Lịch sử Việt Nam toàn tập

LỊCH SỬ VIỆT NAM
Dân tộc Việt Nam anh hùng đã trải qua hơn bốn ngàn nǎm lịch sử dựng nước và giữ
nước. Với ý chí quật cường ông cha ta đã viết nên những trang sử vàng chói lọi làm
vẻ vang cho dân tộc ta, đất nước ta.
Quá khứ và hiện tại, lịch sử và cảnh quan, thiên nhiên và con người hoà quyện nhau
như đưa ta về cội nguồn ngàn nǎm bất khuất của dân tộc để tìm hiểu, để khám phá,
để tin tưởng ở khí phách, tài trí, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, ý
thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, truyền thống vǎn hiến và ý chí thống nhất đất
nước của nhân dân ta.
Nhân dịp Giỗ tổ Hùng Vương, xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn chuyên đề Các
triều đại Việt Nam qua từng thời kỳ lịch sử. Các bạn sẽ có dịp tìm hiểu sâu hơn nữa
quá trình phát triển kế tiếp nhau của các triều đại, các ông vua bà chúa từ thời kỳ đầu
dựng nước của các vua Hùng đến vị vua cuối cùng Bảo Đại để chúng ta - con cháu
của một dân tộc anh hùng, thế hệ trẻ Việt Nam phải biết hơn ai hết nguồn gốc và lịch
sử dân tộc với những ông "vua sáng tôi hiền" có tài nǎng làm rạng rỡ trang sử vàng
truyền thống của dân tộc.
Thời các vua Hùng (2897-258 trước công nguyên) nước ta gọi là Vǎn Lang. Thời
Thục An Dương Vương (257-207 trước công nguyên) gọi là Âu Lạc. Thời nhà
Đinh (968-980) dẹp xong loạn 12 sứ quân, lập nên một nước độc lập, lấy tên là
Đại Cồ Việt. Sang thời Lý đổi là Đại Việt. Đến thời Nguyễn, vua Gia Long
Nguyễn Ánh, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, đổi tên là nước Việt Nam. Một chi
tiết khá lý thú là từ 500 nǎm trước, ngay trang mở đầu tập "Trình tiên sinh quốc
ngữ" của Nguyễn Bình Khiêm có ghi "Việt Nam khởi tố xây nền" khẳng định tên
nước ta là Việt Nam. Một sự tiên đoán chính xác.
Cư dân cổ xưa ở nước ta là người Lạc Việt. Họ từ bờ biển Phúc Kiến (Trung
Quốc) di cư sang. Hàng nǎm, theo gió mùa, họ vượt đến các miền duyên hải ở
phương Nam như Hải Nam, vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mã (Việt Nam).
Họ thường tự sánh mình với loài chim Lạc mà hàng nǎm, đầu mùa lạnh, chim
cũng rời vùng biển Giang Nam (Trung Quốc) mà bay về Nam, rồi đến mùa nắng
gió nồm, chim lại trở về Giang Nam. Vì thế, người Việt lấy chim Lạc làm vật tổ.
Cái tên của vật tổ ấy đã trở thành tên của thị tộc. Sau nhiều nǎm vượt biển như
vậy, người Lạc Việt đã ở lại miền Bắc Việt Nam. Họ lấn lướt và đồng hoá với
người Anh-đô-nê-diêng bản địa, phát triển theo dọc các sông lớn và chiếm hầu hết
những miền đất trung du Bắc Bộ, như Mê Linh, Tây Vu (Vĩnh Phúc), Liên Lâu
(Bắc Ninh) trung du Thanh Hoá, Nghệ An và Đông Sơn (gần Hàm Rồng, Thanh
Hoá).
Nước Việt Nam ở Đông Nam Châu Á, đông và nam giáp biển, tây giáp Lào, Cam-
pu-chia, bắc giáp Trung Quốc. Diện tích Việt nam hiện nay khoảng 329.6000km
vuông. Dân số buổi đầu dựng nước chừng 50 vạn người. Đến thời Lý - Trần,
chừng hơn 5 triệu và nay hơn 70 triệu dân.
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều dân tộc. Ngoài người Kinh còn có khoảng 60
dân tộc khác nhau cùng sinh sống. Cǎn cứ vào ngôn ngữ, chữ viết ta có thể phân
bố các thành phần dân tộc như sau:
1. Tiếng Môn - Khơme. Gồm nhiều nhóm người ở Tây Bắc, Tây Nguyên,
1
Quảng Trị v.v...
2. Tiếng Thái gồm người Thái Tây Bắc, Thượng du, Thanh Hoá, Nghệ An,
khu Việt Bắc, Quảng Ninh. Ngoài ra còn có nhóm người Giấy, Cao Lan, Lự
v.v...
3. Tiếng Anh-đô-nê-diêng: Gồm người Chàm, Gia rai, Ê-đê (Tây Nguyên).
4. Tiếng Mèo - Dao: Gồm người Mèo, Dao (Việt Bắc, Hoà Bình, Thanh Hoá).
5. Tiếng Tạng - Miến: gồm người Lô Lô (Hà Giang) Hà Nhì, La Khụ, Cống,
Xi La (Tây Bắc).
6. Tiếng Hán: Người Hoa (Quảng Ninh), Sán Dìu (Bắc Giang, Bắc Cạn, Thái
Nguyên v.v...)
- Truyền thuyết Kinh Dương Vương
- Nước Vǎn Lang và các Vua Hùng
- Nhà Thục và nước Âu Lạc
- Nhà Triệu và nước Nam Việt
TRUYỀN THUYẾT KINH AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ HỒNG BÀNG THỊ
(2879-258 trước Công nguyên)
Theo truyền thuyết thì thuỷ tổ dân tộc ta là Kinh Dương Vương, hiện còn có mộ
tại làng An Lữ , Thuận Thành, Bắc Ninh.
Nguyên Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam
đến núi Ngũ Linh (Hồ Nam, Trung Quốc) đóng lại đó rồi lấy con gái bà Vũ
Tiên, sau đó sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc
Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc
và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương. Kinh
Dương Vương làm vua vào quãng nǎm Nhâm Tuất (2879 trước công nguyên) và
lấy con gái Thần Long là vua hồ Động Đình sinh được một con trai đặt tên là
Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân, sau lấy con gái Đế Lai là
Âu Cơ sinh một bọc trǎm trứng, trǎm trứng ấy nở thành trǎm con trai. Một ngày
Long Quân nói với Âu Cơ rằng: "Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thuỷ
hoả khác nhau, không ở cùng nhau được". Hai người bèn chia con mà ở riêng.
Nǎm chục người theo mẹ về núi, nǎm chục người theo cha về biển, chia nhau
thống trị các xứ đó, đó là thuỷ tổ của các nhóm Bách Việt. Người con trưởng
trong số các con theo mẹ lên Phong Sơn, được tôn làm vua gọi là Hùng Vương.
TRUYỀN THUYẾT KINH AN DƯƠNG VƯƠNG
VÀ HỒNG BÀNG THỊ
(2879-258 trước Công nguyên)
Theo truyền thuyết thì thuỷ tổ dân tộc ta là Kinh Dương Vương, hiện còn có mộ tại
làng An Lữ , Thuận Thành, Bắc Ninh.
Nguyên Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến
núi Ngũ Linh (Hồ Nam, Trung Quốc) đóng lại đó rồi lấy con gái bà Vũ Tiên, sau đó
sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh
2
truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục
làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương làm vua
vào quãng nǎm Nhâm Tuất (2879 trước công nguyên) và lấy con gái Thần Long là
vua hồ Động Đình sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua
xưng là Lạc Long Quân, sau lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh một bọc trǎm trứng,
trǎm trứng ấy nở thành trǎm con trai. Một ngày Long Quân nói với Âu Cơ rằng: "Ta
là giống Rồng, mình là giống Tiên, thuỷ hoả khác nhau, không ở cùng nhau được".
Hai người bèn chia con mà ở riêng. Nǎm chục người theo mẹ về núi, nǎm chục
người theo cha về biển, chia nhau thống trị các xứ đó, đó là thuỷ tổ của các nhóm
Bách Việt. Người con trưởng trong số các con theo mẹ lên Phong Sơn, được tôn
làm vua gọi là Hùng Vương.
NƯỚC VĂN LANG VÀ CÁC VUA HÙNG
Theo sử cũ thì nước Vǎn Lang chia làm 15 bộ:
1. Vǎn Lang (Bạch Hạc, Phú Thọ)
2. Châu Diên (Sơn Tây)
3. Phúc Lộc (Sơn Tây)
4. Tân Hưng (Hưng Hoá - Tuyên Quang)
5. Vũ Định (Thái Nguyên - Cao Bằng)
6. Vũ Ninh (Bắc Ninh)
7. Lục Hải (Lạng Sơn
8. Ninh Hải (Quảng Ninh)
9. Dương Tuyến (Hải Dương)
10.Giao Chỉ (Hà Nội - Hưng Yên, Nam Đình, Ninh Bình)
11.Cửu Chân (Thanh Hoá)
12.Hoài Hoan (Nghệ An)
13.Cửu Đức (Hà Tĩnh)
14.Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị)
15.Bình Vǎn (?)
Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ) đặt tướng vǎn là Lạc Hầu,
tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quang Lang, con gái vua gọi là Mỵ
Nương, các quan nhỏ gọi là Bồ Chính.
Thông qua những truyền thuyết trong 15 bộ lạc trên, bộ lạc Vǎn Lang mạnh nhất.
Bộ lạc này có vị thủ lĩnh tài ba, thu phục được các bộ lạc khác và trở thành thủ lĩnh
liên minh các bộ lạc rồi chuyển thành người cầm đầu cả 15 bộ lạc. Vĩ thủ lĩnh lỗi
lạc ấy gọi là vua Hùng, cha truyền con nối.
Cả nước hồi ấy chia ra 15 bộ. Đứng đầu mỗi bộ là Lạc tướng, cũng cha truyền con
nối. Dưới bộ là các công xã nông thôn, đứng đầu là Bồ Chính (già làng). Mỗi công
xã có một ngôi nhà chung để làm nơi hội họp và sinh hoạt vǎn hoá, tín ngưỡng.
Nhà nước Vǎn Lang của các vua Hùng đơn giản, mới hình thành nhưng đã cố kết
được lòng người. Từ tình cảm cộng đồng dẫn đến ý thức cộng đồng. Họ bước đầu
hiểu được mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người, thấy được sức mạnh của
cộng đồng trong việc làm thuỷ lợi, trao đổi sản phẩm, và đấu tranh giữ gìn làng bản,
đất nước.
Trong thời Hùng Vương có hai truyền thuyết được lưu truyền rộng rãi trong dân
gian thể hiện tinh thần này:
3
• Phù Đổng Thiên Vương
• Sơn Tinh Thuỷ Tinh
NHÀ THỤC VÀ NƯỚC ÂU LẠC
(257 - 207 trước Công nguyên)
Theo truyền thuyết và sử cũ thì An Dương Vương tên là Thục Phán là chúa vua
nước Thục. Nước Thục này không phải là nước Thục ở vùng Tứ Xuyên đời Chiến
Quốc (Trung Quốc) mà là một bộ tộc đã tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen kẽ với
người Lạc Việt và người Thái. Tục gọi là người Âu Việt. Chuyện xưa kể rằng:
Vua Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên là Mỵ Nương. Vua
nước Thục nghe tin, sai sứ sang cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc
hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy
được Mỵ Nương, Thục Vương cǎm giận, di chúc cho con cháu đời sau thế nào
cũng phải diệt nước Vǎn Lang của Vua Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần
đem quân sang đánh nước Vǎn Lang. Nhưng vua Hùng có tướng sĩ giỏi, đã đánh
bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói: ta có sức thần, nước Thục không sợ hay
sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo
đến đánh nước Vǎn Lang, vua Hùng còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, vua
Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế
là nước Vǎn Lang mất.
Nǎm Giáp Thìn (257 trước Công nguyên). Thục Phán dẹp yên mọi bề, xưng là An
Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, (tên hai nước Âu Việt là Lạc Việt ghép
lại) đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ).
