Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Hướng dẫn đánh giá độ không đảm bảo đo trong phân tích hoá học định lượng.pdf


VĂN PHÒNG CÔNG NHẬN CHẤT LƯỢNG
Bureau of Accreditation (BoA)
HỆ THỐNG CÔNG NHẬN PHÒNG THÍ NGHIỆM VIỆT NAM
Vietnam Laboratory of Accreditation Scheme (VILAS)



HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ ĐỘ KHÔNG ĐẢM BẢO ĐO

TRONG PHÂN TÍCH HOÁ HỌC ĐỊNH LƯỢNG

Mã số: AGL 18
Lần ban hành: 1.04
Ngày ban hành:



Biên soạn Xem xét Phê duyệt
Họ tên
Hoàng Thanh Dương
Vũ Xuân Thủy
TS.Hồ Tất Thắng
Ký tên

THEO DÕI SỬA ĐỔI TÀI LIỆU

TT Vị trí Nội dung sửa đổi Ngày sửa đổi











Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 1

Lời mở đầu: Huớng dẫn này được xây dựng dựa trên nguyên tắc của các tài liệu sau:
1. EURACHEM: Quantifying Uncertainty in Analytical Measurement, Laboratory of the
Government chemist, London, UK, 1995. ISBN 0-948926-08-02.
2. Guide to the Expression of Uncertainty in Measurement, ISO, Geneva, Switzerland 1993.
ISBN 92-67-10188-9.
3. Protocol for uncertainty evaluation from validation data, Valid Analytical Measurement,
report number LGC/VAM/1998/088, January 2000.
4. ISO 5725:86: Accuracy (trueness and precision) of measurement methods and results Part
1-6

GIỚI THIỆU CHUNG

Tài liệu này xây dựng nhằm hỗ trợ các phòng thử nghiệm, đặc biệt là các phòng thử nghiệm
lĩnh vực hóa học để có thể ước lượng độ không đảm bảo đo cho các phép thử. Tài liệu chia
làm hai phần trình bày. Phần 1 giới thiệu các cách tiếp cận chung để tính độ không đảm bảo
cho các phép thử và phần sau đó trình bày chi tiết một cách thức ước lượng độ không đảm bảo
dựa vào các dữ liệu phê duyệt phương pháp thử nghiệm. Ngoài ra hướng dẫn còn nêu một số
phụ lục hỗ trợ.

PHẦN A:
ƯỚC LƯỢNG ĐỘ KHÔNG ĐẢM BẢO ĐO THEO NGUYÊN TẮC CỦA ISO GUM VÀ EURACHEM


GIỚI THIỆU VỀ PHIÊN BẢN LẦN THỨ 2 CỦA EURACHEM
Nhiều quyết định quan trọng dựa vào kết quả phân tích hoá học định lượng; các kết quả được
sử dụng như để ước lượng sản lượng, kiểm tra vật liệu theo yêu cầu kỹ thuật hoặc giới hạn qui
định của luật pháp hoặc để ước lượng các giá trị tiền tệ. Bất cứ quyết định nào dựa vào kết
quả phân tích cũng quan trọng vì nó biểu thị mặt chất lượng của kết quả, nói rộng hơn đó là
mức độ tin cậy cho mục đích sử dụng. Những người sử dụng kết quả phân tích hoá học, cụ thể
trong các lĩnh vực liên quan đến thương mại quốc tế đang đi theo hướng là phải chịu áp lực
ngày càng tăng để làm sao cố gắng mở rộng trong việc công bố kết quả. Mức độ tin cậy trong
dữ liệu cung cấp ra bên ngoài cho người sử dụng của tổ chức là một điều kiện đòi hỏi trước
tiên cần đáp ứng. Trong một vài lĩnh vực của hoá học phân tích hiện nay yêu cầu theo đúng
luật pháp là các phòng thử nghiệm phải giới thiệu biện pháp đảm bảo chất lượng để đảm bảo
năng lực để cung cấp các dữ liệu theo đúng yêu cầu chất lượng. Biện pháp bao gồm: sử dụng
các phương pháp phân tích đã được phê duyệt; áp dụng các thủ tục đã xác định để kiểm soát
chất lượng nôi bộ; tham gia vào các hệ thống thử nghiệm thành thạo (chương trình thử
nghiệm thành thạo); công nhận theo ISO/IEC 17025 và thiết lập liên kết chuẩn đo lường của
các kết quả.
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 2
Trong phân tích hoá học những điều cần chú trọng là độ chụm của các kết quả công bố sử
dụng một phương pháp xác định hơn là tính liên kết của chúng tới chuẩn được xác định hoặc
hệ đơn vị SI. Điều đó có nghĩa là sử dụng các phương pháp chuẩn “ official methods” để đáp
ứng yêu cầu của thương mại và luật pháp. Tuy nhiên cho đến nay một yêu cầu chính thức để
thiết lập mức độ tin cậy của các kết quả là cần thiết, một kết quả đo là có thể liên kết tới chuẩn
được xác định như hệ đơn vị SI, chất chuẩn được xác định hoặc nếu thích hợp theo phương
pháp kinh nghiệm (xem 5.2). Các thủ tục kiểm soát chất lượng nội bộ, thử nghiệm thành thạo
và sự công nhận để nhằm thiết lập các bằng chứng của việc liên kết tới chuẩn.
Theo các yêu cầu trên, một nhiệm vụ của nhà phân tích phải chịu một áp lực là phải chứng
minh chất lượng kết quả thử nghiệm của họ và cụ thể để chứng minh sự phù hợp mục đích sử
dụng của kết quả bằng cách đo mức độ tin cậy đi kèm với kết quả. Điều này bao gồm mức độ
mà một kết quả có thể hi vọng để chấp nhận cho các kết quả khác, thường không kể đến
phương pháp sử dụng. Một trong các cách đo thông dụng là đo độ không đảm bảo.
Dù khái niệm độ KĐB đã được các nhà phân tích thừa nhận trong nhiều năm, thể hiện qua tài
liệu ban hành năm 1993 “Hướng dẫn diễn đạt độ KĐB đo”.[H.2] của ISO cùng với BIPM,
IEC, IUPAC, IUPAP và OIML ban hành đưa ra các qui tắc chung để đánh giá và diễn đạt độ
KĐB đo qua các lĩnh vực rộng lớn của đo lường. Tài liệu EURACHEM chỉ ra khái niệm
trong hướng dẫn của ISO có thể áp dụng trong phân tích hoá học. Đầu tiên sẽ giới thiệu khái
niệm độ KĐB và sự khác nhau giữa độ KĐB và sai số. Mô tả qui trình bao gồm các bước
đánh giá độ KĐB với các qui trình minh hoạ bởi ví dụ trong phụ lục A.
Đánh giá độ KĐB yêu cầu nhà phân tích phải xem xét một cách kỹ lưỡng tất cả các nguồn có
thể gây ra độ KĐB. Do đó để nghiên cứu chi tiết về vấn đề này có thể yêu cầu một sự cố gắng
lớn để có thể nghiên cứu được các nguồn gây ra độ KĐB nhưng cần chú ý là sự cố gắng
nghiên cứu nên tránh bị mất cân đối. Thực tế nghiên cứu cơ bản phải xác định nhanh chóng
những nguồn gây ra độ KĐB đáng kể và như đã nêu trong ví dụ, giá trị đưa ra để tổng hợp độ
KĐB tổng hầu như hoàn toàn được kiểm soát bởi các phân bố chính. Ước lượng độ KĐB tốt
có thể thu được từ việc tập trung vào các ảnh hưởng của các nguồn lớn nhất. Hơn nữa đánh
giá lần đầu tiên cho một phương pháp áp dụng trong một PTN cụ thể (ví dụ một thủ tục đo cụ
thể), độ KĐB ước lượng đưa ra có thể tin cậy để áp dụng cho các kết quả của một phương
pháp khác trong một PTN, để cung cấp bằng chứng chứng minh bằng dữ liệu kiểm soát chất
lượng liên quan. Không nên cố gắng quá nếu không bản thân thủ tục hoặc thiết bị sử dụng bị
thay đổi, trong một số trường hợp ước lượng độ KĐB được xem xét lại như một phần thông
thường của việc tái phê duyệt phương pháp.
Phiên bản đầu tiên của hướng dẫn EURACHEM “Đánh giá độ KĐB trong phân tích định
lượng”[H.3] ban hành năm 1995 dựa vào hướng dẫn ISO.
Phiên bản thứ hai của hướng dẫn EURACHEM được soát xét và ban hành dựa vào kinh
nghiệm thực tế về ước lượng độ KĐB trong các PTN hoá và có nhận thức lớn về sự cần thiết
của việc giới thiệu các thủ tục đảm bảo chất lượng của PTN. Phiên bản lần thứ hai nhấn mạnh
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 3
rằng các thủ tục được một PTN giới thiệu để ước lượng độ KĐB nên được thống nhất với các
biện pháp đảm bảo chất lượng hiện tại, từ các biện pháp đó sẽ thường xuyên cung cấp thông
tin yêu cầu để đánh giá độ KĐB. Hướng dẫn này cung cấp rõ ràng để sử dụng cho việc phê
duyệt phương pháp và các dữ liệu liên quan trong sự xây dựng ước lượng độ KĐB phù hợp
với các qui tắc chung của hướng dẫn ISO. Cách tiếp cận là thống nhất với các yêu cầu của
ISO/IEC 17025[H.1].
Chú thích: Các ví dụ nêu trong phụ lục A. Danh mục các định nghĩa được nêu trong phụ lục
B. Một qui tắc trong hướng dẫn này là các thuật ngữ đã xác định bằng cách in đậm khi chúng
xuất hiện lần đầu tiên trong hướng dẫn với mục tham chiếu tương đương ở phụ lục B nằm
trong dấu ngoặc vuông. Các định nghĩa chính được lấy từ Đo lường học - thuật ngữ chung và
cơ bản(VIM) [H.4], hướng dẫn [H.2] và ISO 3534 (Thống kê - từ vựng và biểu tượng) [H.5].
Phụ lục C các thuật ngữ chung nêu lên cấu trúc của phép phân tích hoá học để thu được kết
quả đo. Phụ lục D mô tả một thủ tục chung để xác định các thành phần độ KĐB và kế hoạch
thực hiện nghiên cứu thực nghiệm. Phụ lục E mô tả một vài cách thống kê sử dụng để ước
lượng độ KĐB trong phân tích hoá học. Phụ lục F mô tả độ KĐB gần giới hạn phát hiện. Phụ
lục G là danh mục các nguồn độ KĐB và phương pháp để ước lượng giá trị các độ KĐB
thành phần. Tài liệu tham khảo được nêu trong phụ lục H.

