Xem bản đẹp trên 123doc.vn

DIỄN ĐÀN HỢP TÁC Á-ÂU ASEM

TÀI LIỆU CƠ BẢN VỀ DIỄN ĐÀN HỢP TÁC Á – ÂU (ASEM) VÀ SỰ
THAM GIA CỦA VIỆT NAM
I/ Vài nét về ASEM
1/ Giới thiệu chung về ASEM:
Thành lập: Tháng 3/1996, Tiến trình Hợp tác Á-Âu (Asia-Europe Meeting - gọi tắt là
ASEM) được chính thức thành lập theo sáng kiến của Xinh-ga-po và Pháp, và dưới sự ủng
hộ tích cực của ASEAN. Đây là diễn đàn đối thoại phi chính thức giữa các Nguyên thủ và
Người đứng đầu Chính phủ của các nước thành viên ASEM.
Thành viên: Số lượng thành viên của ASEM tăng từ 26 (từ năm 1996) lên 39 thành viên
(tại ASEM 5, Hà Nội, năm 2004) và 45 thành viên hiện nay (Danh sách kèm theo). Đến
nay, vai trò cùa ASEM trên thế giới ngày càng tăng, chiếm 58% dân số thế giới, gần 60 %
tổng kim ngạch thương mại thế giới và khoảng 50% GDP toàn cầu.
Mục tiêu: tạo dựng "một mối quan hệ đối tác mới toàn diện giữa Á - Âu vì sự tăng trưởng
mạnh mẽ hơn" và “tạo ra sự hiểu biết sâu sắc hơn giữa nhân dân hai châu lục và thiết lập
đối thoại chặt chẽ giữa các đối tác bình đẳng”, “duy trì và tăng cường hòa bình và ổn định
cũng như phát huy các điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế và xã hội bền vững”.
Nguyên tắc hoạt động: Theo “Khuôn khổ Hợp tác Á-Âu 2000” (AECF 2000), thông qua
tại Cấp cao ASEM 2, tháng 4/1998 và Cấp cao ASEM 3, tháng 10/2000.
(i) Đối tác bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi
(ii) ASEM là một tiến trình mở và tiệm tiến, không chính thức nên không nhất thiết phải
thể chế hóa.
(iii) Quyết định trên cơ sở đồng thuận chứ không ký kết hay bỏ phiếu.
(iv) Tăng cường nhận thức và hiểu biết lẫn nhau thông qua một tiến trình đối thoại và tiến
tới hợp tác trong việc xác định các ưu tiên cho các hoạt động phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau.
(v) Triển khai cả 3 lĩnh vực hợp tác chủ yếu với sự thúc đẩy đồng đều - tăng cường đối
thoại chính trị, thúc đẩy hợp tác kinh tế và đẩy tới hợp tác trong các lĩnh vực khác.
(vi) Việc mở rộng thành viên được thực hiện trên cơ sở nhất trí chung của các Vị đứng đầu
Nhà nước và Chính phủ.
Cấp quyết định chính sách là Hội nghị Cấp cao, gồm các vị đứng đầu Nhà nước hoặc
Chính phủ của các nước ASEM, Chủ tịch Uỷ ban Châu Âu và Tổng Thư ký ASEAN, họp
hai năm một lần, luân phiên Á-Âu. Quyết định phương hướng hoạt động, kết nạp thành
viên mới; thông qua các vấn đề lớn và dài hạn, cũng như các lĩnh vực ưu tiên trong từng
giai đoạn.
Về cơ chế hoạt động: Bộ trưởng Ngoại giao và Trưởng Quan chức cao cấp ngoại giao
(SOM) là kênh điều phối chung toàn bộ các hoạt động. Bộ trưởng kinh tế, tài chính, văn
hóa và cấp thứ trưởng điều phối trong các lĩnh vực này. Các Bộ trưởng khác (môi trường,
giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, di cư, lao động…) nhóm họp khi cần thiết .
Cơ chế điều phối hoạt động thường xuyên: ASEM chưa được thể chế hoá, chưa có Ban
Thư ký thường trực, nên toàn bộ công việc điều phối thường xuyên do bốn điều phối viên
đảm nhận (1 từ ASEAN - hiện là Brunây và 1 từ Đông Bắc Á - hiện là Trung Quốc, điều
phối viên thường xuyên EC và nước Chủ tịch đương nhiệm của EU - hiện là Pháp). Các
điều phối viên thu thập và cung cấp thông tin cho các thành viên, thay mặt cho khu vực
mình trao đổi với các khu vực khác về các vấn đề, sơ bộ chuẩn bị cho các hoạt động chính
hàng năm. Để hỗ trợ việc trao đổi thông tin, một Ban Thư ký điện tử, đặt tại Ban Thư ký
ASEAN đã được lập, song hiện còn nhiều khó khăn.