NHÀ TRIỆU VÀ NƯỚC NAM VIỆT
(Nǎm 207-111 trước Công nguyên)
Nhà Triệu được lập từ nǎm 207, đến nǎm 111 trước Công nguyên thì bị nhà Tây
Hán thôn tính, trải qua 5 đời vua:
- Triệu Vũ Vương (207-137 trước Công nguyên)
- Triệu Vǎn Vương (137-125 trước Công nguyên)
- Triệu Minh Vương (125-113 trước Công nguyên)
- Triệu Ai Vương (113-112 trước Công nguyên)
- Triệu Dương Vương (112-111 trước Công nguyên)
Nǎm 111 trước Công nguyên nhà Triệu mới mất nhưng từ nǎm 113 nội tình nhà
Triệu đã rất rối ren. Lúc đó, vua nhà Hán cho An quốc Thiếu Quý sang dụ Nam
Việt về chầu. Thiếu Quý nguyên là tình nhân của Cù Thị (Hoàng hậu của vua
Minh Vương) nên họ tư thông với nhau và dụ dỗ Triệu Ai Vương dâng nước Nam
Việt cho nhà Hán. Việc làm đó bị tể tướng Lữ Gia phát hiện. Lữ Gia đã truyền
hịch đi mọi nơi nói rõ sự thật rồi cùng một số đại thần đem quân cấm binh vào giết
chết sứ nhà Hán, Cù Thị và vua Ai Vương, tôn Kiến Đức, con trưởng của Minh
Vương lên làm vua, hiệu là Triệu Dương Vương. Dương Vương làm vua được
một nǎm thì bị vua Vũ Đế nhà Hán sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức và Dương
Bộc đem 5 đạo binh sang đánh lấy Nam Việt. Tể tướng Lữ Gia chống không nổi
bèn đem vua Dương Vương chạy trốn. Quân Hán đuổi theo bắt được, vua tôi đều
bị hại. Nhà Hán thôn tính nước Nam Việt, đổi là Giao Chỉ bộ.
4
NHÀ TRIỆU VÀ NƯỚC NAM VIỆT
(Nǎm 207-111 trước Công nguyên)
Nhà Triệu được lập từ nǎm 207, đến nǎm 111 trước Công nguyên thì bị nhà Tây
Hán thôn tính, trải qua 5 đời vua:
- Triệu Vũ Vương (207-137 trước Công nguyên)
- Triệu Vǎn Vương (137-125 trước Công nguyên)
- Triệu Minh Vương (125-113 trước Công nguyên)
- Triệu Ai Vương (113-112 trước Công nguyên)
- Triệu Dương Vương (112-111 trước Công nguyên)
Nǎm 111 trước Công nguyên nhà Triệu mới mất nhưng từ nǎm 113 nội tình nhà
Triệu đã rất rối ren. Lúc đó, vua nhà Hán cho An quốc Thiếu Quý sang dụ Nam
Việt về chầu. Thiếu Quý nguyên là tình nhân của Cù Thị (Hoàng hậu của vua Minh
Vương) nên họ tư thông với nhau và dụ dỗ Triệu Ai Vương dâng nước Nam Việt
cho nhà Hán. Việc làm đó bị tể tướng Lữ Gia phát hiện. Lữ Gia đã truyền hịch đi
mọi nơi nói rõ sự thật rồi cùng một số đại thần đem quân cấm binh vào giết chết sứ
nhà Hán, Cù Thị và vua Ai Vương, tôn Kiến Đức, con trưởng của Minh Vương lên
làm vua, hiệu là Triệu Dương Vương. Dương Vương làm vua được một nǎm thì bị
vua Vũ Đế nhà Hán sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức và Dương Bộc đem 5 đạo
binh sang đánh lấy Nam Việt. Tể tướng Lữ Gia chống không nổi bèn đem vua
Dương Vương chạy trốn. Quân Hán đuổi theo bắt được, vua tôi đều bị hại. Nhà Hán
thôn tính nước Nam Việt, đổi là Giao Chỉ bộ.
NHÀ NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT
Giao Chỉ và nhà Tây Hán (Nǎm 111 trước Công nguyên nǎm 39 sau Công
nguyên)
Đấu tranh giành độc lập - Hai Bà Trưng khởi nghiệp (40-43)
Nhà Đông Hán (25 - 220)
Lý Tiến và Lý Cầm phá lệ
Nhà Đông Ngô (222 - 280)
Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (248)
Giao Chỉ và nhà Tây Hán (Nǎm 111 trước Công nguyên nǎm 39 sau Công
nguyên)
Sau khi xâm lược Nam việt, nhà Hán đổi thành Giao Chỉ bộ và chia ra làm 9 quận:
Nam Hải (Quảng Đông)
Thượng Ngô (Quảng Tây)
Uất Lâm (Quảng Tây)
Hợp Phố (Quảng Đông)
Giao Chỉ (Bắc Bộ)
Cửu Chân (Thanh Hoá)
Nhật Nam (Nghệ Tĩnh)
Châu Nhai (Đảo Hải Nam)
Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam)
Nhà Hán đặt mỗi quận một viên thái thú trông coi mọi việc trong quận và viên thứ
sử giám sát các quận. ở Giao Chỉ các lạc tướng, lạc hầu vẫn được giữ nguyên và
được cha truyền con nối như trước.
Đấu tranh giành độc lập - Hai Bà Trưng khởi nghiệp (40-43)
5
Những nǎm đầu Công nguyên từ miền đất Mê Linh đã xuất hiện hai người con gái
kiệt xuất Trưng Trắc, Trưng Nhị và ở Chu Diên là chàng trai Thi Sách dũng mãnh.
Bởi thế, mùa xuân nǎm ấy, khi mùa sǎn ở Mê Linh bắt đầu, quan lạc tướng Chu
Diễn đã cho con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết
thân với họ Trưng. Y' quan lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và
Chu Diên liên kết được với nhau thì chẳng phải chỉ tốt lành cho chuyện nhân
duyên của đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trách mà sức mạnh của người Việt sẽ được
nhân lên. Sức mạnh ấy có thể xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán,
khôi phục lại nước cũ của người Việt. I't lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi
người, Trưng Trắc đã cùng thi Sách kết nghĩa vợ chồng.
Giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc tướng Chu
Diên, Tô Định hoảng hốt tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách
đem đại binh đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp
phủ đầu của hắn.
Tin dữ từ Chu Diên đưa tới khiến Trưng Trắc đau đớn,. Rồi ngay sau đó, Trưng
Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước.
Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đo uý trị của nhà Hán trên
đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh luỹ giặc tiến
xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân trẩy đi phá quận trị Giao Chỉ của nhà Hán, ngày
càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không
đương nổi cuộc công phá của một biển người ào ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu
trống đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Tô Định kinh hoàng cao chạy xa bay về
Nam Hải chịu tội với vua hán. Tin thắng trận dồn dập bay đi.
Đất nước sạch bóng quân thù. Hai Bà Trưng được cả nước tôn lên làm vua, đóng
đô ở Mê Linh.
Nǎm Tân Sửu (41), vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm phó
tướng cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo
sang đánh Trưng Vương. Chỉ trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người Việt đã bị giết
và bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn để
sống mái với bọn lang sói theo ý chí của Trưng Vương. Trong một trận đánh, sau
khi phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối cùng, Trưng Trắc, Trưng
Nhị đã gieo mình xuống dòng sông Hát Giang. Đó là ngày mùng 6 tháng 2 nǎm
Quý Mão (43).
Nhà Đông Hán (25 - 220)
(Bắc thuộc lần thứ hai)
Mã Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ sáp nhập vào nhà Đông Hán
rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp
luỹ đến đó.
Cũng như nhà Tây Hán, nhà Đông Hán gộp miền đất Âu Lạc cũ thành Châu Giao
gồm 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, khoảng 50 huyện. Đứng đầu châu
vẫn là thứ sử từ Trung Quốc cử sang. Chế độ lạc tướng cha truyền con nối của
người Việt là những tên huyện lệnh người Hán. Luật cũ của người Việt bị bãi bỏ.
Dân Việt buộc phải theo luật Hán. Chính quyền đô hộ đặc biệt đẩy mạnh việc di
dân Hán đến ở lẫn với dân Việt, bắt dân Việt phải theo phong tục tập quán sống
như người Hán. Chúng bắt dân ta học chữ Hán và tiếng Hán, truyền bá các tư
tưởng "thần phục thiên tử", "quy phục thiên triều".
Lý Tiến và Lý Cầm phá lệ
6
Nhìn chung, các triều đại phong kiến Trung Quốc tự xem mình là "Thiên tử" coi
dân Việt là "man dợ" nên người Việt dẫu có học hành thông thái cũng không được
trọng dụng. Ngoài trường hợp Trương Trọng nói trên, mãi đến đời vua Linh Đế
(168-189) cuối nhà Đông Hán, mới lại có người Việt, nhờ học giỏi, được cất nhắc
làm thái thú quận Giao Chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin cho người Giao Chỉ được bổ đi
làm quân bất kỳ quận nào, kể cả ở Trung Nguyên. Nhưng vua Hán chỉ cho những
người đỗ Mậu Tài hoặc Hiếu Liêm được làm quan trong xứ mà thôi. Lúc đó có
người Giao Chỉ tên là Lý Cầm, làm lính túc vệ trong cung, khẩn thiết xin vua Hán
bãi lệnh đó. Nói mãi, vua Hán mới cử một người Giao Chỉ đỗ Mậu Tài đi làm
quân lệnh ở Hạ Dương và một người đỗ Hiếu Liêm làm quan lệnh ở Lục Hợp.
Thực tế đất Âu Lạc từng có những người đỗ Mậu Tài, Hiếu Liêm, làm quan nhà
Hán, bác bỏ luận điểm của các nhà sử học Trung Quốc cho rằng đất Giao Chỉ từ
khi Sĩ Nhiếp (187-226) sang làm thái thú, vǎn hoá mới phát triển, nền giáo dục
mới được mở mang là không đúng.
Nhà Đông Ngô (222 - 280)
Nhà Đông Hán mất, nước Trung Quốc phân làm 3 nước: Bắc Nguỵ, Tây Thục và
Đông Ngô. Nhà Đông Ngô vẫn cho Sĩ Nhiếp làm thái thú.
Nǎm Bính Ngọ (226), Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng làm thái thú: Ngô chủ
là Tôn Quyền chia Giao Châu từ Hợp Phố về Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố
về Nam gọi là Giao Châu. Sai Lữ Đại làm thứ sử Quảng Châu, Đài Lương làm thứ
sử Giao Châu và Trần Thì sang thay Sĩ Huy làm thái thú quận Giao Chỉ. Bọn Đài
Lương và Trần Thì sang đến Hợp Phố thì bị Sĩ Huy đem quân ra chống giữ. Thứ
sử Quảng Châu là Lữ Đại một mặt đem binh sang đánh dẹp, mặt khác cho người
dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng liền bị Lữ Đại bắt giết. Tôn
Quyền lại hợp Quảng Châu và Giao Châu làm một và phong cho Lữ Đại làm thứ
sử.
Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (248)
Bà Triệu, Triệu Trinh Nương hay Triệu Thị Trinh đều là tên các đời sau gọi người
nữ anh hùng dân tộc hồi đầu thế kỷ thứ II. Theo dã sử, Bà Triệu sinh ngày 2 tháng
10 nǎm Bính Ngọ (225). Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng lớn ở miền
núi Quan Yên, quận Cửu Chân (Thanh Hoá). ở đó cho đến nay vẫn còn lưu truyền
nhiều truyền thuyết về thời kỳ bà chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô. Đó là
chuyện Bà Triệu thu phục được coi voi trắng một ngà, chuyện "Đá biết nói" rao
truyền lời thần nhân mách bảo từ trên núi Quan Yên.
Có Bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót Bà Vương...
Mỗi lần ra trận, Triệu Thị Trinh thường mặc áo giáp đồng, đi guốc ngà, cài trâm
vàng, cưỡi voi dẫn quân xông trận, oai phong lẫm liệt. Quân Ngô kinh hồn, bật vía
đã phải thốt lên:
Vung giáo chống hổ dễ
Giáp mặt vua Bà khó
Hay tin khởi nghĩa ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô hốt hoảng
phái ngay Lục Dận, một tướng từng kinh qua trận khai mạc, lại rất quỷ quyệt sang
7
làm thứ sử. Lục Dận vừa đánh mạnh vừa đem của cải chức tước ra dụ dỗ mua
chuộc các thủ lĩnh người Việt. Một số kẻ dao động mắc mưu theo địch. Mặc dầu
vậy, Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau với giặc không nao núng. Sau 6
tháng chống chọi vì có kẻ phản bội, bà đã hy sinh trên núi Tùng (Hậu Lộc, Thanh
Hoá). Bấy giờ Bà mới 23 tuổi.