1. PHẠM VI VÀ LĨNH VỰC ÁP DỤNG
1.1. Tài liệu hướng dẫn này đưa ra một hướng dẫn chi tiết để đánh giá và diễn đạt độ KĐB
trong phân tích hoá học định lượng, dựa vào cách tiếp cận đã nêu trong ISO “Hướng dẫn diễn
đạt độ KĐB trong đo lường” [H.2]. Hướng dẫn này có thể áp dụng cho mọi cấp chính xác và
trong mọi lĩnh vực – từ phân tích thông thường tới nghiên cứu cơ bản tới kinh nghiệm và các
phương pháp dựa trên lý luận (xem phần 5.3). Một số phạm vi mà thường cần đến phân tích
hoá học thì các qui tắc trong hướng dẫn này có thể được áp dụng như:
- Kiểm soát chất lượng và đảm bảo chất lượng trong nhà máy sản xuất
- Thử nghiệm phù hợp yêu cầu luật pháp
- Thử nghiệm sử dụng một phương pháp được thoả thuận
- Hiệu chuẩn các chuẩn hoặc thiết bị
- Các phép đo liên quan tới việc tạo và chứng nhận chất chuẩn
- Nghiên cứu và phát triển
1.2. Lưu ý là trong một vài trường hợp cần thiết thì yêu cầu cần có thêm các hướng dẫn. Cụ
thể giá trị của chất chuẩn chỉ sử dụng các phương pháp thoả thuận (bao gồm các phương pháp
phức tạp) không được bao gồm và việc sử dụng ước lượng độ KĐB phù hợp với tuyên bố và
diễn đạt và sử dụng của độ KĐB tại mức thấp có thể yêu cầu có thêm hướng dẫn. Độ KĐB
liên quan tới hoạt động lấy mẫu là không được đề cập rõ ràng.
1.3. Từ các biện pháp đảm bảo chất lượng được các PTN giới thiệu trong một số phần của
hướng dẫn EURACHEM phiên bản lần 2, giờ đây có thể được minh họa bằng dữ liệu từ việc
tuân theo các thủ tục có thể sử dụng để ước lượng độ KĐB:
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 4
- Đánh giá ảnh hưởng của các nguồn KĐB xác định trong kết quả phân tích khi thực hiện
một phương pháp như một thủ tục đo [B.8] được xác định trong một PTN.
- Các kết quả được xác định từ các thủ tục kiểm soát chất lượng trong một PTN
- Kết quả của so sánh liên phòng về năng lực của một số PTN sử dụng các phương pháp
phân tích được phê duyệt.
- Kết quả của chương trình thử nghiệm thành thạo sử dụng để đánh giá năng lực phân tích
của các PTN.
1.4. Giả thiết của hướng dẫn là khi tiến hành các phép đo hoặc đánh giá việc thực hiện các
thủ tục đo, hiệu quả của biện pháp kiểm soát chất lượng và đảm bảo chất lượng là để đảm bảo
rằng qui trình đo là ổn định và được kiểm soát. Biện pháp thông thường được sử dụng ví dụ
như trình độ của nhân viên, hiệu chuẩn và bảo trì thiết bị và thuốc thử, sử dụng chuẩn thích
hợp, các thủ tục đo được tài liệu hoá và sử dụng các chuẩn kiểm tra hoặc biểu đồ kiểm soát
thích hợp. Tham khảo [H.6] cung cấp thêm thông tin về các thủ tục đảm bảo chất lượng phân
tích .
Chú thích: Phần này nhấn mạnh rằng các phương pháp phân tích đưa ra trong hướng dẫn
này được thực hiện qua các thủ tục được tài liệu hoá đầy đủ. Bất cứ tham khảo về phương
pháp phân tích nào đều áp dụng phù hợp với một thủ tục có sẵn. Đúng ra độ KĐB có thể chỉ
áp dụng cho các kết quả dưới dạng một thủ tục và không thể hiện dưới dạng một phương
pháp đo [B.9].

2. ĐỘ KHÔNG ĐẢM BẢO
2.1. Định nghĩa độ KĐB
2.1.1. Định nghĩa về thuật ngữ độ KĐB sử dụng trong qui định này và lấy từ phiên bản mới
nhất của từ vựng quốc tế Thuật ngữ chung về đo lường học cơ bản [H.4] là:
“ Thông số đi kèm kết quả đo đặc trưng cho độ phân tán của các giá trị có thể qui cho đại
lượng đo một cách hợp lý”.
Chú thích 1: Thông số có thể là độ lệch chuẩn [B.23] (hoặc bội của nó), hoặc là độ rộng của
khoảng với mức tin cậy đã định.
Chú thích 2: Nói chung, độ không đảm bảo đo gồm nhiều thành phần. Một số thành phần có
thể được đánh giá bằng phân bố thống kê của các kết quả của một dãy phép đo và có thể
được đặc trưng bằng độ lệch chuẩn thực nghiệm. Các thành phần khác, cũng có thể được đặc
trưng bằng độ lệch chuẩn, được đánh giá từ các phân bố xác suất mô phỏng trên cơ sở thực
nghiệm hoặc các thông tin khác. Hướng dẫn ISO liên quan tới sự khác nhau của ước lượng
loại A và loại B tương ứng.
2.1.2. Trong nhiều trường hợp phân tích hoá học, đại lượng đo [B.6] sẽ là nồng độ/hàm
lượng của phép phân tích. Tuy nhiên trong phân tích hoá học còn sử dụng các phép đo định
lượng khác ví dụ như: mầu, pH…và vì thế sử dụng thuật ngữ chung là “ đại lượng đo”.
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 5
2.1.3. Định nghĩa độ KĐB đưa ra ở trên nhằm mục đích đưa ra khoảng các giá trị của phép
phân tích mà chứa đại lượng đo.
2.1.4. Nói chung từ độ KĐB liên quan tới khái niệm sự nghi ngờ. Trong tài liệu này từ độ
KĐB không phụ thuộc vào cả thông số liên quan với định nghĩa trên hoặc giới hạn kiến thức
về một giá trị cụ thể. Độ KĐB đo không hàm ý là sự nghi ngờ về giá trị của một phép đo trái
lại việc hiểu về độ KĐB có nghĩa là tăng mức độ tin cậy đối với giá trị của kết quả đo.

2.2. Các nguồn độ KĐB
2.2.1. Thực tế độ KĐB của kết quả có thể nảy sinh từ nhiều nguồn bao gồm: định nghĩa chưa
đầy đủ về đại lượng đo, lấy mẫu, ảnh hưởng nhiễu nền và nhiễu mẫu, điều kiện môi trường,
KĐB của cân và thiết bị dung tích, các giá trị tham chiếu, kết hợp không chính xác phương
pháp đo và thủ tục và biến đổi ngẫu nhiên (chi tiết về nguồn độ KĐB được trình bày trong
phần 6.7).

2.3. Thành phần độ KĐB
2.3.1. Ước lượng toàn bộ độ KĐB có thể cần phải tính từng nguồn độ KĐB và ước lượng
từng nguồn riêng biệt để đạt được sự phân bố từ các nguồn đó. Các phân bố độ KĐB được coi
như một thành phần độ KĐB. Khi diễn đạt một độ lệch chuẩn, một thành phần độ KĐB được
biết đến như độ KĐB chuẩn [B.13]. Nếu có mối tương quan giữa bất kỳ thành phần nào thì
phải được tính bằng cách xác định hiệp phương sai. Do đó có thể đánh giá được ảnh hưởng
tổng hợp của nhiều thành phần. Việc này có thể giảm được toàn bộ công việc và khi các thành
phần phân bố được đánh giá cùng nhau có thể không cần thiết phải tính đến tương quan.
2.3.2. Với kết quả đo y, độ KĐB tổng, thuật ngữ độ không đảm bảo chuẩn tổng hợp [B.14]
và được viết dưới dạng u
c
(y) được ước lượng từ độ lệch chuẩn tương đương bằng căn dương
bậc hai của tổng các phương sai thu được từ tổng hợp các thành phần độ KĐB, do đó đánh giá
sử dụng qui luật lan truyền của độ KĐB (xem phần 8).
2.3.3. Hầu hết các mục đích của phân tích hoá học là sử dụng độ KĐB mở rộng [B.15] U,
Độ KĐB mở rộng cung cấp một khoảng mà trong đó các giá trị của đại lượng đo được tin
rằng sẽ nằm trong đó với mức độ tin cậy cao. U đạt được bằng cách nhân độ KĐB tổng hợp
u
c
(y) với hệ số phủ [B.16] k. Sự lựa chọn hệ số k là dựa vào mức độ tin cậy mong muốn. Đối
với mức độ tin cậy xấp xỉ 95% thì hệ số k=2.
Chú thích: Hệ số phủ k cần được tuyên bố để có thể chuyển lại thành độ KĐB chuẩn tổng hợp
của đại lượng đo khi tính toán độ KĐB của các kết quả đo khác mà có thể phụ thuộc vào độ
KĐB chuẩn tổng hợp đó.

