để điều hoà nguồn nước
2.Không được đổ đất, đá, cát, sỏi, chất thải rắn, nước thải chưa qua xử lý đạt
tiêu chuẩn môi trường và các loại chất thải khác vào nguồn nước mặt của hồ,
ao,kênh,mương, rạch.
4. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức điều tra, đánh giá trữ lượng,
chất lượng và lập quy hoạch bảo vệ, điều hoà chế độ nước của hồ, ao, kênh,
mương, rạch; lập và thực hiện kế hoạch cải tạo hoặc di dời các khu, cụm nhà ở,
công trình trên hồ, ao, kênh, mương, rạch gây ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn
dòng chảy, suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước và làm mất mỹ quan đô thị.
Điều 65. Bảo vệ môi trường nước dưới đất
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 8
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
1. Việc bảo vệ môi trường trong thăm dò, khai thác nước dưới đất được quy
định như sau:
a) Nghiêm cấm việc đưa vào nguồn nước dưới đất các loại hoá chất, chất
độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và các tác nhân độc hại khác
đối với con người và sinh vật;
b) Có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước dưới đất qua giếng khoan
thăm dò, khai thác nước dưới đất; cơ sở khai thác nước dưới đất có trách nhiệm
phục hồi môi trường khu vực thăm dò, khai thác; các lỗ khoan thăm dò, lỗ khoan
khai thác không còn sử dụng phải được lấp lại theo đúng quy trình kỹ thuật để
tránh làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất.
2. Dự án khai thác khoáng sản, dự án khác có sử dụng hoá chất độc hại, chất
phóng xạ phải có biện pháp bảo đảm không để rò rỉ, phát tán hoá chất, chất thải
độc hại, chất thải phóng xạ, sinh vật nhiễm bệnh vào nguồn nước dưới đất.
3. Kho chứa hoá chất, cơ sở xử lý, khu chôn lấp chất thải nguy hại phải được
xây dựng bảo đảm an toàn kỹ thuật, có biện pháp ngăn cách hoá chất độc hại
ngấm vào nguồn nước dưới đất.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức điều
tra, đánh giá, quan trắc định kỳ trữ lượng, chất lượng nước dưới đất.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua,các hành vi gây ô nhiễm môi trường nước đã lên mức
báo động. Có lẽ con số khiến nhiều người lo lắng hơn cả là cơ quan chức năng
đã phát hiện đến hơn 3.000 vụ việc, tội phạm vi phạm pháp luật về môi trường
tăng đến 275% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, có 1.034 doanh nghiệp,
2.096 cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường. 62 vụ đã bị khởi
tố với hơn 106 bị can.Thật ra, tội phạm về môi trường đang gia tăng đến mức
báo động không phải là chuyện “cây kim trong bọc lâu ngày lòi ra”. Bởi hầu như
không
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 9
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
ngày nào mà báo chí không có thông tin về tình trạng xâm hại môi trường.
Do vậy, con số hơn 3.000 vụ việc mà cơ quan cảnh sát đã nêu không phải là con
số kinh hoàng. Trên thực tế số vụ việc vi phạm có lẽ còn cao hơn rất nhiều
nhưng vì nhiều lý do chưa bị phát hiện. Điều đáng lo là bên cạnh số vụ việc vi
phạm trên, dù không thấy con số thiệt hại tính bằng tiền, nhưng ai cũng biết mối
nguy hại vô cùng lớn mà chúng ta đang gánh chịu.
Thiệt hại đó không chỉ dừng lại ở kinh tế mà đó còn là sức khoẻ cộng đồng
và lòng tin của nhân dân. Nó cũng cho thấy một nền kinh tế phát triển thiếu tính
bền vững khi một bộ phận không nhỏ cá nhân, doanh nghiệp đã vì lợi nhuận mà
xem nhẹ sự trường tồn của môi trường. 62 vụ việc bị khởi tố so với con số
3.000 vụ việc đã bị phát hiện lại tiềm ẩn một mối lo khác. Đó là sự thiếu cương
quyết của pháp luật đối với loại tội phạm vô cùng nguy hiểm này. Nó khiến ta
liên tưởng đến vụ Vedan, một vụ vi phạm pháp luật về môi trường điển hình đã
bị phát hiện quả tang nhưng chỉ bị xử lý hành chính.