NƯỚC VẠN XUÂN ĐỘC LẬP
Nhà Tiền Lý (544 - 602)
Triệu Việt Vương (549-571)
Hậu Lý Nam Đế (571-602)
Nhà Tiền Lý (544 - 602)
Niên hiệu: Thiên Đúc
Dẹp yên cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, nhà Ngô lấy đất Nam Hải, Thượng
Ngô và Uất Lâm làm Quảng Châu, đặt châu trị ở Phiên Ngung, lấy đất Hợp Phố,
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam làm Giao Châu, đặt châu trị ở Long Biên (nay là
vùng Bắc Ninh). Đất Nam Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao Châu và
Quảng Châu từ đó.
Nǎm Â't Dậu (265), nhà Tấn đánh bại Nguỵ, Thục, Ngô, đất Giao Châu lại thuộc
về nhà Tấn. Nhà Tấn phong cho họ hàng ra trấn trị các nơi, nhưng các thân vương
cứ dấy binh đánh giết lẫn nhau, làm cho anh em cốt nhục tương tàn, nước Tấn
nhanh chóng suy yếu. Nhân cơ hội ấy, các nước Triệu, nước Tần, nước Yên, nước
Lương, nước Hạ, nước Hán v.v... nổi lên chiếm lấy cả vùng phía Bắc sông Trường
Giang, nhà Tấn chỉ còn vùng đất ở đông nam, phải dời đô về Kiến Nghiệp (Nam
Kinh ngày nay) gọi là nhà Đông Tấn.
Nǎm Canh Thân (420), Lư Du cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống ở phía
nam. Nước Trung Quốc phân ra làm Nam Triều và Bắc Triều. Bắc Triều có nhà
Nguỵ, nhà Tề, nhà Chu, nối nhau làm vua. Nam Triều có nhà Tống, nhà Tề, nhà
Lương và nhà Trần kế nghiệp trị vì. Nǎm Kỷ Mùi (479) nhà Tống mất ngôi, nhà
Tề kế nghiệp, trị vì được 22 nǎm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề.
Nhà Lương sai Tiêu Tư sang làm thứ sử Giao Châu. Cũng như các triều đại phong
kiến Trung Quốc thuở trước, các viên quan lại nhà Lương sang cai trị Giao Châu
đã áp dụng những biện pháp khắt khe, độc ác khiến dân Giao Châu cực khổ trǎm
bề, người người đều oán giận. Bởi vậy, nǎm 542, Lý Bí đã lãnh đạo dân Giao
Châu nổi lên đánh đuổi Tiêu Tư, chiếm giữ thành Long Biên, lập nên nhà nước
độc lập đầu tiên, nước Vạn xuân.
Lý Bôn còn gọi là Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 nǎm Quý Mùi (17-10-503) quê ở
huyện Thái Bình, xuất thân từ một hào trưởng địa phương. Tổ tiên Lý Bí là người
Trung Quốc, lánh nạn sang nước ta từ cuối thời Tây Hán, khoảng đầu công
nguyên. Từ nhỏ Lý Bí đã tỏ ra là cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5
tuổi thì cha mất; 7 tuổi mẹ lại qua đời. Cậu bé bất hạnh phải đến ở với chú ruột.
Một hôm có một vị Pháp tổ thiền sư đi qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liền
xin Lý Bí đem về chùa Linh Bảo nuôi dạy. Qua hơn mười nǎm đèn sách chuyên
cần, lại được vị thiền sư gia công chỉ bảo, Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu
sâu, ít người sánh kịp.
Tháng Giêng nǎm Nhâm Tuất (542), Lý Bí khởi binh tấn công giặc. Không đương
nổi sức mạnh của đoàn quân khởi nghĩa, thứ sử Tiêu Tư khiếp sợ không dám
chống cự, vội mang của cải, vàng bạc đút lót cho Lý Bí xin được toàn tính mạng,
8
chạy về Trung Quốc. Không đầy 3 tháng, Lý Bí đã chiếm được hầu hết các quận,
huyện và thành Long Biên.
Tháng hai nǎm Giáp Tý (544) Lý Bí tự xưng hoàng đế lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt
tên nước là Vạn Xuân (ước muốn xã tắc truyền đến muôn đời), đặt kinh đô ở miền
cửa sông Tô Lịch (Hà Nội) và cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi vua quan họp bàn
việc nước. Triều đình gồm có hai ban vǎn võ. Phạm Tu được cử đứng đầu hàng
quan võ, Tinh Thiều đứng đầu quan vǎn, Triệu Túc làm thái phó, Triệu Quang
Phục là tướng trẻ có tài cũng được trọng dụng.
Việc Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân, tự xưng là hoàng đế, định niên hiệu, lập một
triều đình riêng ngang hàng với nước lớn Phương Bắc là sự khẳng định chủ quyền
độc lập dân tộc, sự bền vững muôn đời của đất trời phương Nam.
Triều Lý khởi nghiệp từ đây.
Đầu nǎm Â't Sửu (545), nhà Lương sau khi đàn áp những cuộc nổi dậy của nông
dân Trung Quốc đã dồn sức mở cuộc tấn công xâm lược nước Vạn Xuân non trẻ
nhằm chiếm lại Châu Giao. Quân Lương từ Gia Ninh ngược dòng sông Lô kéo lên
tấn công. Bị quân của Lý Nam Đế đánh trả quyết liệt không tiến lên được, chúng
phải đóng giữa đồng trống. Lúc này quân lính nhà Lương đã mỏi mệt, tướng lĩnh
chán nản, nhưng Trần Bá Tiên vốn xảo quyệt, nhân một đêm mưa to gió lớn đã
thúc quân tràn vào đánh úp quân Lý Nam Đế. Lý Nam Đế phải lui vào động Khuất
Lão (Tam Nông, Phú Thọ). Anh vua là Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử (một người
trong họ) và là tướng của Lý Nam Đế đem một cánh quân lui vào Thanh Hoá. ở
động Khuất Lão, Lý Nam Đế bị đau yếu luôn nên ông trao binh quyền cho Triệu
Quang Phục tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân Lương. Hai nǎm sau, Lý Nam
Đế mất vào ngày 20 tháng 3 nǎm Mậu Thìn (13-4-548).
Triệu Việt Vương (549-571)
Niên hiệu: Quang Phục
Khi được Lý Nam Đế trao cho toàn bộ binh quyền, Triệu Quang Phục người
huyện Chu Diên thấy rõ lúc đó giặc còn mạnh, không thể đánh thắng ngay được
nên đưa hơn 1 vạn quân từ miền núi về đồng bằng tìm cách đánh giặc. Lương thực
thiếu, Triệu Quang Phục cùng nghĩa quân ǎn củ súng, khoai dại, để dành thóc gieo
mạ, cùng nghĩa quân thi nhau dùng đòn kéo thay trâu, không phân biệt trên dưới,
tạo nên không khí phấn khởi trong sản xuất. Vì vậy, sau những ngày thiếu thốn,
nghĩa quân chẳng những có đủ lương ǎn mà còn có thóc để dành, đủ sức quần
nhau với giặc lâu dài.
Sau khi Lý Nam Đế mất Triệu Quang Phục xưng hiệu là Triệu Việt Vương. Dân
gian gọi ông là Dạ Trạch Vương. Đến nǎm Canh Ngọ (550), nhân nhà Lương có
loạn to, thế giặc suy yếu, Triệu Việt Vương từ cǎn cứ Dạ Trạch, biết rõ gan ruột
giặc, xuất toàn quân giao chiến, giết được tướng giặc là Dương Sàn, thu lại Kinh
đô, khôi phục lại nền độc lập cho dân nước.
Như trên đã nói, khi Lý Nam Đế thất thế chạy về Khuất Lão thì người anh họ là
Lý Thiên Bảo cùng người anh trong họ là Lý Phật Tử đem quân chạy vào Cửu
Chân. Bị quân Lương truy đuổi, Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử phải chạy sang Lào,
đến đóng ở động Dã Nǎng, xưng là Đào Lao Vương. Nǎm Â't Hợi (555) là nǎm
thứ 7 đời Triệu Việt vương, Lý Thiên Bảo mất, không có con, binh quyền thuộc về
tay Lý Phật Tử.
Đến nǎm Đinh Sửu (557) Lý Phật Tử đem quân về đánh Triệu Việt Vương để
giành ngôi nhà Lý. Nhưng đánh không thắng, Phật Tử xin chia đất giảng hoà.
9
Triệu Việt Vương nghĩ tình họ Lý, cũng thuận chia đất cho Lý Phật Tử và còn gả
con gái là Cải Nương cho Nhã Lang con Phật Tử để tỏ tình hoà hiếu.
Nǎm Tân Mão (571), Phật Tử phản trắc, bất ngờ đem quân đánh Triệu Việt
Vương. Vì không phòng bị Triệu Việt Vương thua chạy đến cửa biển Đại Nha,
cùng đường gieo mình xuống biển tự vẫn.
Nǎm Trùng Hưng thứ nhất (1285), vua Trần Nhân Tông sách phong là Minh Đạo
Hoàng Đế. Nǎm Trùng Hưng thứ 4, vua ban thêm hai chữ "Khai cơ". Nǎm Hưng
Long thứ 21 (1313) đời Trần Anh Tông, vua ban thêm bốn chữ: "Thánh Liệt Thần
Vũ".
Hậu Lý Nam Đế (571-602)
Đánh thắng Triệu Việt Vương, Lý Phật Tử xưng đế hiệu, đóng đô ở Phong Châu,
sai Lý Đại Quyền giữ Long Biên và Lý Phổ Định giữ Ô Diên.
Trong lúc Lý Phật Tử làm vua ở Nam Việt thì vua Vǎn Đế nhà Tuỳ đã dẹp yên
Nam-Bắc triều, thống nhất nước Trung Hoa, quy giang sơn về một mối. Nǎm
Nhâm Tuất (602) vua Tuỳ sai danh tướng Lưu Phương đem đại binh sang đánh
Nam Việt. Trước khi xuất quân, Lưu Phương sai người tâm phúc sang dụ Lý Phật
Tử về hàng, nếu không hắn sẽ làm cỏ dân Việt, Lý Phật Tử sợ thế không địch nổi
bèn xin về hàng, Nam Việt lại rơi vào tay nhà Tuỳ.
NHÀ TUỲ ĐƯỜNG VÀ CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA (603-939)
Nhà Tuỳ - Đường (Bắc thuộc lần thứ ba)
Mai Hắc Đế (722)
Phùng Hưng - Bố Cái Đại Vương (791-802)
Họ Khúc dấy nghiệp - Khúc Thừa Dụ (906-907)
Khúc Hạo (907-917)
Khúc Thừa Mỹ
Dương Đình Nghệ và Kiều Công Tiễn (931-938)
Triều Ngô (939-965)
Nhà Tuỳ - Đường (Bắc thuộc lần thứ ba)
Do Lý Phật Tử sớm đầu hàng, nhà Tuỳ (589-617) đã thôn tính Giao Châu dễ dàng,
chia Giao Châu thành 3 quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh Hoá), Nhật
Nam (Nghệ Tĩnh). Trị sở quận Giao Chỉ được dời từ Long Biên (Bắc Ninh) về
Tống Bình (Hà Nội). Nhưng nhà Tuỳ làm vua được 28 nǎm thì mất, nhà Đường kế
nghiệp trị vì Trung Quốc.
Nǎm Kỷ Mão (679) vua Cao Tông nhà Đường chia đất Giao Châu làm 12 châu, 59
huyện. ở miền núi nhà Đường đặt các châu "kimi" (ràng buộc lỏng lẻo) và đặt An
Nam đô hộ phủ. Nước ta gọi là An Nam khởi đầu từ đấy.
Việc chia nhỏ cơ quan cai trị khiến cho nhà Đường khống chế đất An Nam một
cách chặt chẽ hơn. Tuy vậy trong suốt ba thế kỷ nhà Đường thống trị, nhân dân
vẫn không ngừng nổi dậy giành độc lập. Đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra: Lý Tự
Tiên, Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766-791), Dương
Thanh (819-820)....
Mai Hắc Đế (722)
Nǎm Nhâm Tuất (722) đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu nổ ra cuộc
khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Mai Thúc Loan quê ở Mai Phụ, Thạch Hà, Hà
Tĩnh. Không ai còn nhớ nǎm sinh ngày mất của ông. Chỉ biết rằng, thuở nhỏ nhà
Mai Thúc Loan nghèo lắm, mẹ phảI đi làm mướn cho nhà giàu và kiếm củi nuôi
10
con. Đã thế, cậu bé lạI chịu tiếng xấu là con không cha(1) và nước da đen xạm xấu
xí. Nhưng Mai Thúc Loan cũng sớm bộc lộ thiên tư thông minh, sáng ý kỳ lạ và
có sức khoẻ tuyệt vời.