2.4. Sai số và độ không đảm bảo
2.4.1. Phân biệt giữa sai số và độ KĐB là rất quan trọng. Sai số [B.19] được định nghĩa là sự
khác nhau giữa một kết quả đo và giá trị thực [B.3] của đại lượng đo. Do đó sai số là một giá
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 6
trị đơn. Theo qui tắc giá trị của một sai số đã biết có thể áp dụng như số hiệu chính của kết
quả.
Chú thích: Sai số là một khái niệm lý tưởng và sai số không thể biết đến một cách chính xác
2.4.2. Mặt khác độ KĐB đưa ra dưới dạng một khoảng và đối với một thủ tục phân tích và
một dạng mẫu xác định nên được mô tả để có thể áp dụng để xác định. Nói chung giá trị của
độ KĐB không được sử dụng làm số hiệu chính của kết quả đo.
2.4.3. Để minh hoạ thêm sự khác nhau, kết quả của một phép phân tích sau khi hiệu chính
có cơ hội gần giá trị của đại lượng đo và có thể bỏ qua sai số. Tuy nhiên độ KĐB có thể vẫn
lớn như thường vì người phân tích không đảm bảo biết được mức độ gần nhau của giá trị thu
được và giá trị của đại lượng.
2.4.4. Độ KĐB của kết quả của một phép đo không nên diễn giải như sai số hoặc sai số sau
khi hiệu chính.
2.4.5. Sai số liên quan đến hai thành phần có tên gọi là thành phần ngẫu nhiên và thành phần
hệ thống.
2.4.6. Sai số ngẫu nhiên [B.20] đặc thù là nẩy sinh từ những phương sai không đoán trước
của đại lượng ảnh hưởng. Các ảnh hưởng ngẫu nhiên này làm tăng lên các phương sai trong
các lần quan trắc lặp lại của đại lượng đo. Sai số ngẫu nhiên của một kết quả phân tích không
được triệt tiêu được nhưng nó có thể giảm bằng cách tăng số lần quan trắc lặp lại.
Chú thích: Độ lệch chuẩn thực nghiệm của giá trị trung bình số học [B.22] hoặc trung bình
cộng của một loạt các quan trắc lặp lại không phải là sai số ngẫu nhiên của trung bình dù nó
có liên quan tới một vài tài liệu về độ KĐB. Nó thay thế một phép đo độ KĐB của trung bình
theo các ảnh hưởng ngẫu nhiên. Giá trị chính xác của sai số ngẫu nhiên trong trung bình nẩy
sinh từ các ảnh hưởng này là không được biết.
2.4.7. Sai số hệ thống [B.21] được xác định như một thành phần của sai số mà trong trường
hợp một số lần phân tích của cùng một đại lượng, không thay đổi hoặc thay đổi theo một
hướng xác định. Nó phụ thuộc vào số lần đo được thực hiện và không thể giảm bằng cách
tăng số lần phân tích dưới cùng một điều kiện.
2.4.8. Các sai số hệ thống như thiếu sót trong khi chuẩn bị mẫu thử trắng trong phân tích
hoặc không chính xác trong hiệu chuẩn các điểm của thiết bị là không đổi đối với một cấp của
giá trị đo.
2.4.9. Các ảnh hưởng mà thay đổi hệ thống có tính chất quan trọng qua hàng loạt các phép
phân tích nguyên nhân ví dụ như kiểm soát điều kiện thực nghiệm không thích hợp đã nẩy
sinh sai số hệ thống không đổi.
Ví dụ:
1. Tăng từ từ nhiệt độ của một loạt các mẫu trong phân tích hoá học có thể dẫn tới thay
đổi trong kết quả.
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 7
2. Đầu dò và máy dò mà để các ảnh hưởng lão hoá qua thời gian thực nghiệm có thể có
sai số hệ thống.
2.4.10. Kết quả của một phép đo cần được hiệu chính cho tất cả các ảnh hưởng hệ thống đáng
kể đã biết.
Chú thích: Thiết bị đo và hệ thống đo thường được hiệu chỉnh hoặc hiệu chuẩn sử dụng các
chuẩn đo lường và mẫu chuẩn để hiệu chính các sai số hệ thống. Các độ KĐB liên quan với
các chuẩn và mẫu chuẩn này và độ KĐB trong việc hiệu chính phải được tính.
2.4.11. Hơn nữa dạng sai số là sai số giả hoặc lầm tưởng. Các sai số dạng đó không có giá trị
đo và nẩy sinh từ sai sót của con người hoặc sự cố thiết bị. Chuyển các số liệu từ dữ hiệu hồ
sơ, sự tập trung của bọt khí trong dòng quang phổ qua pin hoặc sự nhiễm bẩn của mẫu thử
nghiệm là những ví dụ về dạng sai số.
2.4.12. Các phép đo mà sai số đã được phát hiện ở trên cần được bảo vệ loại bỏ và không xâm
phạm, cần tạo sự kết hợp chặt chẽ các sai số vào phân tích thống kê. Do đó các sai số như
chuyển số liệu có thể được hiệu chính, cụ thể nếu chúng xuất hiện trong các chữ số đầu.
2.4.13. Các sai số giả thường không rõ ràng và khi số lượng phép đo lặp lại nhiều là có thể thì
nó thường để áp dụng thử số lạc để kiểm tra sự có mặt của các thành viên này trong tập dữ
liệu. Bất cứ kết quả xác thực nào thu được từ dạng phép thử nghiệm cần được cân nhắc cẩn
thận và khi có thể tham chiếu ngược lại tới người thực hiện để xác định. Thông thường không
dễ để có thể loại bỏ một giá trị trong quá trình thống kê.
2.4.14. Các độ KĐB ước lượng sử dụng hướng dẫn này không dự kiến tính đến khả có sai số
giả/không biết.