Hai năm qua, những người đã cố tình vi phạm pháp luật đó không chỉ nhởn
nhơ ngoài vòng pháp luật mà còn mặc sức kỳ kèo trả giá với những người nông
dân đáng thương về số tiền bồi thường. Hay một Hào Dương (TPHCM) đã
nhiều lần vi phạm, đã bị phát hiện, nhưng tiếp tục tái phạm. Cá chết trắng ao hồ,
ruộng vườn không canh tác được, sông suối bị bức tử…
Người nông dân thì trắng tay, chưa kể sức khoẻ cộng đồng bị xâm hại
nghiêm trọng. Tất cả những thiệt hại hiển hiện ngay trước mắt chúng ta đó vì
sao không thể là bằng chứng để chứng minh tội phạm? Thật đáng rùng mình nếu
trong hàng ngàn vụ không bị khởi tố đó có một vài vụ giống Vedan. Sự so sánh
này có vẻ khập khiểng.
Thế nhưng, nó cũng cho thấy một thực tế là pháp luật về môi trường của
chúng ta còn quá nhiều kẽ hở. Đó là việc bình thường, bởi pháp luật phải va
chạm với cuộc sống thì mới được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp. Điều không
bình thường là đã hơn 2 năm trôi qua, chúng ta dường như vẫn chưa làm gì đủ
để ngăn chặn sự xuất hiện của những Vedan khác. Những khiếm khuyết của
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 10
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
pháp luật ngày càng bị những đối tượng vi phạm, cố tình vi phạm tận dụng triệt
để trước sự bất lực của người dân.
Tình trạng vệ sinh môi trường nước nhìn chung còn rất yếu kém và đang
xuống cấp nghiêm trọng. Các dịch bệnh mấy năm gần đây bùng phát trên diện
rộng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và cản trở tốc độ phát triển kinh
tế- xã hội.”
Đó là ý kiến của Thứ trưởng Bộ Xây dựng Trần Ngọc Chính đưa ra tại Hội
thảo "Vệ sinh môi trường với quản lý tổng hợp tài nguyên nước" - do Hội Cấp
thoát nước Việt Nam thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ
chức ngày 6/6/2010 tại Hà Nội.
Mặc dù vấn đề quản lý vệ sinh môi trường nước, đặc biệt là các lưu vực
sông, ở nước ta đã được đưa ra nhưng việc thực hiện chưa đồng bộ và triệt để.
Chính vì thế nên chất lượng nước ở nhiều con sông như sông Nhuệ, sông Đáy,
sông Đồng Nai... đã suy thoái nhanh.
Hậu quả là không thể cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân cũng như
không thể cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp và các hoạt động dịch vụ
khác.
Bên cạnh đó, còn do ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của con người đang
sinh sống trong lưu vực cũng làm cho các dòng sông nhanh chóng xuống cấp.
Tại Hội thảo, nhiều ý kiến cho rằng đứng trên phương diện quản lý tổng hợp
tài nguyên nước, việc xử lý hiệu quả các dòng sông chỉ trong phạm vi ranh giới
hành chính là rất khó, và chưa có biên pháp xử lý đích đáng.
II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
1 THỰC TRẠNG
1.1.Thực trạng hiện nay
Nước là một trong những tài nguyên quan trọng không thể thiếu, và là nguồn
sống của bất cứ một loài sinh vật nào sinh sống trên trái đất, cụ thể hơn nó quyết
định sự tồn tại của một quốc gia, một dân tộc. Thế nhưng, ngày nay, xã hội ngày
càng phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng cao thì dường như
người ta đang quên đi việc gìn giữ và bảo tồn nguồn nước sạch, quyết định đến
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 11
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
sự sống của mỗi chúng ta. Việc lạm dụng các loại hóa chất trong sản xuất, chế
biến, sử dụng vô tội vạ các loại thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp khiến
nguồn nước của chúng ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Theo công bố kết quả kiểm tra của Bộ Tài Nguyên và Môi trường, hiện
có đến 40% các khu công nghiệp trên cả nước vi phạm pháp luật về môi
trường.