Lớn lên, Mai Thúc Loan là một chàng trai có sức khoẻ phi thường. Thúc Loan là
đô vật lừng danh, từng ǎn giải cạn(2) ở nhiều nơi.
Mùa vải nǎm Nhâm Ngọ (722), Mai Thúc Loan cùng đoàn phu phảI gánh vải đi
nộp cống. Đoàn người gánh vải đầm đìa mồ hôi mà vẫn phải ê từng bước trên
đường. Gần trưa, Mai Thúc Loan cho mọI người nghỉ chân ở bên rừng. Cái khát
cháy cổ hành hạ đoàn phu. Một dân phu có tuổi bứt lấy một quả vải ǎn cho đỡ
khát. Quả vảI chưa kịp đưa lên miệng đã bị một tên lĩnh Đường đi áp tải vung cán
mã tấu đánh vào đầu. Khi tên lính Đường lần nữa định đánh ông già, thì hắn đã bị
đánh chết tươi. Sự việc xảy ra nhanh như chớp. Bọn giặc cậy có binh khí hò hét
vung đao, kiếm xông vào Mai Thúc Loan.. Nhưng những người dân phu theo lệnh
Mai Thúc Loan, đã rút đòn gánh chống lại. Đánh tan lũ giặc Đường trong một cơn
phẫn nộ, Mai Thúc Loan lập tức thổi bùng khí thế vụ bạo động thành một cuộc
dấy nghĩa.
Vị thủ lĩnh trẻ được tôn thành vị anh hùng, đã hiệu triệu trǎm họ hưởng ứng nghĩa
lớn và chọn Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn làm cǎn cứ. Mai Thúc Loan đã phát
hịch kể tội giặc Đường và kêu gọi ngườI Việt đứng lên gìn giữ non sông. Mai
Thúc Loan còn tìm cách liên kết với các thủ lĩnh và nhân dân các châu miền núi,
với Champa để có thêm lực lượng chống quân Đường. Trước khi tiến đánh phủ đô
hộ ngoài Giao Châu, Mai Thúc Loan được quân dân tôn phong lên ngôi hoàng đế
lấy vương hiệu là Mai Hắc Đế (vua Đen họ Mai).
Nhưng lúc này nhà Đường rất mạnh, vua Đường kéo sang hơn 10 vạn quân đánh
chiếm Vạn An. Không đương nổi đội quân xâm lược hung hãn, Mai Hắc Đế phải
rút vào rừng, sau bị ốm rồi mất.
(1) Sách Thiên Nam Ngữ Lục chép: Mẹ Mai Thúc Loan đến xem nấu muốn bị một
làm khói muối ngũ sắc bao lấy mình mà có thai.
(2) Không ai dám vào thi đấu người thách đấu được giải.
Phùng Hưng - Bố Cái Đại Vương (791-802)
Phùng Hưng xuất thân từ dòng dõi cự tộc, hào trưởng đất Đường Lâm (Hà Tây).
Bố của Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, một người hiền tài đức độ, từng tham
gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Phùng Hạp Khanh có một người vợ họ
Sử, một lần sinh ba. Phùng Hưng khôi ngô, khác thường. Trong ba anh em, Phùng
Hưng có sức khoẻ và khí phách đặc biệt. Ông được sử sách và nhân dân truyền
tụng về tài đánh trâu, giết hổ ở đất Đường Lâm. Phùng Hưng xưng là Đỗ Quân,
Phùng Hải xưng là Đô Bảo, Phùng Dĩnh xưng là Đô Tổng chia quân đi trấn giữ
những vùng hiểm yếu. Cao Chính Bình đem quân đi đàn áp nhưng chưa phân
thắng bại. Tân Mùi (791), Phùng Hưng cùng các tướng Phùng Hải, Phùng Dĩnh,
Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần chia ra làm 5 đạo bất ngờ vây đánh thành Tống Bình.
Sau 7 ngày đêm xung sát, quân giặc núng thế phải rút vào thành cố thủ. Nghĩa
quân Phùng Hưng thừa thắng hò reo bủa vây khắp 4 mặt thành. Thấy quân mình bị
chết nhiều, Cao Chính Bình lo sợ phát ốm rồi chết. Phùng Hưng chiếm lĩnh thành
trì, vào phủ đô hộ điều khiển việc nước được 7 nǎm thì mất. Con trai là Phùng An
lên nối ngôi, thể theo lòng ái mộ của nhân dân tôn hiệu cha là Bố Cái Đại
Vương(1). Phùng An nối nghiệp được hai nǎm thì bị vua Đường cử Triệu Xương
đem quân sang đánh bại.
11
(1) Cha là bố, mẹ là cái, nghĩa là tôn Phùng Hưng làm cha mẹ.
Họ Khúc dấy nghiệp - Khúc Thừa Dụ (906-907)
Nǎm Đinh Mão (907) nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu
Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu tranh nhau làm vua, mỗi nhà mấy nǎm, gọi là đời Ngũ
quý hay Ngũ đại.
Nhân cơ hội ấy, ở Giao Châu có Khúc Thừa Dụ quê ở Cục Bồ (Ninh Thanh, Hải
Dương) là một họ lớn nổi dậy lãnh đạo nhân dân Giao Châu, khôi phục quyền tự
chủ của đất nước. Khúc Thừa Dụ vốn là một hào phú, tính khoan hoà, hay thương
người, được dân chúng kính phục. Nǎm 905, Khúc Thừa Dụ mộ quân tiến công
thành Tống Bình (Hà Nội) đuổi giặc về nước rồi tự xưng là Tiết độ sứ. Thế cùng,
nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu đất Việt. Ngày
7 tháng 2 nǎm Bính Dần (906), vua Đường phong cho ông Tĩnh Hải quận tiết độ
sứ tước Đồng bình chương sự.
Khúc Thừa Dụ phong cho con là Khúc Hạo chức "Tĩnh Hải hành quân Tư mã
quyền tri lưu hậu", chức vụ chỉ huy quân đọi và sẽ thay thế cha.
Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ được non một nǎm thì mất ngày 23-7 nǎm Đinh
Mão (907), giao quyền lại cho con là Khúc Hạo.
Khúc Hạo (907-917)
Nối nghiệp cha, Khúc Hạo đề ra nhiều cải cách quan trọng nhằm xây dựng một
nền tảng độc lập, thống nhất của dân tộc. Khúc Hạo chia cả nước thành 5 cấp hành
chính: lộ, phủ, châu, giáp, xã. Cả nước lúc đó có 314 giáp. Suốt thời Bắc thuộc,
chưa lúc nào bọn đô hộ nắm được các tổ chức cơ sở ấy. Có thể xem Khúc Hạo là
người đầu tiên xây dựng được hệ thống chính quyền thống nhất từ trung ương đến
địa phương.
Cùng thời gian này là Lưu ẩn ở Quảng Châu đóng phủ trị ở Phiên Ngung được 4
nǎm thì mất. Em là Lưu Cung lên thay. Được ít lâu, nhân bất bình với nhà Hậu
Lương, Lưu Cung tự xưng đế, đặt quốc hiệu là Đại Việt. Đến nǎm Đinh Sửu (917)
cải quốc hiệu là Nam Hán.
Khúc Thừa Mỹ
Nǎm Đinh Sửu (917) Khúc Hạo mất, truyền ngôi lại cho con là Khúc Thừa Mỹ.
Khúc Thừa Mỹ nhận chức Tiết độ sứ của nhà Lương, chứ không thần phục nhà
nam Hán. Vua Nam Hán muốn bành trướng lãnh thổ nhân cơ hội ấy nǎm Quý Mùi
(923) sai tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang bắt được Khúc Thừa Mỹ rồi sai
Lý Tiến sang làm Thứ sử cùng Lý Khắc Chính giữ Giao Châu.
Dương Đình Nghệ và Kiều Công Tiễn (931-938)
Nǎm Tân Mão (931), Dương Đình Nghệ, một tướng của Khúc Hạo ở đất A'i Châu
(Thanh Hoá), mộ quân đánh đuổi Lý Khắc Chính và Lý Tiến, chiếm thành Đại La,
tự xưng làm Tiết độ sứ. Được 6 nǎm, Dương Đình Nghệ bị người nha tướng là
Kiều Công Tiễn, hào tướng đất Phong Châu giết hại để đoạt chức Tiết độ sứ. Nền
độc lập mới giành được sau đêm trường Bắc thuộc lại bị đe doạ.
Triều Ngô (939-965)
Ngô Quyền phá quân Nam Hán tiền Ngô Vương (939-944)
Ngô Quyền là bộ tướng của Dương Đình Nghệ sinh ngày 12 tháng 3 nǎm Đinh Tỵ
(897) ở Đường Lâm (Ba Vì, Hà Tây). Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, một hào
trưởng có tài. Lớn lên trên quê hương có truyền thống bất khuất, nơi sản sinh và
nuôi dưỡng người anh hùng dân tộc Phùng Hưng, Ngô Quyền sớm tỏ rõ chí khí
phi thường hiếm thấy. Vì có tài nên Dương Đình Nghệ giao cho Ngô Quyền cai
12
quản đất A'i Châu và gả con gái cho. Trong 5 nǎm (934-938), Ngô Quyền đã đem
lại yên vui cho đất A'i Châu, tỏ rõ là người có tài đức.
Khi Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết hại, và vua Nam Hán là Lưu Cung
cho con là Vạn vương Hoằng Tháo đem quân sang xâm lược nước ta, Ngô Quyền
đã nhanh chóng tập hợp lực lượng để trừ nội phản, diệt ngoại xâm.
Tháng 12 nǎm Mậu Tuất (938) các chiến thuyền của giặc hùng hổ vượt biển tiến
vào sông Bạch Đằng. Chúng nghênh ngang tràn vào trận địa mai phục của Ngô
Quyền. Bị đánh bất ngờ nên chỉ trong một thời gian rất ngắn thuyền giặc bị đắm
gần hết, quân giặc bị chết quá nửa, máu chảy loang đỏ khúc sông, Hoằng Tháo
cũng bị đâm chết tại trận.
Sau chiến thắng, Ngô Quyền xưng vương, bãi bỏ chức Tiết độ sứ, đóng đo ở Cổ
Loa (Hà Nội). Để củng cố trật tự triều chính, Ngô Quyền đặt ra các chức quan vǎn
võ, quy định nghi lễ trong triều. Đáng tiếc, thời tại ngôi của Ngô Quyền quá ngắn
ngủi, chỉ được 6 nǎm (939-944) thì mất, thọ 47 tuổi.
Dương Tam Kha
Thời trẻ, Ngô Quyền lấy con gái Dương Đình Nghệ. Khi Ngô Quyền lên ngôi vua,
Dương Thị được lập làm Vương hậu. Khi sắp mất, Ngô Vương uỷ thác con là Ngô
Xương Ngập cho Dương Tam Kha là em Dương Hậu. Lợi dụng cháu còn nhỏ,
Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu, tự xưng là Bình Vương. Ngô Xương Ngập
thấy biến, chạy trốn vào sang Nam Sách (Hải Dương) vào ẩn ở nhà Phạm Lệnh
Công. Dương Tam Kha sai quân đi đuổi bắt, Phạm Lệnh Công đem Xương Ngập
trốn trong núi. Dương Tam Kha bắt em Xương Ngập là Ngô Xương Vǎn nuôi làm
con nuôi..
Nǎm Canh Tuất (950) nhân có loạn ở Sơn Tây, Dương Tam Kha sai Ngô Xương
Vǎn cùng tướng Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đem quân đi đánh. Đến Từ
Liêm, Ngô Xương Vǎn mưu với hai tướng đem quân trở về bắt Dương Tam Kha.
Ngô Xương Vǎn nghĩ tình cậu cháu không nỡ giết chỉ giáng Tam Kha xuống làm
Chương Dương công.
Hậu Ngô vương (950-965)
Ngô Xương Vǎn gạt bỏ Dương Tam Kha xưng là Nam Tấn vương và sai người
tâm phúc đi đón anh là Ngô Xương Ngập về cùng trông coi việc nước. Ngô
Xương Ngập xưng là Thiên Sách vương. Cả hai anh em đều là vua, sử gọi là Hậu
Ngô vương.