3. ĐO LƯỜNG PHÂN TÍCH VÀ ĐỘ KHÔNG ĐẢM BẢO

3.1. Xác nhận hiệu lực phương pháp/ Phê duyệt phương pháp (Method validation)
3.1.1. Thực tiễn sự phù hợp mục đích sử dụng của các phương pháp phân tích áp dụng cho
thử nghiệm thông thường thì hầu hết phải được đánh giá qua nghiên cứu xác nhận hiệu lực
[H.7]. Dữ liệu từ kết quả nghiên cứu của toàn bộ quá trình và các nhân tố ảnh hưởng có thể
được áp dụng để đánh giá độ KĐB liên quan với kết quả của phương pháp sử dụng thông
thường.
3.1.2. Nghiên cứu xác nhận hiệu lực phương pháp dựa vào việc xác định toàn bộ thông số
của phương pháp. Các thông số đạt được qua nghiên cứu xây dựng phương pháp và so sánh
liên phòng hoặc theo qui tắc xác nhận hiệu lực. Các nguồn của sai số hoặc độ KĐB được
nghiên cứu điển hình chỉ khi được so sánh tới các phép đo độ chụm được sử dụng. Điểm nhấn
mạnh ở đây chủ yếu là xác định và loại bỏ (hơn là hiệu chính) các ảnh hưởng đáng kể. Chỉ
dẫn đầu tiên là một tình huống mà trong đó chủ yếu nêu các nhân tố ảnh hưởng tiềm tàng
đáng kể đã được xác định, kiểm tra để so sánh với độ chụm và chỉ ra là không đáng kể. Dưới
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 8
các tình huống đó dữ liệu có sẵn tới người phân tích chủ yếu không đổi của số lần thực hiện,
cùng với bằng chứng không đáng kể của hầu hết các ảnh hưởng và một vài phép đo các ảnh
hưởng đáng kể .
3.1.3. Nghiên cứu xác nhận hiệu lực cho phương pháp phân tích định lượng xác định đặc
trưng một vài hoặc tất cả các thông số sau:
Độ chụm (Precision): Qui tắc đo độ chụm bao gồm độ lệch chuẩn lặp lại s
r
, độ lệch chuẩn tái
lập s
R
(ISO 3534-1) và độ chụm trung gian đôi khi được biểu thị là s
zi
với i biểu thị số nhân tố
khác nhau (ISO 5725-3:1994). Độ lặp lại s
r
chỉ ra sự sai khác quan sát được trong một phòng
thử nghiệm trong một thời gian ngắn sử dụng cùng một nhân viên thử nghiệm cùng một thiết
bị…s
r
có thể được ước lượng trong một PTN hoặc nhiều phòng thử nghiệm với nhau. Độ lệch
chuẩn tái lặp giữa các PTN s
R
cho một phương pháp cụ thể có thể chỉ được ước lượng trực
tiếp từ nghiên cứu so sánh liên phòng nó chỉ ra sự khác nhau thu được khi các PTN khác nhau
phân tích trên cùng một mẫu. Độ chụm trung gian liên quan tới phương sai trong các kết quả
quan sát khi một hoặc nhiều nhân tố thay đổi trong một PTN như thời gian, thiết bị và nhân
viên thử nghiệm; các kết quả thu được khác nhau phụ thuộc vào nhân tố nào được giữ không
đổi. Ước lượng độ chụm trung gian hầu như được xác định trong PTN nhưng cũng có thể
được xác định bằng nghiên cứu so sánh liên phòng. Độ chụm quan sát được của một thủ tục
phân tích là thành phần quan trọng của độ KĐB tổng. Hoặc xác định bởi tổng hợp các phương
sai độc lập hoặc bởi nghiên cứu tổng thể một phương pháp phân tích.
Độ chệch (Bias): Độ chệch của phương pháp phân tích thường được xác định bằng nghiên
cứu các mẫu chuẩn liên quan hoặc bởi nghiên cứu các mẫu thêm (spike). Sự xác định độ
chệch với khía cạnh tới các giá trị tương đương có liên quan là quan trọng trong việc thiết lập
Tính liên kết chuẩn [B.12] tới các chuẩn được thừa nhận (xem phần 3.2). Độ chệch có thể
được diễn đạt như hệ số thu hồi trong phân tích (giá trị thu được thực tế được chia cho giá trị
dự kiến). Độ chệch có thể được chỉ ra không đáng kể hoặc để hiệu chính nhưng cả hai trường
hợp độ KĐB liên quan với việc xác định độ chệch được giữ lại thành phần ảnh hưởng quan
trọng tới độ KĐB tổng.
Tính tuyến tính (Linearity): Tính tuyến tính là đặc tính quan trọng của các phương pháp sử
dụng để đo các khoảng nồng độ. Tính tuyến tính của sự trả lời từ các chuẩn tinh khiết và các
mẫu thực có thể được xác định. Tính tuyến tính thường không được định lượng nhưng được
kiểm tra để xem xét hoặc sử dụng các phép thử không tuyến tính. Tính không tuyến tính đáng
kể thường được hiệu chính bằng sử dụng chức năng hiệu chuẩn không tuyến tính hoặc loại trừ
bằng lựa chọn nhiều khoảng giới hạn hoạt động. Bất cứ độ lệch còn lại từ tính tuyến tính
thường được tính đến để độ chụm tổng hợp ước lượng bao gồm một vài nồng độ hoặc trong
bất kỳ độ KĐB liên quan nào với hiệu chuẩn (phụ lục E.3).
Giới hạn phát hiện (Detection limit): Qua xác nhận hiệu lực phương pháp giới hạn phát hiện
thường được xác định để thiết lập giá trị nhỏ nhất của khoảng phát hiện của một phương pháp.
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 9
Qua các độ KĐB gần giới hạn phát hiện có thể yêu cầu cân nhắc kỹ và xử lý đặc biệt (phụ lục
F), do đó việc xác định giới hạn phát hiện không liên quan trực tiếp tới ước lượng độ KĐB.
Sai số thô (Robustness or ruggedness): Nhiều qui định về xây dựng và xác nhận hiệu lực
phương pháp yêu cầu độ nhậy của các thông số được nghiên cứu trực tiếp. Việc này thường
được thực hiện bằng nghiên cứu các phép thử thô (ruggedness test) mà qua đó quan sát được
ảnh hưởng của một hoặc nhiều thông số thay đổi. Nếu có đáng kể (so với độ chụm của các
phép thử thô) thì phải tiến hành nghiên cứu chi tiết để đo được cỡ của ảnh hưởng và đưa ra
các khoảng cho phép. Các dữ liệu của phép thử thô có thể cung cấp thông tin về ảnh hưởng
của các thông số quan trọng.
Tính chọn lọc/tính đặc trưng (Selectivity/specificity):
Dù xác định không chắc chắn nhưng cả hai thuật ngữ liên quan tới mức độ mà sự trả lời của
một phương pháp chỉ cho yêu cầu phân tích. Nghiên cứu tính chọn lọc điển hình là kiểm tra
ảnh hưởng do nhiễu tới cả mẫu trắng và mẫu thêm và quan sát sự trả lời. Các kết quả thường
sử dụng để chứng minh rằng các ảnh hưởng cụ thể là không đáng kể. Do đó từ nghiên cứu sự
thay đổi hệ đo lường khi trả lời trực tiếp, có thể sử dụng dữ liệu để đánh giá độ KĐB liên
quan với các ảnh hưởng nhiễu tiềm tàng cung cấp hiểu biết về khoảng nồng độ nhiễu.
3.2. Tiến hành nghiên cứu thực nghiệm việc thực hiện phương pháp
3.2.1. Thiết kế và chi tiết thực hiện việc xác nhận hiệu lực phương pháp và nghiên cứu thực
hiện phương pháp được nêu cụ thể hơn tại tài liệu [H.7] và sẽ không nhắc lại ở đây. Do đó các
quy tắc chính như liên quan các ảnh hưởng của một nghiên cứu áp dụng ước lượng độ KĐB
được đi thẳng vào vấn đề và được cân nhắc dưới đây.
3.2.2. Tính đại diện là cần thiết. Nghiên cứu cần thực hiện càng kỹ càng tốt để có thể tiến
hành cung cấp những khảo sát đáng tin cậy về số lượng và phạm vi ảnh hưởng của hoạt động
qua việc sử dụng phương pháp cũng như đưa ra các khoảng nồng độ và dạng mẫu trong phạm
vi của phương pháp. Khi một thông số được đại diện thay đổi qua nghiên cứu thực nghiệm độ
chụm ví dụ các ảnh hưởng của 1 nhân tố xuất hiện trực tiếp trong các lần quan sát khác nhau
và không cần nghiên cứu thêm trừ khi cần tối ưu hoá phương pháp.
3.2.3. Trong nội dung này, sự khác nhau đại diện có nghĩa là một thông số ảnh hưởng phải
đưa ra phân bố của các giá trị tương đương độ KĐB của thông số đó. Đối với các thông số
tiếp theo có thể cho phép phạm vi hoặc tuyên bố độ KĐB, đối với các nhân tố không nghiên
cứu tiếp như nhiễu của mẫu, giới hạn trả lời tới sự khác nhau của các dạng xác định hoặc dạng
không xác định khi sử dụng phương pháp thông thường. Chú thích rằng đại diện mở rộng
không chỉ tới khoảng các giá trị nhưng tới sự phân bố của chúng.
3.2.4. Khi lựa chọn các thông số cho phương sai một điều quan trọng để đảm bảo sự khác
nhau của các ảnh hưởng lớn. Ví dụ sự khác nhau về ngày (có thể nảy sinh từ ảnh hưởng lặp
lại) là quan trọng để so sánh độ lặp lại, hai lần thử nghiệm cách nhau 5 ngày sẽ cung cấp giá
trị ước lượng về độ chụm trung gian tốt hơn là 5 lần thử nghiệm trong 2 ngày. Mười thử
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 10
nghiệm trong những ngày khác nhau sẽ tốt hơn nữa, việc thực hiện thử nghiệm lặp lại trong
cùng một ngày thì sẽ không cung cấp thêm thông tin gì.
3.2.5. Thường thì việc thu được các dữ liệu từ lựa chọn ngẫu nhiên đơn giản hơn là sự khác
nhau hệ thống. Ví dụ các thực nghiệm được thực hiện tại các thời điểm ngẫu nhiên qua các
khoảng thời gian thích hợp sẽ bao gồm các đại diện về ảnh hưởng về thay đổi nhiệt độ trong
khi thực hiện thực nghiệm hệ thống tại khoảng thời gian 24 giờ có thể là đối tượng của độ
chệch tới sự khác nhau về nhiệt độ qua các ngày làm việc. Các cuộc thử nghiệm kiểu cổ điển
cần đánh giá độ lệch chuẩn tổng, sau này sự khác nhau hệ thống khi nhiệt độ thay đổi được
yêu cầu theo bằng hiệu chỉnh tới phân bố nhiệt độ thực. Do đó phương sai ngẫu nhiên là ít có
hiệu quả. Số lượng nhỏ nghiên cứu hệ thống có thể nhanh chóng thiết lập cỡ của ảnh hưởng
khi xác định trên 30 lần để thiết lập phân bố của độ KĐB tốt hơn khoảng 20% cấp chính xác
tương đối. Khi có thể nên kiểm tra số lượng nhỏ các ảnh hưởng hệ thống chính.
3.2.6. Khi các nhân tố được biết đến hoặc nghi ngờ là tương tác lẫn nhau thì việc quan trọng
là đảm bảo rằng ảnh hưởng tương tác là tính được. Việc này có thể đạt được bằng cả hai cách,
lựa chọn ngẫu nhiên từ các mức khác nhau của các thông số tương tác hoặc bằng cách thiết
lập hệ thống cẩn thận để thu được các thông tin về cả phương sai và hiệp phương sai.
3.2.7. Khi tiến hành nghiên cứu độ chệch tổng hợp thì các vấn đề quan trọng là mẫu chuẩn
và các giá trị liên quan tới đối tượng thử của phương pháp thông thường.
3.2.8. Bất cứ nghiên cứu thực hiện để kiểm tra và thử nghiệm cho các ảnh hưởng đáng kể
cần có hỗ trợ hữu hiệu để bảo vệ tránh các ảnh hưởng trước khi chúng thực sự trở thành ảnh
hưởng đáng kể.
3.3. Tính liên kết chuẩn
3.3.1. Để có thể so sánh các kết quả giữa các PTN khác nhau hoặc cùng một PTN tại những
thời điểm khác nhau với một mức tin cậy thì tính liên kết chuẩn là một vấn đề quan trọng.
Điều này đạt được bằng việc đảm bảo rằng tất cả các PTN sử dụng cùng một thước đo hoặc
cùng các điểm chuẩn (reference points).. Trong nhiều trường hợp việc đạt được bởi thiết lập
một chuỗi hiệu chuẩn tới chuẩn quốc gia hoặc quốc tế, lý thuyết là một chuỗi thống nhất tới
hệ đơn vị đo quốc tế SI. Một ví dụ thông thường nhất là trường hợp các cân phân tích; mỗi
cân được hiệu chuẩn sử dụng quả cân chuẩn mà các quả cân chuẩn đã được kiểm tra với
chuẩn quốc gia hoặc chuẩn đầu kg. Chuỗi so sánh không gián đoạn tới các giá trị chuẩn cung
cấp liên kết chuẩn tới một điểm chuẩn đảm bảo rằng người thực hiện khác nhau sử dụng cùng
một đơn vị đo. Trong phép đo thông thường sự thống nhất của các phép đo giữa một PTN
(hoặc thời gian) và những điều khác là nhằm thiết lập liên kết cho các phép đo trung gian liên
quan sử dụng để thu được hoặc kiểm soát kết quả của một phép đo. Liên kết chuẩn là thuật
ngữ quan trọng trong tất cả các nhánh của đo lường.
3.3.2. Tính liên kết chuẩn được định nghĩa là [H.4]:
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 11
“ Tính chất của kết quả đo hoặc giá trị của một chuẩn mà nhờ đó có thể liên hệ tới những
chuẩn đã định, thường là chuẩn quốc gia hay chuẩn quốc tế, thông qua một chuỗi so sánh
không gián đoạn với những độ không đảm bảo đã định”.
Liên quan tới các nẩy sinh độ KĐB vì thoả thuận giữa các PTN được giới hạn phần nào bởi
độ KĐB của chuỗi liên kết chuẩn của một PTN. Tính liên kết chuẩn có mối liên kết mật thiết
với độ KĐB. Tính liên kết chuẩn cung cấp ý nghĩa của tất cả các mối liên quan của các phép
đo trong một thước đo thống nhất trong khi tính chất mạnh mẽ của độ KĐB liên kết trong
chuỗi và thoả thuận để mong đợi giữa các PTN thực hiện các phép đo là tương đương.
3.3.3. Nói chung độ KĐB trong một kết quả mà có thể liên kết tới chuẩn cụ thể sẽ có độ
KĐB trong đó cùng với độ KĐB trong việc so sánh với chuẩn.
3.3.4. Tính liên kết chuẩn của kết quả của một thủ tục phân tích có thể được thiết lập bằng
tổng hợp các thủ tục sau:
- Sử dụng các chuẩn có thể liên kết để hiệu chuẩn thiết bị đo
- Sử dụng hoặc so sánh các kết quả của một phương pháp gốc
- Sử dụng mẫu chuẩn tinh khiết
- Sử dụng mẫu chuẩn được chứng nhận thích hợp
- Sử dụng thủ tục được xác định và được chấp nhận
Mỗi thủ tục được thảo luận chi tiết dưới đây
3.3.5. Hiệu chuẩn thiết bị đo
Trong tất cả các trường hợp, việc hiệu chuẩn thiết bị đo đang sử dụng phải được liên kết tới
chuẩn thích hợp. Tuyên bố định lượng của thủ tục phân tích thường được hiệu chuẩn sử dụng
một mẫu chuẩn tinh khiết mà giá trị của mẫu chuẩn đó được liên kết tới hệ đơn vị SI. Phần
này của thủ tục thực tế là cung cấp tính liên kết chuẩn của các kết quả tới hệ đơn vị SI. Do đó
cần thiết lập tính liên kết chuẩn cho các kết quả phân tích trước khi tuyên bố định lượng như
việc chiết và làm sạch mẫu, sử dụng các thủ tục bổ sung.
3.3.6. Các phép đo sử dụng các phương pháp gốc
Một phương pháp gốc được mô tả như sau:
“ Phương pháp gốc của một phép đo là một phương pháp có các chất lượng về đo lường học
cao nhất mà việc thực hiện được mô tả một cách đầy đủ và được hiểu trong thuật ngữ của hệ
đơn vị SI và các kết quả được chấp nhận không cần liên kết tới một chuẩn có cùng định
lượng.”
Kết quả của một phương pháp gốc thường liên kết trực tiếp tới hệ đơn vị SI và đạt được độ
KĐB nhỏ nhất với sự thừa nhận là được liên kết chuẩn. Các phương pháp gốc thường chỉ
được thực hiện bởi các Viện đo lường quốc gia và ít khi được áp dụng đối cho các phép thử
nghiệm hoặc hiệu chuẩn thông thường. Nếu có thể liên kết tới các kết quả của một phương
pháp gốc đạt được bởi so sánh trực tiếp các kết quả đo giữa phương pháp gốc và phương pháp
thử nghiệm hoặc hiệu chuẩn.
3.3.7. Các phép đo sử dụng mẫu chuẩn tinh khiết
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 12
Tính liên kết chuẩn có thể được chứng minh bởi phép đo một mẫu tự tạo chứa một lượng mẫu
chuẩn đã biết. Điều này có thể đạt được, ví dụ bằng thêm một lượng chuẩn. Do đó thường cần
để đánh giá sự khác nhau trong sự trả lời của hệ thống đo tới chuẩn sử dụng và mẫu thử
nghiệm. Không may một số phép phân tích hoá và trong một số trường hợp cụ thể việc thêm
chuẩn hoặc mẫu spike đều hiệu chính cho sự khác nhau trong việc trả lời và thường có độ
KĐB lớn. Do đó dù tính liên kết chuẩn tới hệ đơn vị SI có thể là 1 qui tắc đã được thiết lập
nhưng trong thực tế hầu hết các trường hợp đơn giản nhất không chấp nhận độ KĐB lớn trong
kết quả hoặc không định lượng được. Nếu độ KĐB không định lượng được thì tính liên kết
chuẩn không thiết lập được.
3.3.8. Phép đo dựa vào mẫu chuẩn được chứng nhận (CRM)
Tính liên kết chuẩn có thể được chứng minh qua so sánh các kết quả đo trên chất chuẩn được
chứng nhận với các giá trị được chứng nhận. Thủ tục này có thể giảm độ KĐB so với sử dụng
mẫu chuẩn tinh khiết khi có chất chuẩn được chứng nhận thích hợp. Nếu giá trị của chất
chuẩn được chứng nhận liên kết tới hệ đơn vị SI thì các phép đo này cung cấp liên kết tới hệ
đơn vị SI và đánh giá độ KĐB sử dụng mẫu chuẩn được đề cập trong mục 7.5. Do đó dù trong
trường hợp này thì độ KĐB trong kết quả có thể không được chấp nhận rộng rãi hoặc không
định lượng được cụ thể khi không có sự phù hợp giữa thành phần của mẫu và mẫu chuẩn.
3.3.9. Phép đo sử dụng thủ tục được chấp nhận
Năng lực thích hợp có thể thường đạt được qua sử dụng thủ tục được chấp nhận và xác định
rõ ràng. Thủ tục sẽ thường xác định được các thông số đầu vào ví dụ cụ thể như thời gian
chiết, cỡ mẫu/hạt…. Các kết quả áp dụng cùng một thủ tục được cân nhắc khả năng liên kết
chuẩn khi các giá trị của các thông số đầu vào được liên kết chuẩn tới các chuẩn đã công bố
theo cách thông thường. Độ KĐB trong các kết quả nảy sinh từ độ KĐB trong các thông số
đầu vào xác định và từ các ảnh hưởng của việc xác định yêu cầu kỹ thuật không hoàn hảo và
sai khác trong việc thực hiện (xem mục 7.8.1). Khi các kết quả của phương pháp hoặc thủ tục
lựa chọn hy vọng để so sánh các kết quả của thủ tục đã chấp nhận, tính liên kết chuẩn tới các
giá trị chấp nhận đạt được bằng cách so sánh các kết quả thu được từ việc áp dụng các thủ tục.