Ở miền Bắc, ngoài các khu công nghiệp Phú Minh, Quang Minh (Hà Nội),
Thụy Vân (Phú Thọ)… gây bức xúc trong dư luận vì hành vi xả thải ra môi
trường, thì riêng trong năm 2010, các đoàn kiểm tra của Tổng cục Môi trường đã
phát hiện, có bốn khu đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng
chưa đạt yêu cầu và bảy khu công nghiêp xã nước thải chưa đạt tiêu chuẩn.
Một điều tưởng như mâu thuẫn, nhưng lại rất... “hợp thời”, đó là tình trạng ô
nhiễm nước xảy ra đặc biệt nghiêm trọng ở các đô thị lớn của chúng ta như Hà
Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Đây là hai đô thị lớn với rất nhiều sông ngòi, kênh
rạch chạy trong và xung quanh thành phố. Tuy nhiên, ở 2 thành phố này, nước
thải sinh hoạt phần lớn không có hệ thống xử lý tập trung mà đều xả trực tiếp ra
sông, hồ, kênh, mương. Tổng lượng nước thải của thành phố Hà Nội, theo báo
cáo của UB KHCN và MT lên tới 300.000-400.000 m
3
/ngày cộng với lượng rác
thải sinh hoạt chưa thu gom được... đang ngày ngày được “vô tư” xả xuống các
khu đất, ven hồ, xuống sông, hồ, kênh, mương trong nội thành. Vì vậy chỉ số
BOD, oxy hòa tan, các chất NH
4
, NO
2
ở các sông, hồ, kênh, mương nơi đây đều
vượt quá quy định cho phép gấp nhiều lần.
Cũng theo bản báo cáo của ủy ban này thì: Lượng nước tạo ra trong lãnh thổ
nước ta chỉ chiếm khoảng 37,5%, số còn lại phụ thuộc vào nguồn nước từ lãnh
thổ các quốc gia trên thượng nguồn sông Mê Kông, sông Mã, sông Hồng... chảy
vào. Riêng trữ lượng nguồn nước ngầm cũng chỉ ở mức trung bình so với các
nước trên thế giới
Đáng chú ý, một đơn vị xả nước thải vượt quy chuẩn trên mười lần và ba
đơn vị xả thải vượt quy chuẩn từ hai tới dưới năm lần.
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 12
Pháp luật đại cương GVGD: Bùi Phước Ý
Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã
công bố hàng loạt khu công nghiệp xả thải gây ô nhiễm môi trường. Điển hình là
các khu công nghiệp Cát Lái 2, Hiệp Phước, Tân Tạo, Tân Thới Hiệp, Tây Bắc
Củ Chi và Bình Chiểu, với lưu lượng nước xả thải trên 1.000 m3/ngày đêm.
Tại Bình Dương, đoàn thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phát hiện
14 trong tổng số 21 khu công nghiệp tại địa phương này xả thải gây ô nhiễm môi
trường.
Trong đó, tám khu xả thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải
cho phép hơn 10 lần gồm: Bình Đường, Sóng Thần 2, Tân Đông Hiệp A, Tân
Đông Hiệp B, Đồng An 1, Mỹ Phước 3, Nam Tân Uyên và Việt Hương 2; 3/21
khu xả thải vượt chuẩn cho phép từ 5 đến dưới 10 lần gồm VSIP 2, Mỹ Phước 1,
Mai Trung...
Tại Bà Rịa- Vũng Tàu, Đoàn thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phát
hiện 2 khu công nghiệp xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép là Phú Mỹ 1 và
Mỹ Xuân A2.
Tại "điểm nóng" Tân Hải, huyện Tân Thành, trong 22 doanh nghiệp chế biến
hải sản thì chỉ có 2 doanh nghiệp có hệ thống xử lý có nước thải đạt yêu cầu.
Trước đó, từ cuối năm 2010 và đầu năm 2011, khi tái kiểm tra 19 cơ sở chế
biến hải sản, Sở Tài nguyên Môi trường Bà Rịa- Vũng Tàu đã phát hiện 17
doanh nghiệp chưa hoàn thành hệ thống xả thải bảo vệ môi trường và xử phạt
các DN trên 911 triệu đồng…
Theo một lãnh đạo Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vẫn
còn nhiều bất cập trong việc tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường của
SVTH: Vũ Thị Phi Lốt Trang 13

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Pháp luật đại cương