Làm vua được ít lâu, Thiên Sách vương nghĩ cách trừ Nam Tấn vương để một
mình làm vua. Âm mưu đó chưa kịp thi hành thì nǎm Giáp Dần (954) Thiên Sách
vương mất.
Đến lúc này, thì lực nhà Ngô ngày một suy yếu, thổ hào các nơi xưng là sứ quận ra
sức chống đối buộc Nam Tấn Vương phải thân ch inh đi đánh dẹp. Nǎm Â't Sửu
(965), trong một trận giao chiến ở Thái Bình, Nam Tấn vương không may bị bắn
chết, làm vua được 15 nǎm. Con Thiên Sách vương là Ngô Xương Xí nối nghiệp
lên làm vua về giữ đất Bình Kiều (Thanh Hoá).
Như vậy, triều Ngô bắt đầu từ Ngô Quyền, qua Ngô Xương Ngập, Ngô Xương
Vǎn đến Ngô Xương Xí, truyền được 3 đời, kéo dài 26 nǎm. Đến Ngô Xương Xí
trong nước có cả thảy 12 sứ quân, gây ra loạn lạc nồi da nấu thịt kéo dài hơn 20
nǎm. 12 sứ quan đó là:
1. Ngô Xương Xí, giữ Bình Kiều (Triệu Sơn, Thanh Hoá)
2. Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, Hà Tây)
13
3. Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (Kỳ Bố, Thái Bình)
4. Kiều Công Hãn giữ Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ)
5. Nguyễn Khoan giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc)
6. Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm (Phúc Thọ, Hà Tây)
7. Lý Khê giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh)
8. Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Du (Bắc Ninh)
9. Lữ Đường giữ Tế Giang (Vǎn Giang, Hưng Yên)
10.Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội)
11.Kiều Thuận giữ Hởi Hồ (Cẩm Khê, Phú Thọ)
12.Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên)
Những sứ quân ấy cứ đánh lẫn nhau, nhằm bành trướng thế lực khiến cho nhân
dân vô cùng khổ sở. Về sau, Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư dẹp loạn sứ quân, quy giang
sơn về một mối, lập nên cơ nghiệp nhà Đinh.
NHÀ ĐINH VÀ SỰ THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ
Đinh Tiên Hoàng (968-970)
Phế Đế (979-980)
Đinh Tiên Hoàng (968-970)
Niên hiệu: Thái Bình (970-979)
Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, Châu Đại Hương (Hoa Lư, Ninh Bình), con
Đinh Công Trứ, một nha tướng của Dương Đình Nghệ giữ chức Thứ sử Châu
Hoan. Đinh Công Trứ mất sớm, Bộ Lĩnh theo mẹ về quê ở, thường đi chơi với trẻ
chǎn trâu, bắt chúng khoanh tay làm kiệu để ngồi cho chúng rước và lấy bông lau
làm cờ bày trận đánh nhau. Lớn lên, nhờ thông minh, có khí phách lại có tài thao
lược nên khi Bộ Lĩnh dựng cờ dấy nghĩa mong lập nghiệp lớn, dân làng theo ông
rất đông.
Nǎm Tân Hợi (951) đời hậu Ngô vương, Nam Tấn vương cùng Thiền Sách vương
đem quân đến đánh nhưng cả hai đều đại bại phải rút quân về. Đến khi nhà Ngô
mất, Đinh Bộ Lĩnh dụ hàng được các sứ quân Ngô Xương Xí, phá được Đỗ Động
của Nguyễn Cảnh Thạc. Từ đó, Đinh Bộ Lĩnh đánh đâu được đấy, được tôn là Vạn
Thắng vương. Chỉ trong một nǎm, Đinh Bộ Lĩnh đã bình được các sứ quân, lập
thành nghiệp đế.
Nǎm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng vương lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Tiên Hoàng
đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Đinh Tiên Hoàng xây cung
điện chế triều nghi, định phẩm hàm quan vǎn, quan võ, phong cho Nguyễn Bặc là
Đinh Quốc Công, Lê Hoàn làm Thập Đạo tướng quân (tổng chỉ huy quân đội) và
phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt Vương. Nǎm Kỷ Mão (979) Đinh Tiên
Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích giết chết. Đỗ Thích trước
làm lại, đêm nằm mơ thấy sao rơi vào mồm, tưởng là điềm báo được làm vua bèn
định bụng sát hại minh chủ. Một hôm Đỗ Thích thấy vua Đinh say rượu nằm trong
cung bèn lẻn vào sát hại rồi tìm giết nốt con cả là Đinh Liễn. Triều thần tìm bắt
được Đỗ Thích đem xử tội và tôn Vệ vương Đinh toàn lên làm vua. Đinh Tiên
Hoàng làm vua được 12 nǎm, thọ 56 tuổi.
Phế Đế (979-980)
Đinh Tiên Hoàng có 3 người con trai: Đinh Liễn, Đinh Toàn (có sách gọi là Đinh
Tuệ) và Đinh Hạng Lang. Đinh Liễn và Đinh Hạng Lang đã chết, mặc nhiên Đinh
Toàn kế nghiệp ngôi vua.
14
Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc thấy vua còn nhỏ quyền bính nằm cả trong
tay Thập đạo tướng quân lê Hoàn, lại nghi Lê Hoàn tư thông với Dương Thái Hậu
(Dương Vân Nga), nên cử binh mã đến đánh, nhưng bị Lê Hoàn giết sạch.
Dương Vân Nga thay con cầm quyền trị nước cũng thấy rõ chỉ có Tập đạo tướng
quân lê Hoàn là người có khả nǎng gỡ rối được tình hình nghiêm trọng cần kíp lúc
này. Huống chi ý chí quân đội cũng muốn tôn người chỉ huy của họ lên ngôi tối
thượng, thay cho vị vua 6 tuổi là con Dương Vân Nga. Bởi vậy, Dương Vân Nga
đã lấy chiếc long bào choàng lên vai Lê Hoàn trong tiếng hò reo dậy trời của quân
sỹ.
Đinh Toàn chỉ làm vua được 8 tháng, sử gọi là Phế Đế rồi tồn tại với tước vương
(Vệ Vương) có mặt trong triều đình Tiền Lê 20 nǎm. Nǎm Tân Sửu (1001) trong
dịp cùng vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đi dẹp loạn Cử Long thuộc vùng Cẩm Thuỷ,
Thanh Hoá, Đinh Toàn bị trúng tên hy sinh trên chiến thuyền vào tuổi 27.
Như vậy triều Đinh làm vua được 2 đời, cả thảy 14 nǎm. Lê Hoàn lên làm vua,
Dương Vân Nga trở thành Hoàng hậu.
NHÀ TIỀN LÊ (980-1009)
Lê Đại Hành (980-1005)
Lê Trung Tông (1005)
Lê Long Đĩnh (1005-1009)
Lê Đại Hành (980-1005)
Niên hiệu:
- Thiên Phúc (980-988)
- Hung Thống (989-993)
- Ư'ng Thiên (994-1005)
Lê Hoàn sinh nǎm (941) ở Xuân Lập, Thọ Xuân, Thanh Hoá trong một gia đình
nghèo khổ "bố dỡ đó, mẹ xó chùa". Cha họ Lê, mẹ là Đặng Thị Sen đều lần lượt
qua đời khi Lê Hoàn còn nhỏ tuổi. Bởi vậy, cũng ngay từ bé, Lê Hoàn phải làm
con nuôi cho một vị quan nhỏ, người cùng họ. Lớn lên, Lê Hoàn đi theo Nam Việt
vương Đinh Liễn. Trong công cuộc đánh dẹp các sứ quân, Lê Hoàn tỏ rõ là người
có tài nên được Đinh Bộ Lĩnh giao cho trông coi 2000 binh sĩ. Đến khi dẹp yên
các sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên cơ nghiệp nhà Đinh, Lê Hoàn được
phong chức Thập đạo tướng quân, Điện tiền đô chỉ huy sứ của triều đình Hoa Lư.
Lúc này Lê Hoàn vừa tròn 30 tuổi.
Tháng 10 nǎm Kỷ Mão (979), cha con Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết hại,
Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi vua, Lê Hoàn làm nhiếp chính, trong một tình thế đầy
khó khǎn. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp nổi loạn nhưng đã bị
Lê Hoàn dẹp tan.
Tháng 7 nǎm Canh Thìn (980) đại quân Tống theo đường thủy bộ xâm lược Đại
Cồ Việt. Lê Hoàn lúc nào đã lên ngôi hoàng đế tức Lê Đại Hành, vừa triển khai
lực lượng sẵn sàng chiến đấu vừa sai sứ đưa thư cầu hoà. Vua Tống đòi Dương
Vân Nga và con là Đinh Toàn sang chầu. Tình thế bức bách, Lê Hoàn buộc phải
cho quân đánh giặc quyết bảo vệ đất nước. Ông đã tái tạo một Bạch Đằng, sáng
tạo một Chi Lǎng, thắng lớn trên cả hai mặt trận thuỷ bộ, giết tướng giặc Hầu
Nhân Bảo, diệt quá nửa quân Tống, buộc vua Tống phải xuống chiếu lui quân.
Đại thắng nǎm Tân Tỵ (981) đã mở đầu kỷ nguyên Đại Việt bách thắng bọn phong
kiến phương Bắc.
15
Không chậm trễ, Lê Hoàn dốc sức chǎm lo xây dựng và bảo vệ đất nước. Bên
trong, Lê Hoàn chống cát cứ, xây dựng cơ sở của nền kinh tế. Đối với bên ngoài
ông thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻo khôn khéo nhưng kiên quyết bảo vệ
nền độc lập của đất nước. Ông là một vị vua nội trị, ngoại giao đều xuất sắc.
Nǎm Â't Tỵ (1005) vua Lê Hoàn mất, thọ 65 tuổi, làm vua được 24 nǎm. Theo
thông lệ, khi vua mất chưa đặt tên thuỵ thì gọi là Đại Hành. Trường hợp vua Lê
Hoàn lấy Đại Hành làm Thuỵ hiệu là vì Lê Ngoạ Triều và triều thần không đặt tên
thuỵ cho ông.
Lê Trung Tông (1005)
Vua Lê Đại Hành có 4 hoàng tử là Long Du, Ngân Tích, Trung Tông Long Việt và
Lê Long Đĩnh (Ngoạ Triệu). Vua Đại Hành đã định cho người con thứ ba là Long
Việt làm Thái tử. Nhưng đến lúc vua mất, các hoàng tử tranh nhau ngôi, đánh
nhau trong 7 tháng. Đến khi Long Việt vừa lên ngôi được 3 ngày thì bị em là Long
Đĩnh sai người vào cung giết chết, thọ 23 tuổi. Sử gọi là Lê Trung Tông.
Lê Long Đĩnh (1005-1009)
Niên hiệu: Ư'ng Thiên (1006-1007); Cảnh Thuỵ (1008-1009)
Long Đĩnh là người bạo ngược, tàn ác như Kiệt, Trụ ở bên Tàu. Khi đã giết anh,
chiếm được ngôi vua, Long Đĩnh càng tàn bạo. Vua hay lấy việc giết làm trò chơi.
Có những tội nhân phải tội hình, vua cho lấy rơm tẩm dầu quấn vào người rồi đốt
cho chết. Có trường hợp vua cho tù trèo lên cây cao rồi sai người chặt gốc cây đổ.
Vua còn bỏ ngưòi vào sọt rồi đem thả xuống sông. Vua thích chí ngồi xem đao
phủ thực hiện mệnh lệnh ác độc của mình. Có lần vua lấy mía để lên đầu nhà sư
mà róc vỏ, thỉnh thoảng vờ nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu, trông thấy thế
vua thích thú vui cười. Vào các buổi chầu, vua cho tên hề nói khôi hài, hay nhại lại
lời tâu bầy của các đại thần để gây cười. Vì sống dâm dục quá độ, vua mắc bệnh
không ngồi được. Bởi vậy đến buổi chầu, vua cứ nằm mà thị triều, cho nên tục gọi
là Ngoạ Triều.
Long Đĩnh làm vua được 2 nǎm đổi niên hiệu là Cảnh Thuỵ. Nǎm sau (1009) thì
mất, làm vua được 4 nǎm, thọ 24 tuổi.
Long Đĩnh mất, con tên là Sạ còn bé, đình thần nhân dịp tôn Lý Công Uẩn lên làm
vua, khởi dựng sự nghiệp triều Lý hiển hách. Triều Lý và các triều đại tiếp theo sẽ
được giới thiệu ở phần - Các triều đại Việt nam từ thế kỷ 11 đến thời kỳ thuộc
Pháp.