4. QUI TRÌNH ƯỚC LƯỢNG ĐỘ KHÔNG ĐẢM BẢO ĐO
4.1. Ước lượng độ KĐB được đơn giản theo một qui tắc. Dưới đây trình bày tóm tắt trình
tự các bước công việc cần thực hiện theo 1 qui tắc để thu được độ KĐB liên quan với kết quả
đo lường. Các chương tiếp theo cung cấp hướng dẫn thêm để áp dụng trong các trường hợp
khác nhau, cụ thể liên quan tới việc sử dụng các dữ liệu từ quá trình nghiên cứu xác nhận hiệu
lực phương pháp và sử dụng các qui tắc về diễn đạt công thức độ KĐB. Các bước cần thực
hiện bao gồm:
Bước 1: Xác định đại lượng đo
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 13
Viết tuyên bố rõ ràng về đại lượng nào được đo bao gồm cả mối liên quan giữa đại lượng đo
và các đại lượng đầu vào (ví dụ: các định lượng của đại lượng đo, hằng số, giá trị chuẩn hiệu
chuẩn…) mà đại lượng đo phụ thuộc, nếu có thể bao gồm cả số hiệu chính của các ảnh hưởng
hệ thống đã biết. Thông tin về yêu cầu kỹ thuật cần được nêu trong thủ tục hoạt động chuẩn
liên quan (SOP) hoặc các miêu tả phương pháp khác.
Bước 2: Xác định các nguồn độ KĐB
Liệt kê danh mục các nguồn có thể gây ra độ KĐB. Danh mục có thể bao gồm các nguồn
phân bố tới độ KĐB trong các thông số liên quan với đại lượng đo xác định ở bước 1 nhưng
có thể bao gồm các nguồn khác và phải bao gồm các nguồn nảy sinh từ dự đoán trong hoá
học. Thủ tục chung để định dạng cấu trúc của danh mục các nguồn độ KĐB được gợi ý trong
phụ lục D.
Bước 3: Định lượng các thành phần độ KĐB
Đo hoặc ước lượng cỡ của thành phần độ KĐB liên quan với mỗi nguồn độ KĐB xác định.
Thường có thể được ước lượng hoặc xác định từng phân bố của độ KĐB liên quan với một số
nguồn riêng. Điều này cũng rất quan trọng để cân nhắc khi dữ liệu tính toán đã có sẵn cho tất
cả các nguồn độ KĐB và bổ sung kế hoạch nghiên cứu thực nghiệm để đảm bảo rằng tất cả
các nguồn độ KĐB phải được tính đến một cách thích đáng.
Bước 4: Tính toán độ KĐB tổng hợp
Thông tin thu được trong bước 3 sẽ gồm một số các phân bố đã được định lượng đóng góp
vào độ KĐB do đó liên quan tới các nguồn hoặc với ảnh hưởng tổng hợp của một số nguồn.
Các phân bố có thể được diễn đạt như các độ lệch chuẩn và tổng hợp theo qui tắc thích hợp để
đưa ra được độ KĐB chuẩn tổng hợp. Hệ số phủ k tương đương sẽ được áp dụng để đưa ra độ
KĐB mở rộng.
Hình 1 chỉ ra biểu đồ qui trình ước lượng độ KĐB
4.2. Các chương của tài liệu hướng dẫn này cung cấp hướng dẫn thực hiện tất cả các bước đã
được liệt kê ở trên và chỉ ra cách đơn giản hoá thủ tục phụ thuộc vào thông tin có sẵn về ảnh
hưởng tổng hợp của một số các nguồn độ KĐB.

Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 14
Hình 1: Qui trình ước lượng độ không đảm bảo


















































Bắt đầu
Xác định Đại lượng đo
Bước 1
Xác định các nguồn KĐB
Đơn giản bởi việc
nhóm các nguồn
đã có sẵn dữ liệu
Định lượng các nhóm
thành phần
Định lượng các nhóm
thành phần nào giữ lại
Chuyển các thành phần
thành độ lệch chuẩn
Tính toán độ
không đảm bảo chuẩn
tổng hợp
Xem xét lại và nếu cần
thiết đánh giá lại các
thành phần lớn
Tính toán độ không đảm
bảo mở rộng
Kết thúc
Bước 2
Bước 3
Bước 4
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 15
5. BƯỚC 1. XÁC ĐỊNH ĐẠI LƯỢNG ĐO/
YÊU CẦU KỸ THUẬT CỦA ĐẠI LƯỢNG ĐO
5.1. Theo nội dung về ước lượng độ KĐB , “ yêu cầu kỹ thuật của đại lượng đo” yêu cầu
tuyên bố một cách rõ ràng và không mơ hồ về đại lượng nào sẽ được đo và diễn đạt định
lượng mối liên quan của giá trị đại lượng đo với các thông số mà đại lượng đo phụ thuộc. Các
thông số này có thể là đại lượng đo khác, định lượng không trực tiếp với đại lượng đo hoặc là
hằng số. Cần được nêu rõ bước lấy mẫu có bao gồm trong thủ tục hay không. Nếu có ước
lượng các độ KĐB liên quan với thủ tục lấy mẫu phải được cân nhắc và tính đến. Tất cả các
thông tin này cần được nêu trong thủ tục hoạt động chuẩn (SOP).
5.2. Trong đo lường phân tích vấn đề quan trọng đặc biệt để phân biệt giữa phép đo dự
kiến với kết quả đạt được mà độc lập với phương pháp sử dụng và không dự kiến. Sau đó
thường liên quan tới các phương pháp kinh nghiệm. Các ví dụ có thể cung cấp rõ thêm chi
tiết.
Ví dụ:
1. Các phương pháp xác định tổng niken trong hợp kim thường được cho là hiệu suất của
cùng kết quả, với cùng đơn vị thường diễn đạt như khối lượng hoặc mol. Theo qui tắc bất
cứ ảnh hưởng hệ thống nào tới độ chệch của phương pháp hoặc nhiễu cần được hiệu
chính để qua đó đảm bảo rằng các ảnh hưởng như thế đều là nhỏ. Các kết quả có thể
không cần trích dẫn phương pháp sử dụng cụ thể trừ khi để có thông tin. Phương pháp
không được theo kinh nghiệm.
2. Xác định “chiết chất béo” có thể khác về cơ bản phụ thuộc vào điều kiện chiết cụ thể.
Khả năng chiết chất béo phụ thuộc điều kiện lựa chọn phương pháp sử dụng là kinh
nghiệm. Điều đó sẽ không có nghĩa để cân nhắc sự hiệu chính cho bản chất bên trong của
độ chệch tới phương pháp, từ đại lượng đo được xác định bởi phương pháp sử dụng. Các
kết quả được báo cáo thông thường là có tham chiếu tới phương pháp, không hiệu chính
cho bất cứ bản chất bên trong của độ chệch tới phương pháp. Phương pháp được cân
nhắc theo kinh nghiệm.
3. Trong các tình huống khi các phương sai trong chất nền hoặc nhiếu mẫu là lớn và ảnh
hưởng không biết trước, thường xây dựng một thủ tục với mục đích là để đạt được khả
năng giữa các PTN thực hiện phép đo cùng đối tượng đo. Thủ tục này có thể được chấp
nhận như một phương pháp tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế hoặc địa phương mà đã được
quyết định chấp nhận về mặt thương mại và các mặt khác mà không dự định thu được
phép đo hoàn hảo của tổng hàm lượng thực của phép phân tích. Các số hiệu chính cho độ
chệch của phương pháp hoặc ảnh hưởng nhiễu mẫu là được lờ đi do thoả thuận ngầm/lệ
thường (dù có hay không chúng đã được đánh giá thấp trong xây dựng phương pháp).
Các kết quả thường được báo cáo không hiệu chính đối với độ chệch của phương pháp
hoặc nhiễu do mẫu. Phương pháp được cân nhắc theo kinh nghiệm.
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 16
5.3. Sự phân biệt giữa phương pháp kinh nghiệm và không kinh nghiệm (đôi khi được gọi là
do dựa vào lý luận) là quan trọng vì ảnh hưởng đến ước lượng độ KĐ. Trong ví dụ 2 và 3 trên
vì thoả thuận ngầm giữa các nhân viên, độ KĐB liên quan với một vài ảnh hưởng tương đối
lớn là không liên quan trong hoạt động thông thường. Cần cân nhắc để đưa ra các kết quả dự
kiến độc lập hoặc phụ thuộc thì phương pháp sử dụng và các ảnh hưởng liên quan tới kết quả
phải được bảo cáo bao gồm cả ước lượng độ KĐB.