- Triều Lý - Sự phát triển của quốc gia phong kiến
- Triều Trần
- Triều Hồ và nước Đại Ngu
- Triều Hậu Trần
16
- Triều Lê Sơ
- Triều Mạc
- Triều Hậu Lê (Lê Trung Hưng)
- Triều Tây Sơn
- Dòng dõi chúa Trịnh
- Dòng dõi chúa Nguyễn
- Triều Nguyễn thời kỳ độc lập
- Thời kỳ bắt đầu thuộc Pháp
TRIỀU LÝ (1010 - 1225)
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA QUỐC GIA PHONG KIẾN ĐỘC LẬP
Lý Thái Tổ (1010-1028)
Lý Thái Tông (1028-1054)
Lý Thánh Tông (1054-1072)
Lý Nhân Tông (1072-1127)
Lý Thần Tông (1128-1138)
Lý Anh Tông (1138-1175)
Lý Cao Tông (1176-1210)
Lý Huệ Tông (1211-1225)
Lý Chiêu Hoàng (1224-1225)
Lý Thái Tổ (1010-1028)
Niên hiệu: Thuận Thiên
Người khởi dựng triều Lý là Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp, (Từ Sơn, Bắc Ninh).
Công Uẩn sinh nǎm Giáp Tuất (974), là con nuôi của thiền sư Lý Khánh Vǎn từ nǎm
3 tuổi và truyền thuyết vẫn cho rằng ông là con của Vạn Hạnh, anh ruột Khánh Vǎn.
Cũng theo truyền thuyết, ông thân sinh ra Lý Công Uẩn nhà nghèo đi làm ruộng thuê
ở chùa Tiên Sơn (An Phong, Bắc Ninh) phải lòng một tiểu nữ rồi làm nàng có thai
Nhà sư thấy thế đuổi đi nơi khác. Hai vợ chồng dẫn nhau đến khu rừng Báng mệt
mỏi, dừng lại nghỉ. Chồng khát nước, đến chỗ giếng nước giữa rừng uống, chẳng
may sẩy chân chết đuối. Vợ chờ lâu không thấy, đến xem thì đất đã đùn lấp giếng.
Người phụ nữ bất hạnh than khóc một hồi rồi xin vào ngủ nhờ ở chùa Ư'ng Tâm gần
đấy. Sư trụ trì chùa Ư'ng Tâm đêm trước nằm mơ thấy Long thần báo mộng rằng:
"Ngày mai dọn chùa cho sạch có Hoàng đế đến". Tỉnh dậy, nhà sư sai chú tiểu quét
dọn sạch sẽ, túc trực từ sáng đến chiều chỉ thấy một người đàn bà có thai xin ngủ
nhờ. Được vài tháng bỗng có chuyện lạ: Một đêm khu tam quan của chùa sáng rực
hẳn lên, hương thơm ngào ngạt lan toả. Nhà sư cùng bà hộ chùa ra xem thì thấy
người đàn bà ấy đã sinh một con trai, hai bàn tay có bốn chữ son "sơn hà xã tắc".
Sau đó, trời bỗng nổi trận mưa to gió lớn, mẹ chú bé chết ngay khi sinh con và chú
bé được nhà chùa nuôi nấng. Khi 8, 9 tuổi nhà sư cho chú bé theo học sư Vạn Hạnh
ở chùa Tiên Sơn. Chú bé đó là Lý Công Uẩn.
Công Uẩn lớn lên tỏ rõ có chí lớn khác thường. Ông đến Hoa Lư làm quan nhà Tiền
Lên đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Khi vua Thiếu Đế bị giết, ông ôm thây
vua khóc. Vua Ngoạ Triều khen là trung, cử ông làm Tả tướng quân chế chỉ huy sứ,
thống lĩnh hết quân túc vệ.
Theo truyền thuyết, làng Cổ Pháp hồi ấy có cây gạo cổ thụ bị sét đánh tước lần vỏ
ngoài lộ ra mấy câu sấm. Sư Vạn Hạnh xem cấu sấm ấy biết điềm nhà Lê đổ nhà Lý
sắp lên bèn bảo Công Uẩn rằng:
- Mới rồi tôi thấy lời phù sấm kỳ dị, biết rằng họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ
17
nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều nhưng không ai bằng ông là
người khoan từ nhân thứ, được lòng dân chúng mà binh quyền nắm trong tay. Người
đứng đầu muôn dân chẳng phải ông thì còn ai?
Sợ câu nói ấy tiết lộ, Lý Công Uẩn phải nhờ người đem giấu Vạn Hạnh ở chùa Tiên
Sơn.
Khi Lê Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn đã ngoài 35 tuổi. Vua kế tự Long đĩnh còn
nhỏ, Lý Công Uẩn chỉ huy quân túc vệ trong chốn cung cấm. Bấy giờ lòng người đã
oán giận nhà Lê nên quan Chi hậu là Đào Cam Mộc cùng các quan trong triều tôn
Lý Công Uân lên ngôi hoàng đế tức vua Thái Tổ nhà Lý. Vua Thái Tổ thấy Hoa Lư
hẹp bèn dời đô về La Thành. Tháng 7 nǎm Thuận Thiên nguyên niên (1010) vua
khởi sự rời đô. Khi ra đến La Thành, Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng
bay lên liền đổi Đại La thành Thǎng Long thành (tức Hà Nội bây giờ), đổi Hoa Lư
thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức. Vua Thái Tổ chỉnh đốn việc
cai trị, chia nước làm 24 lộ, gọi Hoan Châu và A'i Châu là trại.
Vốn thông minh bẩm sinh, lại được nhập thân vǎn hoá ở một vùng đất vǎn minh, vǎn
hiến, lại được sự nuôi dạy của những vị cao tǎng xuất chúng, Lý Công Uẩn thực sự
là người con ưu tú của dân tộc. Ông đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Đại Việt,
viết nên những trang sử oanh liệt dựng nước và giữ nước.
Chùa Ư'ng Tâm nơi ông sinh ra bây giờ có tên là chùa Dặn.
Ngôi huyệt chỗ giếng nước ở rừng Báng nǎm xưa, những gò ở xung quanh trông
giống như hoa sen nở 8 cánh nên nhà Lý truyền ngôi được 8 đời.
Vua Lý Thái Tổ trị vì 19 nǎm thì mất, thọ 55 tuổi.
Lý Thái Tông (1028-1054)
Niên hiệu:
- Thiên Thành (1028-1033);
- Thống Thuỵ (1034-1038);
- Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041);
- Minh Đạo (1042-1043);
- Thiên Cảm Thánh Võ (1044-1048);
- Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054)
Sau khi vua Lý Thái Tổ mất con trưởng của ông là Lý Phật Mã (còn có tên khác là
Lý Đức Chính) lên thay gọi là vua Lý Thái Tông, ông lên lên ngôi đúng vào tuổi
thanh niên cường tráng: 28 tuổi (ông sinh nǎm 1000, lên ngôi nǎm 1028). Anh em
trong gia đình vua Lý Thái Tổ cũng khá đông. Vì vậy, vua Lý Thái Tổ vừa mất chưa
làm lễ tế táng, các hoàng tử Võ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chính
Vương đã mang quân bản bộ đến vây thành để tranh ngôi của Thái tử.
Phật Mã biết âm mưu của mấy người em phản loạn ấy. Ông vội vàng tổ chức việc
phòng giữ cung cấm, rồi cho gọi các tướng tá thuộc hạ của mình vào bàn cách đối
phó. Sau khi dẹp xong loạn ông chính thức lên ngôi lấy niên hiệu Thiên Thành khi
ông vừa tròn 28 tuổi. Ông đã tham gia nhiều trận chiến với những chiến công chói
lọi, mang lại sự bình yên thịnh vượng cho dân chúng. Ông cho xây dựng chùa Một
Cột nǎm 1049, ông còn dạy cung nữ dệt gấm vóc để dùng và không dùng vải của
nước Tống nữa.
Vua Lý Thái Tông trị vì được 27 nǎm, đến nǎm Giáp Ngọ (1054) thì mất thọ 55 tuổi.
Lý Thánh Tông (1054-1072)
18
Niên hiệu:
- Long thuỵ Thái Bình (1054-1058)
- Chương thánh Gia Khánh (1059-1065)
- Long chương Thiên tự (1066-1967)
- Thiên chức Bảo Tượng (1068)
- Thần võ (1069-1072)
Vua Lý Thánh Tông tên thật là Lý Nhật Tôn con trai vua Lý Thái Tông sinh ngày 25
tháng 2 nǎm Quí Hợi (1023). Khi vua Lý Thái Tông mất ông lên ngôi ở tuổi 31. Ông
đã theo cha chinh chiến nhiều nơi và lập nhiều chiến công xuất sắc. Ông có một tấm
lòng vị tha trung hậu, ân xá cho nhiều kẻ tù tội không đáng tội, cho xây dựng nhiều
chùa chiền. Thời Ông trị vì Ông đặc biệt chú trọng công việc chính trị, an dân, trọng
nông, lưu tâm đến việc phòng bị đất nước và phát huy thanh thế quân uy của mình
đối với nước ngoài. Ông lập Hoàng hậu là Nguyên Phi Y' Lan, nǎm Nhâm Thân
(1072) vua Lý Thánh Tông chết đột ngột, trị vì được 17 nǎm, thọ 50 tuổi.
Lý Nhân Tông (1072-1127)
Niên hiệu:
- Thái Ninh (1072-1075)
- Anh Võ Chiêu Thắng (1076-1084)
- Quảng Hữu (1085-1091)
- Hội Phong (1092-1100)
- Long Phù (1101-1109)
- Hội Tường Đại Khánh (1110-1119)
- Thiện Phù Duệ Võ (1120-1126)
- Thiên Phù Khánh Thọ (1127)
Lý Nhân Tông có tên gọi là Lý Càn Đức con của vua Lý Thánh Tông và Nguyên Phi
Y' Lan, sinh ngày 25 tháng giêng nǎm Bính Ngọ (1066), vua Lý Thánh Tông mất
sớm khi Càn Đức mới 7 tuổi. Lý Nhân Tông lên ngôi nǎm 1072 vì ít tuổi nên phải
nhờ sự giúp đỡ của mẹ là Thái Phi Y' Lan. Đến tuổi trưởng thành, Ông bộc lộ nhiều
khả nǎng chính trị, chú trọng người tài giỏi đưa vào Viện Hàn lâm. Ông còn rất quan
tâm đến vấn đề nông nghiệp nên cho đắp đê phòng chống lũ lụt. Có một điều không
vui đối với vua Lý Nhân Tông là Ông không có con trai.
Lý Nhân Tông làm vua đến nǎm 1127 thì mất trị vì được 56 nǎm, thọ 63 tuổi.
Lý Thần Tông (1128-1138)
Niên hiệu
- Thiên Thuận (1128-1132)
- Thiên Chương Bảo Tự (1133-1137)
Vua Lý Nhân Tông khồng có con trai, lập con của Hoàng Đệ là Sùng Hiền hầu
Dương Hoán lên làm thái tử nay kế vị ngôi Hoàng Đế tức là Vua Thần Tông.
Thần Tông vừa lên ngôi liền đại xá cho các tù phạm và trả lại ruộng đất tịch thu của
quân dân ngày trước. Vua thực hiện chính sách ngụ binh ư nông, cho binh lính đổi
phiên cứ lần lượt 6 tháng một lần được về làm ruộng. Do vậy sản xuất nông nghiệp
phát triển. Dân no đủ nên giặc giã cũng ít. Thần Tông làm vua được 10 nǎm, thọ 23
tuổi.
Lý Anh Tông (1138-1175)
Niên hiệu:
19
- Thiệu Minh (1138-1139)
- Đại Đinh (1140-1162)
- Chính Long Bảo Ư'ng (1163-1173)
- Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)
Vua Lý Anh Tông là con trai vua Lý Thần Tông kế vị ngôi vua khi mới 3 tuổi. Bởi
vậy, Thái hậu Lê Thị cầm quyền nhiếp chính. Lê Thái hậu lại tư thông với Đỗ Anh
Vũ, nên mọi việc lớn nhỏ trong triều đều nằm trong tay vị đại thần họ Đỗ này cả.
May thay triều đình lúc đó có nhiều tôi giỏi như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền,
Lý Công Tín nên tham vọng của Đỗ Anh Vũ bị chặn lại. Tô Hiến Thành giúp vua
đánh Đông dẹp Bắc, giữ cho nước được yên mà còn luyện tập quân lính kén chọn
những người tài giỏi cho làm tướng, coi quân trị dân. Bởi vậy, nước Đại Việt hồi ấy
trở nên hùng mạnh.
Vua Anh Tông mất (1176), trị vì được 37 nǎm, thọ 40 tuổi, đổi niên hiệu 4 lần
Lý Cao Tông (1176-1210)
Niên hiệu:
- Trịnh Phù (1176-1185)
- Thiên Tư Gia Thuỵ (1186-1209)
- Thiên Gia Bảo Hựu (1202-1204)
- Trị Bình Long Ư'ng (1205-1210)
Vua Lý Cao Tông (tên gọi là Lý Long Cán) con thứ của vua Anh Tông lên ngôi lúc
3 tuổi (nǎm 1176). Khi còn bé được người hiền tài là Thái Uý Tô Hiến Thành giúp
đỡ, về sau do bị bệnh Tô Hiến Thành mất (lúc đó Lý Long Cán mới được 6 tuổi)
triều đình đã không nghe lời ông trong việc sử dụng người. Triều đình bắt đầu suy.
Khi Lý Cao Tông trực tiếp cầm quyền trị nước thì tình hình đổi khác, từ chỗ là một
cậu bé thiếu niên hiền lành thông minh, Cao Tông bỗng trở nên ham mê sǎn bắn, vơ
vét của dân xây nhiều cung điện, bắt trǎm họ phải phục dịch khổ sở, nạn trộm cướp
nổi lên như ong. Nǎm 1208 bọn côn đồ nổi loạn cướp phá của dân, vua Cao Tông sai
Phạm Bỉnh Di đi dẹp loạn, sau đó lại nghe lời dèm pha mà giết Bỉnh Di. Bọn tay
chân của Bỉnh Di tức giận, nổi loạn cướp quyền, Vua phải bỏ trốn lên vùng sông
Thao. Về sau con trai Cao Tông là Lý Sảm rước vua về kinh được một nǎm thì mất
(1210), Ông trị vì được 35 nǎm thọ 38 tuổi.
Lý Huệ Tông (1211-1225)
Niên hiệu: Kiến Gia
Vua Lý Huệ Tông tức Lý Sảm, con trai vua Lý Cao Tông, Ông kế vị ngôi vua lúc 17
tuổi (nǎm 1211). Sinh thời vua Lý Cao Tông đã rất bê tha, đất nước lúc này lại đang
suy đồi, vua Huệ Tông nếu biết phát huy tài nǎng thì sẽ có nhiều hứa hẹn. Nhưng khi
ông lên ngôi lại chỉ lo lắng cho mối tình đầu của mình, chứ không chú ý gì đến việc
quốc gia đại sự. Đàm Thái Hậu mẹ vua Huệ Tông hắt hủi Nguyên phi Trần Thị
Dung là vợ vua Huệ Tông. Sau đó vua và Nguyên phi phải trốn đi nửa nǎm sau mới
về lại cung (nǎm 1216), lúc này Đàm Thái Hậu không dám ngǎn trở mối tình này
nữa, Trần Thị Dung được phong làm Hoàng hậu tháng 12 nǎm 1216.
Nhưng mối tình mặn nồng ấy không được lâu dài. Từ ngày Trần Thị Dung trở thành
Hoàng hậu, vua lại bị mắc bệnh trúng phong, chữa mãi không khỏi ông dần dần phát
điên (nǎm 1217). Anh của Trần Thị Dung là Trần Tự Khánh đang giữ chức Thái Uý
cho nhà vua đã tìm cách đưa anh em bà con họ Trần vào chiếm lĩnh các vị trí quan
trọng trong triều và trong quân. Trần Thủ Độ được vào coi sóc đạo quân. Trần Thừa
20
cũng được giao những nhiệm vụ lớn. Khi Trần Tự Khánh mất thì Trần Thừa được cử
làm Phụ quốc thái uý, ngày đêm hỗ trợ cho Lý Huệ Tông coi sóc chính sự. Lý Huệ
Tông vẫn mang trọng bệnh, các danh y có tiếng cũng đành bó tay. Ông không có con
trai (Hoàng hậu chỉ sinh được hai người con gái) đành phải truyền ngôi cho công
chúa Chiêu Thánh (con thứ hai) khi nàng mới được 8 tuổi.
Tháng 10 nǎm Giáp Thân (1224) Lý Huệ Tông truyền ngôi cho Chiêu Thánh rồi vào
tu tại chùa Chân giáo trong đại nội, lúc tỉnh, lúc mê. Có lần ông ngồi nhổ cỏ trước
chùa Trần Thủ Độ đi qua, bảo với ông rằng " Nhổ cỏ thì phải nhổ cả gốc". Ông hiểu
ý ngay quay vào tự tử, nǎm ấy ông 33 tuổi trị vị được 14 nǎm.
Lý Chiêu Hoàng (1225)
Niên hiệu: Thiên Chương Hữu Đạo
Tên thật của nàng là Phật Kim còn có tên là Chiêu Thánh nàng sinh vào tháng 9 nǎm
Mậu Dần (1218).
Chiêu thánh công chúa lên ngôi nǎm Giáp Thân (1224) tức là Lý Chiêu Hoàng. Vua
còn nhỏ nên quyền binh ở cả Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ đưa Trần Cảnh là con thứ
hai của Trần Thừa, lúc đó mới lên 8 tuổi cùng tuổi với Lý Chiêu Hoàng, Chiêu
Hoàng thấy Trần Cảnh đem lòng mến yêu. Ngày 21 tháng 10 nǎm Â't Dậu (1225) có
chiếu của Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, ngày 11 tháng 12 nǎm Â't Dậu
(1225) Chiêu Hoàng thiết Triều ở điện Thiên An ngự trên giường báu, các quan mặc
triều phục lạy ở sân rồng. Chiêu Hoàng trút bỏ áo ngự, khuyên mời Trần Cảnh lên
ngôi vua. Sau 3 lần nhún nhường làm phép, Trần Cảnh ngồi lên ngai vàng chính
thức làm Hoàng Đế.
Lấy nhau hơn chục nǎm Chiêu Hoàng vẫn không sinh nở gì. Trần Thủ Độ lo vua
Thái Tông Trần Cảnh tuyệt tự, bèn đem Thuận Thiên chị ruột của Chiêu Hoàng
(đang là vợ của Trần Liễu đang có mang) ép gả cho Trần Cảnh. Sau đó, Thủ Độ ép
Trần Cảnh phế bỏ Chiêu Hoàng lập Thuận Thiên làm Hoàng Hậu. Chiêu Hoàng đau
khổ, ẩn trong cung sâu, toan dứt nợ trần tục.
Nhưng 20 nǎm sau, khi Chiêu Hoàng tròn 40 tuổi, mùng một Tết nǎm Mậu Ngọ
(1258), sau khi đánh tan cuộc xâm lược của quân Nguyên lần thứ nhất, vua Thánh
Tông Trần Cảnh đặt đại lễ ở chính điện, có lệnh gả Chiêu Hoàng cho Lê Phụ Trần,
một đại tướng có công lớn trong cuộc đại chiến vừa qua. Lần này Chiêu Hoàng tìm
thấy hạnh phúc thực sự, bà sinh hai người con: Lê Tông sau được phong tước
Thượng Vị Hầu và Ngọc Khê sau được phong là Ư'ng Thuỵ công chúa.
Chiêu Hoàng mất nǎm 60 tuổi. Tương truyền tóc bà vẫn đen, môi vẫn đỏ như son,
đôi má vẫn một màu hoa đào.
Như vậy Triều Lý tồn tại trong 215 nǎm thì tan rã. Trải qua 9 đời vua
TRIỀU TRẦN (1225-1400)
Trần Thái Tông (1225-1258)
Trần Thánh Tông (1258-1278)
Trần Nhân Tông (1279-1293)
Trần Anh Tông (1293-1314)
Trần Minh Tông (1314-1329)
Trần Hiến Tông (1329-1341)
Trần Dụ Tông (1341-1369)
Trần Nghệ Tông (1370-1372)
Trần Duệ Tông (1372-1377)
21
Trần Phế Đế (1377-1388)
Trần Thuận Tông (1388-1398)
Trần Thiếu Đế (1398-1400)
Trần Thái Tông (1225-1258)
Niên hiệu:
- Kiến Trung (1225-1231)
- Thiên ứng chính Bình (1232-1250)
- Nguyên Phong (1251-1258)
Vị vua đầu tiên của nhà Trần, sinh ngày 16 tháng 6 nǎm Mậu Dần (1218) tại hương
Tức Mặc Phủ Thiên Trường, nay là thôn Tức Mặc xã Lộc Vượng ngoại thành Nam
Định. Ông có tên thật là Trần Cảnh con trai Trần Thừa, cháu gọi Trần Thủ Độ bằng
chú. Việc lên ngôi của Ông do tài sắp đặt của Trần Thủ Độ mà nên, lúc ấy ông mới
tròn 8 tuổi. Trần Thủ Độ đã thu xếp cho Trần Cảnh được làm chức chánh hậu, có tên
gọi là chức Chánh thủ. Ban đầu chỉ được hầu hạ bên ngoài, sau vài lần được vào
trong để bưng nước rửa cho vua. Vua lúc bấy giờ là Lý Chiêu Hoàng (Con gái vua
Lý Huệ Tông, cô là vị vua sau cùng của nhà Lý). Sau nhờ Trần Thủ Độ thu xếp Lý
Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho Trần Cảnh tức là vua Trần Thái Tông.
Trần Cảnh lên ngôi nhưng việc quân sự thì do Trần Thủ Độ nắm việc chính trị thì do
cha làm Thượng hoàng giúp đỡ, song những người này trình độ vǎn hoá cũng còn
nhiều hạn chế. Các quan nhà Lý ở lại phục vụ nhiều, song không thấy nói có một ai
được chính thức giúp vua làm phụ chính. Vậy mà trong suốt những nǎm đầu ở tuổi
thiếu nhi, Trần Cảnh đã được sử sách ghi chép đúng như một ông vua có tài.
Để giữ vững an ninh đất nước, Trần Thủ Độ đã giúp nhà vua dần ổn định được tình
hình, lợi dụng các mâu thuẫn giữa các tay quân phiệt và dần dần dẹp yên được nội
loạn.
Khi bước sang tuổi thành niên, Ông đã phát huy rõ rệt tài nǎng xuất sắc của mình.
Nhưng trước khi thực sự nắm chắc quyền hành của mình, Ông đã phải chịu một nỗi
đau, khiến Ông phải xót xa ân hận mà không biết phải xử trí ra sao, nguyên nhân là
Chiêu Thánh Hoàng hậu lấy Ông đã được 12 nǎm mà vẫn chưa có con, trong khi
triều Trần cần kíp phải có Hoàng tử. Trần Thủ Độ đã nhất quyết buộc Ông phải bỏ
Chiêu Thánh lập Hoàng hậu mới là Thuận Thiên chị ruột của Chiêu Thánh, hiện là
vợ của Trần Liễu (anh của Trần Cảnh) đang có mang khiến Trần Cảnh đau khổ bỏ
trốn ra khỏi kinh thành lên núi Yên Tử trú ngụ (1236). Trần Thủ Độ phải trổ hết
mưu mẹo mới rước được Ông về kinh.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông đầu nǎm Đinh Tý (1-1258) vua Trần
Thái Tông đã biết dựa vào Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn (tức Hưng Đạo vương,
con của Trần Liễu) để lãnh đạo nhân dân Đại Việt quyết chống giặc.
Tháng 12 nǎm Đinh Tý (1258), vua Thái Tông đã cùng Thái Tử Hoảng chỉ huy quân
Tần phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, giải phóng Thǎng Long.
Trần Thái Tông được sử sách lưu truyền bởi ông là một nhà Thiền học, một triết gia
có những tư tưởng sâu sắc, một cốt cách độc đáo. Lúc làm vua ông đã thân chinh đi
đánh giặc, xông vào mũi tên hòn đạn, làm vua thì xem thường vinh hoa phú quý, có
thể từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc.
Mùa Xuân nǎm Mậu Ngọ (1258), Thái Tông nhường ngôi cho Thái Tử Trần Hoảng,
triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng Hoàng để cùng coi việc nước. Thái
Tông làm vua được 33 nǎm, làm Thái Thượng Hoàng 19 nǎm thì mất, thọ 60 tuổi.