6. BƯỚC 2. XÁC ĐỊNH CÁC NGUỒN ĐỘ KHÔNG ĐẢM BẢO ĐO

6.1. Cần lập danh mục đầy đủ các nguồn giả thiết là có liên quan đến độ KĐB. Ở giai đoạn
này chưa liên quan tới việc định lượng từng thành phần KĐB; mục đích là để làm rõ ràng về
những thành phần nào cần phải xem xét. Trong bước 3 đề cập đến cách tốt nhất là xem xét
từng nguồn.
6.2. Yêu cầu định dạng về danh mục các nguồn độ KĐB là để thuận tiện cho việc bắt đầu
cho diễn đạt cơ bản sử dụng để tính toán đại lượng đo từ các giá trị trung gian. Tất cả các
tham số diễn đạt trong việc xác định đại lượng đo (công thức toán học tính đại lượng đo) có
thể có độ KĐB liên quan với các giá trị của chúng và các nguồn độ KĐB tiềm tàng. Thêm vào
đó có thể có các tham số khác mà không xuất hiện rõ ràng trong diễn đạt công thức để tính
toán giá trị của đại lượng đo nhưng tuy nhiên có ảnh hưởng tới các kết quả đo ví dụ thời gian
chiết hoặc nhiệt độ. Các tham số đó có các nguồn tiềm tàng về độ KĐB. Tất cả các nguồn
khác nhau này nên được đề cập. Các thông tin bổ sung được đề cập trong phụ lục C (Các độ
KĐB trong các quá trình phân tích).
6.3. Sơ đồ nguyên nhân và kết quả đề cập trong phụ lục D là cách thuận tiện để liệt kê các
nguồn độ KĐB, chỉ ra sự liên quan của chúng với nhau và chỉ ra ảnh hưởng của chúng tới độ
KĐB của kết quả như thế nào và giúp tránh việc tính toán lặp lại các nguồn KĐB. Dù danh
sách các nguồn độ KĐB có thể được lập theo một cách khác thì sơ đồ nguyên nhân và kết quả
vẫn được sử dụng trong các chương tiếp theo và trong các ví dụ ở phụ lục A. Thông tin bổ
sung được nêu trong phụ lục D (các nguồn độ KĐB trong phân tích).
6.4. Danh mục các nguồn độ KĐB được lập, các ảnh hưởng của chúng đến kết quả có thể
được diễn đạt bằng mô hình đo thông thường theo qui tắc là mỗi một thông số hoặc phương
sai trong công thức toán học có một ảnh hưởng đến độ KĐB. Công thức toán học là dạng mô
hình hoàn chỉnh của một qui trình đo với một thuật ngữ là tất cả các nhân tố ảnh hưởng tới kết
quả. Chức năng này có thể rất phức tạp và có thể không thể viết được một cách rõ ràng. Do đó
khi có thể cần được hoàn thành theo dạng diễn đạt chung của phương pháp tổng hợp các phân
bố độ KĐB.
6.5. Có thể bổ sung thích hợp để cân nhắc một thủ tục đo như một loạt các bước thực hiện
riêng biệt (đôi khi dùng thuật ngữ đơn vị hoạt động), mỗi một bước thực hiện có thể được
đánh giá riêng để ước lượng độ KĐB liên quan tới bước đó. Đây là một cách thực hiện có
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 17
hiệu quả cao khi các thủ tục đo có cùng chung các bước thực hiện. Chia các độ KĐB cho từng
bước thực hiện sau đó dạng phân bố tới độ KĐB tổng hợp.
6.6. Thực tế thông thường trong phép đo phân tích để cân nhắc các độ KĐB liên quan với
các thành phần của toàn bộ quá trình thực hiện phương pháp như độ chụm quan sát và độ
chệch của phép đo với chi tiết các mẫu chuẩn thích hợp. Dạng thông thường của các phân bố
này ảnh hưởng lớn tới các phân bố ước lượng độ KĐB và mô hình thích hợp nhất là chia các
ảnh hưởng tới kết quả. Cần đánh giá các nguồn phân bố có thể có khác chỉ để kiểm tra mức độ
ảnh hưởng đáng kể, chỉ khi ảnh hưởng đáng kể thì mới thực hiện định lượng nó. Hơn nữa
hướng dẫn này nhằm đạt được việc áp dụng cụ thể để sử dụng cho các dữ liệu xác nhận hiệu
lực phương pháp nêu trong phần 7.2.1.
6.7. Các dạng nguồn gây ra độ KĐB là
Lấy mẫu
Khi việc lấy mẫu thể hiện trong phương pháp nội bộ hoặc một phần yêu cầu của thủ tục thì
các ảnh hưởng như phương sai ngẫu nhiên giữa các mẫu khác nhau và bất cứ độ chệch tiềm
tàng trong thủ tục lấy mẫu mà ảnh hưởng đến độ KĐB tới kết quả cuối cùng.
Điều kiện bảo quản mẫu
Khi các mẫu thử được lưu giữ cho bất kỳ khoảng thời gian nào trước khi tiến hành phân tích
thì các điều kiện lưu mẫu có thể ảnh hưởng tới kết quả. Thời gian lưu cũng như điều kiện
trong quá trình lưu cần được xem xét đến như các nguồn độ KĐB.
Ảnh hưởng của thiết bị
Ảnh hưởng của thiết bị có thể bao gồm: ví dụ các giới hạn về độ chính xác trong hiệu chuẩn
của cân phân tích; người kiểm soát nhiệt độ mà có thể duy trì nhiệt độ trung bình khác số chỉ
của điểm đặt; thiết bị tự động có thể là nguyên nhân gây ra các ảnh hưởng.
Độ tinh khiết của thuốc thử
Nồng độ của thể tích dung dịch không được biết chính xác ngay cả khi mẫu gốc được thử
nghiệm, vẫn còn một số độ KĐB liên quan còn tồn tại từ thủ tục thử nghiệm. Ví dụ nhiều
thuốc nhuộm hữu cơ không phải có độ tinh khiết là 100% mà có thể chứa các đồng phân và
muối vô cơ. Độ tinh khiết của các vật liệu thường được các nhà sản xuất công bố không ít hơn
mức độ yêu cầu kỹ thuật. Bất kỳ giả thiết về mức độ tinh khiết được biết đến đều là một yếu
tố của độ KĐB.
Giả thiết hoá học lượng pháp
Khi qui trình phân tích được giả thiết là tuân theo một phản ứng hoá học lượng pháp cụ thể thì
có thể cần tính đến dạng của phản ứng hoá lượng pháp hoặc phản ứng không hoàn toàn hoặc
phản ứng phụ.
Các điều kiện đo
Ví dụ dụng cụ thuỷ tinh đo dung tích có thể được sử dụng ở nhiệt độ khác nhau và khác với
nhiệt độ khi dụng cụ được hiệu chuẩn. Ảnh hưởng nhiệt độ tổng có thể được hiệu chỉnh
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 18
nhưng bất cứ độ KĐB do nhiệt độ đối với dung dịch và thuỷ tinh cần đưọc xem xét. Thông
thường độ ẩm có thể quan trọng khi vật liệu nhậy cảm với sự thay đổi độ ẩm.
Ảnh hưởng của mẫu
Hệ số thu hồi của phép phân tích từ mẫu phức hoặc trả lời của thiết bị có thể ảnh hưởng bởi
thành phần của mẫu. Yêu cầu của phép phân tích có thể bao gồm các thành phần ảnh hưởng
này. Sự ổn định của mẫu phân tích có thể thay đổi qua các lần phân tích vì sự thay đổi của chế
độ nhiệt hoặc ảnh hưởng của sự quang phân.
Khi sử dụng phương pháp spike (thêm mẫu) được sử dụng để ước lượng hệ số thu hồi, hệ số
thu hồi của phép phân tích từ mẫu có thể khác hệ số thu hồi của mẫu spike độ KĐB cần được
giới thiệu và đánh giá.
Ảnh hưởng của sự dụng máy điện toán
Sự lựa chọn mô hình hiệu chuẩn ví dụ sử dụng hiệu chuẩn đường thẳng trên sự trả lời của
đường cong, càng không khớp nhau thì độ KĐB càng lớn.
Rút gọn và làm tròn có thể dẫn tới không chính xác trong kết quả cuối cùng do đó dự đoán độ
KĐB trong việc rút gọn và làm tròn có thể là cần thiết.
Hiệu chính mẫu trắng
Có thể có độ KĐB trong cả giá trị và sự hiệu chính khoảng trắng thích hợp. Điều này quan
trọng đặc biệt là ở trong các phép phân tích vết.
Ảnh hưởng của nhân viên thử nghiệm
Khả năng đọc trên thước và thang đo có thể cao hoặc thấp.
Khả năng diễn giải phương pháp ở mức độ khác nhau
Ảnh hưởng ngẫu nhiên
Các ảnh hưởng ngẫu nhiên phân bố tới độ KĐB trong tất cả các phép phân tích. Nguồn đầu
vào cần được thể hiện trong danh mục như là một nguyên nhân của độ KĐB.
Chú thích: Các nguồn trên không nhất thiết độc lập