22
Trần Thánh Tông (1258-1278)
Niên hiệu:
- Thiện Long (1258-1272)
- Bảo Phù (1273-1278)
Vua Trần Thái Tông có 6 người con: Trần Quốc Khang (thực là con của Trần Liễu
với Thuận Thiên), Trần Hoảng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật và các công chúa
Thiều Dương, Thuỵ Bảo.
Mùa xuân nǎm Mậu Ngọ (1258), Thái tử Hoảng sinh nǎm 1240 lên nối ngôi lấy hiệu
là Thánh Tông.
Vua Thánh Tông sống hoà hợp thân ái với các hoàng thân, vua dốc lòng xây dựng
đất nước thái bình, thịnh trị. Vua quan tâm đến việc giáo hoá dân, khuyến khích việc
học hành, mở những khoa thi chọn người tài và trọng dụng họ. Dưới thời ông Bộ
Đại Việt ký sử, bộ quốc sử đầu tiên của nước ta, được Lê Vǎn Hưu hoàn thành nǎm
Nhân Thân (1272).
Vua còn quan tâm đến dân nghèo bằng việc ra lệnh cho các vương hầu, phò mã
chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc để khai khẩn ruộng hoang, lập trang hộ.
Trang điền có từ đấy. Vì vậy, trong suốt 21 nǎm làm vua đất nước không có giặc giã.
Nơi nơi dân chúng yên ổn làm ǎn.
Vua Thánh Tông thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo, nhưng rất kiên quyết,
nhằm bảo vệ danh dự cho tổ quốc, ngǎn chặn từ xa mọi sự dòm ngó, tạo cớ xâm
lược của nhà Nguyên.
Nǎm Đinh Sửu (1277) Thái thượng hoàng Trần Thái Tông mất ở phủ Thiên Trường
(Tức Mạc. Nǎm sau đó vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm
rồi về phủ Thiên Trường làm Thái thượng hoàng.
Vua Trần Thánh Tông trị vì được 21 nǎm, làm Thái thượng hoàng được 13 nǎm thì
mất, thọ 51 tuổi.
Trần Nhân Tông (1279-1293)
Niên hiệu:
- Thiệu Bảo (1279-1284)
- Trùng Hưng (1258-1293)
Vua Trần Thánh Tông có 3 người con: Thiên Thuỵ công chúa, Thái Tử Khâm và Tả
thiên Vương Đức Việp. Nǎm Kỷ Mão (1279), Thái tử Khâm Sinh nǎm Mậu Ngọ
(1258) kế vị ngôi vua lấy hiệu là Nhân Tông.
Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, quyết đoán được sử sách ca ngợi là vị anh hùng
cứu nước. Thời gian Trần Nhân Tông trị vì, nước Đại Việt đã trải qua những thử
thách ghê gớm, nhưng Triều đại nhà Trần dưới quyền ông quả là một thời thịnh trị.
Những nǎm đầu cầm quyền, Trần Nhân Tông đã phải trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng
chiến chống giặc Nguyên Mông. Ông đã cùng vua cha Trần Thánh Tông, mở hội
nghị quân sự Bình Than, phân công các tướng lĩnh đi đóng giữ những nơi hiểm yếu
để chuẩn bị đỡ các mũi tiến công của địch (1282). Ông lại cùng với cha tổ chức hội
nghị Diên Hồng (1284) để nhất trí trẻ già một lòng quyết đánh. Chưa bao giờ tinh
thần đánh giặc ở nước ta lại phát triển mạnh như thế. Quân ta đã đại thắng tại trận
Bạch Đằng (9-4-1288), đè bẹp ý đồ bành trướng của đế quốc Nguyên Mông. Chiến
công này là của toàn dân, của những vị nguyên soái, đại tướng tài giỏi như Trần
Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão...
Sau 14 nǎm làm vua Trần Nhân Tông truyền ngôi cho con là Anh Tông về làm Thái
23
thượng hoàng và đi tu trở thành thuỷ tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, để lại dấu ấn
sâu sắc trong lịch sử Việt nam. Trần Nhân Tông qua đời nǎm 1308 tại am Ngoạ Vân
núi Yên Tử.
Trần Anh Tông (1293-1314)
Niên hiệu: Hưng Long
Vua Trần Anh Tông có tên thật là Trần Thuyên được vua cha là Trần Nhân Tông
truyền ngôi nǎm 1293 khi Ông 17 tuổi. Tuổi trẻ ham chơi nên ông không để ý đến
việc triều chính chỉ lo lang thang các phố chè chén múa hát. Sau khi bị cha phát hiện
và trách phạt Ông đã thay đổi tính tình trở thành con người mẫn cán, chǎm chỉ, rất
chú trọng việc trị nước an dân. Ông chú ý giữ gìn bờ cõi, dùng sức mạnh thị uy để
những nước láng giềng không được gây hấn. Ông rất trọng dụng người hiền tài,
nghiêm khắc với những thói bê tha chơi bời quá mức. Dưới triều đại của ông các
quan lại đều rất xứng với chức sắc của mình, đã hoàn thành được công việc mà lại
còn được lưu tiếng tốt: cương trực, thanh liêm.
Anh Tông trị vì 21 nǎm. Ngay 18 tháng 3 nǎm Giáp Dần (1314) nhường ngôi cho
con là Minh Tông, để trở thành thượng hoàng, lúc đó ông 38 tuổi. Nǎm Canh Thân
(1320) Anh Tông mất, thọ 54 tuổi.
Trần Minh Tông (1314-1329)
Niên hiệu:
- Đại Khánh (1314-1323)
- Khai Thái (1324-1329)
Vua Trần Minh Tông sinh nǎm 1300 có tên là Trần Mạnh con vua Trần Anh Tông
và bà Chiêu Hiến (con gái của Trần Bình Trọng). Vua Minh Tông có lòng nhân hậu ,
hay thương người nhưng xét việc chưa minh. Nǎm Â't Mão (1315) vua định lệ cấm
người trong họ không được kiện cáo nhau. Nǎm Quý Hợi (1323) mở khoa thi Thái
học sinh chọn người tài ra giúp nước. Nhờ biết tôn trọng kẻ sĩ nên vua Trần Minh
Tông đã có dưới trướng mình những hiền thần như Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão,
Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Vǎn An giúp rập. Tuy nhiên do quá tin
vào bọn nịnh thần, vua đã giết oan Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn, một người có
công, là chú ruột đồng thời là bố vợ mình. Minh Tông làm vua đến nǎm Kỷ tị (1329)
thì nhường ngôi cho Thái tử Vượng về làm Thái thượng hoàng.
Trần Hiến Tông (1329-1341)
Niên hiệu: Khai Hưu
Thái tử Vượng con vua Minh Tông sinh nǎm Kỷ Mùi (1319), mới 10 tuổi lên nối
ngôi, hiệu là Hiến Tông. Hiến Tông trị vì nhưng việc điều khiển triều chính, kể cả
việc dẹp loạn Ngưu Hống ở Đà Giang, đánh quân Ai Lao xâm phạm bờ cõi đều do
Thượng hoàng Minh Tông đảm nhận.
Hiến Tông làm vua đến nǎm Tân Tị (1341) thì mất, ở ngôi được 13 nǎm thọ 23 tuổi.
Trần Dụ Tông (1341-1369)
Niên hiệu:
- Thiệu Phong (1341-1357)
- Đại Trị (1358-1369)
Vua Hiến Tông không có con nên việc truyền ngôi báu do Thượng hoàng xếp đặt.
Thượng hoàng Minh Tông có 7 con trai: Hiến Tông Vượng, Cung Túc vương Dục,
Cung Định vương Trạch, Dụ Tông Hạo, Cung Tĩnh vương Nguyên Trạch, Nghệ
Tông Phủ, Duệ Tông Kính.
24
Hiến Tông mất, Thượng hoàng lập người con tên Hạo, sinh nǎm Bính Ngọ (1336)
lên làm vua hiệu là Dụ Tông. Những nǎm đầu những quyền bính đều do Thượng
hoàng Minh Tông điều khiển. Bởi thế, dù có mất mùa dân đói nhưng việc chính trị
vẫn còn nền nếp. Từ nǎm 1358 trở đi, Thượng Hoàng mất, các cựu thần như Trương
Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng không còn, triều đình bắt đầu rối loạn. Bọn
gian thần kéo bè kết đảng lũng đoạn triều chính. Chu Vǎn An dâng "thất trảm sớ",
xin chém 7 gian thần nhưng vua không nghe, ông liền bỏ quan về dạy học. Vua Dụ
Tông ham chơi bời rượu chè khiến triều đình rối nát loạn nổi lên như ong. Nhân dân
cực khổ trǎm bề. Vua Chiêm là Chế Bồng Nga mấy lần đem quân đánh phá thành
Thắng Long khiến triều Trần nhiều phen khốn đốn.
Nǎm Kỷ Dậu (1369) vua Dụ Tông mất thì bão táp đã nổi lên ở cung đình. Nguyên
do, Dụ Tông không có con nên triều đình lập Cung Định vương là anh Dụ Tông lên
làm vua nhưng bà Hoàng thái hậu nhất định đòi lập người con nuôi của Cung Túc
vương là Dương Nhật Lễ lên ngôi. Nguyên mẹ Nhật Lễ là một đào hát, lấy một kép
hát boịo là Dương Khương có thai rồi mới bỏ Dương Khương mà lấy Cung Túc
vương sinh ra Nhật Lễ. Nay lên làm vua, Nhật Lễ muốn cải họ Dương để dứt ngôi
nhà Trần rồi giết bà Hoàng thái hậu cùng Cung Định Vương. Cung Tĩnh vương vốn
nhu nhược thấy thể bỏ trốn lên mạn Đà Giang.
Trước tình hình nội chính rối ren, các tôn thất nhà Trần hội nhau khởi binh về bắt
giết Nhật Lễ rồi rước Cung Tĩnh vương về làm vua, tức vua Trần Nghệ Tông.
Trần Nghệ Tông (1370-1372)
Niên hiệu: Thiệu Khánh
Cung Tĩnh vương sinh nǎm Â't Sửu (1324) do các tôn thất nhà Trần phò giúp, lên
ngôi nǎm Canh Tuất (1370).
Nghệ Tông lên làm vua chưa được bao lâu đã phải lao đao chạy giặc. Nguyên do,
khi Nhật Lễ bị giết, mẹ Nhật Lễ chạy vào Chiêm Thành cầu cứu vua Chế Bồng Nga
đem quân đánh Đại Việt. Quân Chiêm vượt bể vào cửa Đại An tiến đánh Thǎng
Long. Quân Trần không chống nổi, phải bỏ kinh thành. Vua Nghệ Tông chạy sang
Đông Ngàn (Đình Bảng, Bắc Ninh).
Vua nhu nhước, bất lực không điều khiển nổi triều chính phải trao cho Hồ Quý Ly
nhiều quyền hành. Hồ Quý Ly có hai người cô lấy vua Minh Tông. Một người là M
inh Từ hoàng hậu sinh ra vua Duệ Tông, một người là Minh Tử hoàng hậu sinh ra
vua Duệ Tông.
Nǎm Nhâm Tý (1372) Nghệ Tông truyền gôi cho em là Kính rồi về phủ Thiên
Trường làm Thái thượng hoàng.
Trần Duệ Tông (1372-1377)
Niên hiệu: Long Khánh
Trần Kính sinh nǎm Đinh Mùi (1337) lên ngôi lấy hiệu là Duệ Tông, lập em họ Hồ
Quý Ly là Lê Thị làm Hoàng hậu. Duệ Tông quyết đoán hơn nhưng không thể làm
được gì vì quyền bính vẫn do Thượng hoàng Nghệ Tông nắm giữ.
Nǎm Bính Thìn (1376), quân Chiên sang đánh Hoá Châu (Nghệ An). Thấy Chiêm
Thành luôn xâm phạm bờ cõi Đại Việt, vua Duệ Tông quyết thân chinh đem quân đi
trừng phạt.
Tháng Giêng nǎm Đinh Tỵ (1377) Duệ Tông tiến quân vào cửa Thị Nại (Quy Nhơn)
đánh lấy đồn Thạch Kiều và động Kỳ Mang rồi tiến vào Đồ Bàn, kinh đô vua
Chiêm. Chế Bồng Nga lập đồn giữ ở ngoài thành, cho người trá hàng nói Chế Bồng
Nga đã bỏ thành chạy trốn, xin tiến binh ngay. Duệ Tông tưởng thật, truyền lệnh tiến
25