7. BƯỚC 3. XÁC ĐỊNH ĐỘ KHÔNG ĐẢM BẢO
7.1. Mở đầu
7.1.1. Xác định các nguồn gây ra độ không đảm bảo được đề cập trong bước 2 (chương 6),
bước tiếp theo là xác định độ KĐB nẩy sinh từ các nguồn này. Các nguồn này có thể được xác
định bằng cách:
- đánh giá độ KĐB từ các nguồn đơn lẻ và sau đó tổng hợp lại như đã đề cập trong chương
8. Ví dụ từ A1 đến A3 minh họa việc áp dụng thủ tục này.
hoặc
- bằng cách xác định trực tiếp thành phần độ KĐB của kết quả từ một vài hoặc toàn bộ các
nguồn sử dụng dữ liệu thực hiện phương pháp. Ví dụ từ A4 đến A6 đã đề cập đến việc áp
dụng thủ tục này.
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 19
Trong thực tế, kết hợp 2 cách trên là cần thiết và thuận tiện.
7.1.2. Bất cứ cách tiếp cận nào được sử dụng để thực hiện kiểm tra việc áp dụng phương pháp
thử thì hầu hết các thông tin cần thiết để xác định độ KĐB có thể có sẵn từ các kết quả nghiên
cứu, từ dữ liệu QA/QC và từ công việc nghiên cứu khác. Tuy nhiên, dữ liệu không thể có sẵn
để đánh giá độ KĐB từ tất cả các nguồn và có thể cần thiết thực hiện thêm các công việc như
đã miêu tả trong mục từ 7.10 đến 7.14.
7.2. Thủ tục đánh giá độ KĐB
7.2.1. Thủ tục sử dụng để tính tất cả các độ KĐB phụ thuộc vào dữ liệu sẵn có qua việc áp
dụng phương pháp. Các bước bao gồm để xây dựng thủ tục gồm:
- Tương thích các yêu cầu của thông tin so với dữ liệu sẵn có
Trước tiên, liệt kê các nguồn độ KĐB cần được kiểm tra để xem các nguồn nào của độ KĐB
đã thu được từ các dữ liệu sẵn có, hoặc có thể thông qua nghiên cứu thành phần cụ thể hoặc
thông qua thay đổi ẩn của toàn bộ thay đổi mang tính thực nghiệm của toàn bộ phương pháp.
Các nguồn này phải được kiểm tra dựa vào danh sách đã chuẩn bị tại bước 2 và các nguồn nào
giữ lại cần được liệt kê trong hồ sơ đánh giá các thành phần tạo ra độ KĐB.
- Lập kế hoạch thu thập thêm các dữ liệu cần có
Đối với các nguồn của độ KĐB không thể hiện được bằng các dữ liệu có sẵn tương ứng cũng
không tìm thấy một thông tin nào từ các dữ liệu ở trong các tài liệu như chứng chỉ, yêu cầu kỹ
thuật của thiết bị… hoặc kế hoạch thực nghiệm để thu được dữ liệu theo yêu cầu. Phải tiến
hành các nghiên cứu thực nghiệm theo dạng nghiên cứu cơ bản là phân bố đơn của độ KĐB
hoặc tiến hành nghiên cứu phương pháp để đảm bảo thu được phương sai đại diện của các
thông số quan trọng.
7.2.2. Thừa nhận một điều quan trọng là không phải tất cả các thành phần độ KĐB sẽ tạo
nên phân bố đáng kể tới độ KĐB tổng hợp, thực tế thực nghiệm thì chỉ một số ít thành phần
độ KĐB là đáng kể nếu không sẽ có một số lượng lớn độ KĐB, thành phần độ KĐB nào nhỏ
hơn 1/3 thành phần độ KĐB lớn nhất thì không cần đánh giá chi tiết. Ước lượng cơ bản của
các phân bố cho từng thành phần và tổng hợp các thành phần độ KĐB cần được thực hiện và
không loại trừ những ảnh hưởng đáng kể.
7.2.3. Phần tiếp theo cung cấp hướng dẫn về các thủ tục thực hiện, phụ thuộc vào dữ liệu có
sẵn và thông tin yêu cầu thêm. Phần 7.3 các yêu cầu sử dụng dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm
có từ trước, bao gồm dữ liệu phê duyệt. Phần 7.4 đề cập tóm tắt việc đánh giá độ KĐB chỉ từ
các nguồn đơn của độ KĐB. Có thể việc này cần làm cho tất cả các nguồn hoặc một vài
nguồn xác định phụ thuộc vào dữ liệu có sẵn và do đó cũng được xem xét trong các phần sau.
Phần 7.5 tới 7.9 đề cập đến đánh giá độ KĐB trong từng tình huống cụ thể. Phần 7.5 áp dụng
khi sử dụng các mẫu chuẩn. Phần 7.6 bao gồm việc sử dụng dữ liệu so sánh liên phòng và 7.7
sử dụng dữ liệu phê duyệt phương pháp nội bộ. 7.8 đề cập đến nghiên cứu các phương pháp
theo kinh nghiệm và 7.9 bao gồm các phương pháp ad-hoc. Phương pháp định lượng các
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 20
thành phần độ KĐB bao gồm nghiên cứu thực nghiệm, từ tài liệu và dữ liệu, mô hình và lý
luận nghề nghiệp được đề cập chi tiết trong các phần 7.10 tới 7.14. Phần 7.15 bao gồm nghiên
cứu về ước lượng độ KĐB của độ chệch đã biết.
7.3. Các nghiên cứu ưu tiên có liên quan
7.3.1. Khi ước lượng độ KĐB ít nhất phải dựa vào một phần các nghiên cứu ưu tiên của việc
thực hiện phương pháp, cần chứng minh giá trị của việc áp dụng các kết quả nghiên cứu ưu
tiên. Điển hình bao gồm:
- Chứng minh rằng độ chụm có thể so sánh được với dữ liệu đạt được trước đây.
- Chứng minh rằng sử dụng dữ liệu độ chệch thu được từ trước là đúng, điển hình qua xác
định độ chệch liên quan bằng mẫu chuẩn (xem ví dụ, ISO Guide 33 [H.8]), bằng nghiên
cứu mẫu thêm (spike) tương ứng hoặc thực hiện bằng các chương trình thử nghiệm thành
thạo và so sánh liên phòng.
- Thực hiện kiểm soát thống kê các kết quả của việc thực hiện mẫu kiểm soát chất lượng
(QC) và hiệu quả thực hiện các thủ tục đảm bảo chất lượng phân tích.
7.3.2. Khi các điều kiện trên được đáp ứng và phương pháp được thực hiện trong phạm vi và
lĩnh vực áp dụng thường chấp nhận việc áp dụng dữ liệu từ các nghiên cứu đã thực hiện (bao
gồm các nghiên cứu phê duyệt phương pháp) trực tiếp từ ước lượng độ KĐB trong PTN.
7.4. Đánh giá độ KĐB bằng định lượng từng thành phần
7.4.1. Trong một vài trường hợp cụ thể khi dữ liệu thực hiện phương pháp có ít hoặc không
có sẵn, các thủ tục thích hợp nhất có thể được sử dụng để đánh giá từng thành phần riêng lẻ.
7.4.2. Thủ tục chung sử dụng để tổng hợp các thành phần độ KĐB là để chuẩn bị một mô
hình định lượng chi tiết cho thủ tục nghiên cứu thực nghiệm (phần 5. và 6. đặc biệt là 6.4),
đánh giá các độ KĐB chuẩn liên quan với từng thông số đầu vào và tổng hợp chúng sử dụng
qui tắc lan truyền độ KĐB mô tả trong phần 8.
7.4.3. Hướng dẫn chi tiết đánh giá các phân bố đơn bằng thực nghiệm và các cách khác có
liên quan được trình bày trong phần 7.10 tới 7.14. Ví dụ A1 đến A3 trong phụ lục A cung cấp
minh họa chi tiết thủ tục. Hướng dẫn mở rộng trong việc áp dụng thủ tục này được nêu trong
tài liệu ISO Guide [H.2].
7.5. Sử dụng các mẫu chuẩn được chứng nhận phù hợp
7.5.1. Các phân tích trên chất chuẩn được chứng nhận thường tiến hành như là một phần của
phê duyệt phương pháp hoặc phê duyệt lại, hiệu quả tạo thành một việc hiệu chuẩn cho toàn
bộ thủ tục đo theo một liên kết chuẩn. Do thủ tục này cung cấp thông tin về ảnh hưởng tổng
hợp của nhiều nguồn tiềm tàng độ KĐB nên nó cung cấp dữ liệu tốt để đánh giá độ KĐB. Chi
tiết hơn được nêu trong 7.7.4.
Chú thích: ISO Guide 33 [H.8] cung cấp tính toán hữu hiệu về việc sử dụng mẫu chuẩn trong
việc kiểm tra thực hiện phương pháp.
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 21
7.6. Ước lượng độ KĐB sử dụng phương pháp so sánh liên phòng và dữ liệu phê
duyệt phương pháp
7.6.1. Một nghiên cứu so sánh liên phòng tiến hành để phê duyệt 1 phương pháp, ví dụ theo
qui tắc của AOAC/IUPAC [H.9] hoặc tiêu chuẩn ISO 5725 [H.10] là nguồn dữ liệu có giá trị
để hỗ trợ cho ước lượng độ KĐB. Dữ liệu bao gồm ước lượng độ lệch chuẩn tái lập s
R
cho
một vài mức độ trả lời và ước lượng tính tuyến tính phụ thuộc của s
R
với từng mức độ trả lời
và có thể bao gồm ước lượng độ chệch dựa vào nghiên cứu mẫu chuẩn được chứng nhận
(CRM). Dữ liệu có thể được sử dụng phụ thuộc vào các thông số tính đến khi thực hiện
nghiên cứu. Qua sự hoà hợp của tuyên bố số chỉ trên (phần 7.2) cần xác định bất cứ nguồn
KĐB mà không được nêu lên trong dữ liệu nghiên cứu so sánh liên phòng. Các nguồn mà có
thể cần xem xét cụ thể là:
- Lấy mẫu. Các nghiên cứu so sánh liên phòng hiếm khi bao gồm bước lấy mẫu. Nếu
phương pháp sử dụng nội bộ bao gồm cả chia mẫu hoặc đại lượng đo (xem yêu cầu kỹ
thuật) là ước lượng thuộc tính của mẫu lớn từ mẫu nhỏ thì các ảnh hưởng của lấy mẫu cần
được nghiên cứu.
- Tiền xử lý. Trong hầu hết các nghiên cứu, mẫu được đồng nhất và có thể thêm chất ổn
định trước khi phân tích. Có thể cần nghiên cứu và thêm các ảnh hưởng của quá trình thực
hiện thủ tục tiền xử lý mẫu áp dụng trong nội bộ PTN.
- Độ chệch của phương pháp. Độ chệch của phương pháp thường nghiên cứu trước hoặc
qua so sánh liên phòng, khi có thể bằng cách so sánh với phương pháp gốc hoặc mẫu
chuẩn. Khi bản thân độ chệch có độ KĐB liên quan với các giá trị tham chiếu được sử
dụng và độ chụm liên quan với kiểm tra độ chệch được so sánh tới s
R
thì không cần thêm
độ KĐB của độ chệch. Nếu không sẽ cần tính thêm.
- Các điều kiện thay đổi. Các PTN tham gia vào nghiên cứu có thể hướng theo hướng có
tính đến phạm vi điều kiện thực nghiệm, kết quả là không ước lượng được phạm vi mà kết
quả có thể nằm trong đó theo định nghĩa của phương pháp. Khi các ảnh hưởng được xem
xét và chỉ ra không đáng kể so với phạm vi cho phép thì không cần tính đến thêm nữa.
- Thay đổi các loại mẫu. Độ KĐB nẩy sinh từ thành phần mẫu hoặc mức độ nhiễu bên
ngoài phạm vi cần cân nhắc để nghiên cứu thêm.
7.6.2. Mỗi nguồn độ KĐB đáng kể không thu được qua dữ liệu so sánh liên phòng cần được
đánh giá theo dạng độ KĐB chuẩn và tổng hợp với độ lệch chuẩn tái lập s
R
theo cách thông
thường (phần 8.).
7.6.3. Để các phương pháp thực hiện trong phạm vi đã xác định, khi tuyên bố phù hợp chỉ ra
rằng tất cả các nguồn xác định được bao gồm trong nghiên cứu phê duyệt hoặc khi các phân
bố từ các nguồn còn lại như đã đề cập trong phần 7.6.1. đã chỉ ra được bỏ qua sau đó độ lệch
chuẩn tái lập s
R
điều chỉnh nồng độ nếu cần, có thể sử dụng như độ KĐB chuẩn tổng hợp.

Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 22
7.7. Ước lượng độ KĐB qua nghiên cứu xây dựng và phê duyệt nội bộ
7.7.1. Nghiên cứu xây dựng và phê duyệt nội bộ chủ yếu gồm xác định phương pháp thực
hiện các tham số chỉ ra trong 3.1.3. Ước lượng độ KĐB từ các tham số đó sử dụng:
- Ước lượng có sẵn tốt nhất của độ chụm toàn phần
- Ước lượng có sẵn tốt nhất các độ chệch toàn phần và độ KĐB của độ chệch.
- Định lượng của bất kỳ độ KĐB liên quan với ảnh hưởng chưa tính đến trong các nghiên
cứu trên.
Nghiên cứu độ chụm
7.7.2. Cần sử dụng hết khả năng có thể ước lượng độ chụm kể cả mất nhiều thời gian và cần
lựa chọn phương sai của tất cả các thông số ảnh hưởng đến kết quả. Các phương sai có thể thu
được từ:
- Độ lệch chuẩn của các kết quả cho một dạng mẫu được phân tích lặp lại nhiều lần trong
một khoảng thời gian sử dụng những người phân tích và thiết bị khác nhau. Nếu có thể
(các kết quả đo của các mẫu kiểm tra chất lượng QC có thể cung cấp thông tin).
- Độ lệch chuẩn thu được từ phân tích lặp lại thực hiện nhiều lần trên một mẫu.
Chú thích: Lặp lại cần được thực hiện các thời điểm khác nhau để thu được ước lượng độ
chụm trung gian; sự lặp lại trong một lô chỉ cung cấp ước lượng độ lặp lại.
- Từ dạng nghiên cứu thực nghiệm đa tham số được phân tích bởi ANOVA để cung cấp các
ước lượng phương sai cho từng tham số.
7.7.3. Chú ý là độ chụm thường khác nhau đáng kể so với mức độ trả lời. Ví dụ độ lệch
chuẩn quan sát được thường tăng đáng kể và có hệ thống với nồng độ phân tích. Trong các
trường hợp này, ước lượng độ KĐB cần được điều chỉnh theo để độ chụm áp dụng cho các
kết quả cụ thể. Phụ lục E.4 nêu hướng dẫn thêm để tiếp nhận các mức phân bố độc lập tới độ
KĐB.
Nghiên cứu độ chệch
7.7.4. Độ chệch tổng được ước lượng tốt nhất bằng phân tích lặp lại mẫu chuẩn được chứng
nhận liên quan, sử dụng thủ tục đo hoàn chỉnh. Khi hoàn thành nghiên cứu và độ chệch tìm
thấy là không đáng kể thì độ KĐB liên quan với độ chệch là tổng hợp độ KĐB của mẫu chuẩn
được chứng nhận với độ lệch chuẩn liên quan với độ chệch.
Chú thích: ước lượng độ chệch theo cách tổng hợp độ chệch trong PTN thực hiện với bất kỳ
bản chất nào của phương pháp sử dụng. Các xem xét cụ thể có thể áp dụng khi phương pháp
sử dụng là theo kinh nghiệm; xem mục 7.8.1.
- Khi mẫu chuẩn là đại diện tương ứng duy nhất của mẫu thử, thông số thêm vào cần được
xem xét bao gồm các tham số khác (nếu thích hợp) trong thành phần và đồng nhất; mẫu
chuẩn thường được đồng nhất hơn so với mẫu thử. Nếu cần ước lượng dựa vào lý luận
khoa học có thể được sử dụng đề chỉ ra các độ KĐB (xem phần 7.14).
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 23
- Bất cứ ảnh hưởng nào từ các nồng độ phân tích khác nhau thường sẽ không được tìm thấy
như mất khi chiết khác nhau giữa các mức độ phân tích cao và thấp.
7.7.5. Độ chệch của 1 phương pháp nghiên cứu có thể cũng được xác định bằng so sánh các
kết quả với phương pháp tham chiếu. Nếu các kết quả chỉ ra rằng độ chệch thống kê là không
đáng kể, độ KĐB chuẩn là độ KĐB của phương pháp gốc (nếu có thể xem phần 7.8.1), tổng
hợp với độ KĐB liên quan với đại lượng đo khác trong phương pháp. Phân bố độ KĐB cuối
cùng được đưa ra bằng thuật ngữ độ lệch chuẩn sử dụng nhiều áp dụng trong thử nghiệm để
quyết định sự khác nhau đáng kể đến mức nào khi thống kê như được giải thích ở ví dụ dưới
đây.
Ví dụ: Một phương pháp (phương pháp 1) để xác định nồng độ của Selenium được so sánh
với phương pháp gốc (phương pháp 2). Các kết quả (tính mg/kg) từ mỗi phương pháp thu
được như sau:


x
s n
Phương pháp 1 5.40 1.47 5
Phương pháp 2 4.76 2.75 5
Các độ lệch chuẩn được nhóm lại và đưa ra độ lệch chuẩn S
C

205.2
255
)15(75.2)15(47.1
22
=
−+
−×+−×
=
c
s
và tương ứng giá trị của t:
46.0
4.1
64.0
5
1
5
1
205.2
)76.440.5(
==






+

=t

t
crit
là 2.3 với bậc tự do là 8, nên không có sự khác nhau đáng kể nào giữa giá trị của kết quả
thu được từ 2 phương pháp. Do đó sự khác nhau (0.64) được so với thuật ngữ độ lệch chuẩn
của 1.4 trên. Giá trị 1.4 này là độ lệch chuẩn liên quan với sự khác nhau và theo đó đại diện
cho phân bố liên quan tới độ KĐB liên quan với phép đo độ chệch.
7.7.6. Độ chệch tổng có thể được ước lượng bằng thực hiện phân tích thêm các vật liệu
nghiên cứu. Cùng xem xét áp dụng như nghiên cứu mẫu chuẩn (ở trên). Thêm vào, sự khác
nhau của các vật liệu thêm và vật liệu tự nhiên vào mẫu có thể được xem xét và tạo sự thừa
nhận. Sự thừa nhận có thể tạo nên trên cơ sở của:
- Các nghiên cứu phân bố độ chệch được quan sát cho một khoảng các mẫu và mức độ phân
tích thêm.
- So sánh kết quả quan sát mẫu chuẩn với hệ số thu hồi của phân tích mẫu thêm trong cùng
mẫu chuẩn.
Hướng dẫn đánh giá độ KĐB trong phân tích hoá học định lượng
AGL 18 Lần ban hành : 1.04 Trang : 24
- Lý luận trên cơ sở mẫu cụ thể với tác động đặc biệt đã biết. Ví dụ thịt hàu, là một loại mẫu
thịt biển được biết đến có xu hướng kết tủa một vài yếu tốt với muối canxi trong khi tiêu
hoá và có thể cung cấp một ước lượng sai về hệ số thu hồi mà ước lượng độ KĐB có thể
dựa vào (ví dụ trường hợp sai như lựa chọn phân bố tam giác hoặc phân bố hình chữ
nhật).
- Lý luận trên cơ sở những kinh nghiệm đã có
7.7.7. Độ chệch có thể được ước lượng bởi so sánh các phương pháp cụ thể với một giá trị
xác định của một phương pháp thêm chuẩn đã biết lượng thêm vào mẫu thử phân tích và nồng
độ phân tích chính xác suy ra bằng ngoại suy. Độ KĐB liên quan với độ chệch thường ảnh
hưởng bởi các độ KĐB liên quan với ngoại suy, tổng hợp (khi thích hợp) với bất kỳ phân bố
đáng kể của độ KĐB nào từ khâu chuẩn bị và thêm dung dịch chuẩn.
Chú thích: Để có được liên quan trực tiếp việc thêm vào cần tạo tới mẫu gốc hơn là mẫu đã
chiết.
7.7.8. Yêu cầu chung trong ISO Guide là các số hiệu chính cần được áp dụng cho tất cả các
ảnh hưởng hệ thống đáng kể đã biết. Khi một số hiệu chính được áp dụng cho độ chệch tổng
đáng kể thì độ KĐB liên quan với độ chệch được ước lượng như phần 7.7.5. đã đề cập trường
hợp độ chệch đáng kể.
7.7.9. Khi độ chệch là đáng kể nhưng vẫn bỏ qua vì các mục đích thực tế, cần tiến hành thêm
các công việc (xem phần 7.15.).
Thêm các tham số
7.7.10. Các ảnh hưởng của bất kỳ tham số còn lại cần được ước lượng riêng không theo
phương sai thực nghiệm hay độ chụm thiết lập theo lý thuyết. Độ KĐB liên quan với các tham
số cần được ước lượng, tổng hợp và lưu hồ sơ với các thành phần khác theo cách thông
thường.
7.7.11. Khi ảnh hưởng của các tham số còn lại được chứng minh là có thể lờ đi vì so với độ
chụm của nghiên cứu là (ví dụ thống kê là không đáng kể) có thể khuyến nghị rằng phân bố
độ KĐB tương đương độ lệch chuẩn liên quan với phép thử liên quan với tham số đó.
Ví dụ: ảnh hưởng của việc chiết trong thời gian 1 giờ được nhận thấy bằng phép thử t trong 5
lần trên mỗi mẫu thử với thời gian chiết thông thường và thời gian chiết giảm sau 1 giờ.
Trung bình và độ lệch chuẩn (tính mg/L) với thời gian chuẩn là: TB: 1.8; độ lệch chuẩn 0.21;
thời gian giảm: TB: 1.7 độ lệch chuẩn 0.17. thử t sử dụng phương sai tổng hợp
037.0
)15()15(
17.0)15(21.0)15(
22
=
−+−
×−+×−

thu được