2/ ASEM qua các kỳ Cấp cao:
Trong 12 năm tồn tại, ASEM đã qua 6 Hội nghị Cấp cao:
ASEM 1 lần đầu tiên được tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 3/1996 với chủ đề “Tạo
dựng một quan hệ đối tác mới toàn diện Á - Âu vì sự phát triển mạnh mẽ hơn”. Đây là Hội
nghị cấp cao thành lập ASEM; diễn ra trong bối cảnh xu thế mạnh mẽ của toàn cầu hóa và
kinh tế Đông Á phát triển ở đỉnh cao. Quan hệ kinh tế ngày càng tăng giữa hai khu vực là
cơ sở cho quan hệ đối tác mạnh mẽ giữa châu Á và châu Âu để xây dựng một quan hệ hợp
tác Á - Âu toàn diện.
ASEM 2 diễn ra tại Luân Đôn (Anh) tháng 4/1998 trong bối cảnh châu Á đang trải qua
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ. Chủ đề của ASEM 2 được nêu ra là “Châu Á và châu
Âu: Một quan hệ đối tác mới”. Tại ASEM 2, văn kiện “Khuôn khổ hợp tác Á - Âu”
(AECF) đã được thông qua. Đây là cơ sở để chỉ đạo, tập trung và điều phối các hoạt động
của ASEM. Cũng tại ASEM 2, Nhóm viễn cảnh Á - Âu được thành lập, có nhiệm vụ xây
dựng tầm nhìn trung đến dài hạn để giúp chỉ dẫn tiến trình ASEM tiến vào Thế kỷ 21.
ASEM 3 tổ chức tại Xê-Un (Hàn Quốc) tháng 10/2000 là một mốc quan trọng của tiến
trình ASEM khi bước vào Thiên niên kỷ mới. Chủ đề của ASEM 3 được xác định là “Quan
hệ đối tác vì phồn vinh và ổn định trong Thiên niên kỷ mới”. Văn kiện “Khuôn khổ hợp
tác Á - Âu” (AECF) đã được bổ xung và thông qua; định ra viễn cảnh, các nguyên tắc, mục
tiêu, các ưu tiên, và cơ chế cho tiến trình ASEM trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.
ASEM 4 tổ chức tại Cô-pen-ha-gen (Đan Mạch) tháng 9/2002 trong tình hình thế giới thay
đổi sâu sắc sau vụ tấn công khủng bố 11/9 vào nước Mỹ. Chủ đề của ASEM 4 là “Thống
nhất và lớn mạnh trong đa dạng”. Nội dung đối thoại chính trị được tập trung vào vấn đề
khủng bố quốc tế và hợp tác chống khủng bố. Hợp tác kinh tế được coi trọng với việc
thành lập Nhóm đặc trách về quan hệ đối tác kinh tế gần gũi để soạn thảo một chương trình
thúc đẩy quan hệ đối tác kinh tế chặt chẽ hơn giữa châu Á và châu Âu.
ASEM 5 tổ chức tại Hà Nội (Việt Nam) tháng 10/2004 là mốc quan trọng trong hợp tác
ASEM vì là Hội nghị Cấp cao đầu tiên của một ASEM mở rộng, với việc 3 nước
Campuchia, Lào, Mi-an-ma và 10 thành viên mới của EU được kết nạp và tham dự ASEM
5. Với chủ đề “Tiến tới quan hệ đối tác Á-Âu sống động và thực chất hơn”, Hội nghị đã
thảo luận và thông qua “Tuyên bố của Chủ tịch”, “Tuyên bố Hà Nội về quan hệ kinh tế Á-
Âu chặt chẽ hơn” và “Tuyên bố ASEM về đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh”
định hướng cho hợp tác ASEM trong thời gian tới.
ASEM 6 tổ chức tại Hen-xinh-ki (Phần Lan) tháng 9/2006. Với chủ đề “10 năm ASEM:
Thách thức toàn cầu - Ứng phó chung” Hội nghị là dịp để nhìn lại 10 năm hợp tác vừa qua
và định hướng hợp tác trong thời gian tới. Hội nghị dành nhiều quan tâm đến vấn đề an
ninh năng lượng/thay đổi khí hậu. Hội nghị đã đưa ra ba văn kiện là Tuyên bố của Chủ
tịch, Tuyên bố Hen-xinh-ki về Tương lai ASEM, Tuyên bố Hen-xinh-ki về Thay đổi khí
hậu.
3/ Kết quả hợp tác:
Trải qua 12 năm hình thành và phát triển, Hợp tác ASEM đã đạt nhiều thành tựu đáng kể.
ASEM đã trở thành một khuôn khổ đối thoại và hợp tác liên khu vực quan trọng, tạo động
lực mới cho quan hệ hợp tác toàn diện giữa châu Á và châu Âu, cũng như hợp tác song
phương giữa các thành viên trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.
a/ Đối thoại chính trị:
Các thành viên ASEM đã tiến hành đối thoại chính trị ở Cấp cao, cấp Bộ trưởng Ngoại
giao và cấp Đại diện Quan chức Cao cấp (SOM) nhằm tăng điểm đồng, tạo cơ sở cho việc
xây dựng các mối quan hệ, hướng tới tiếng nói chung giữa các đối tác. Các chủ đề thảo
luận thường là những vấn đề lớn mang tính toàn cầu, khu vực (như tăng cường chủ nghĩa
đa phương, vai trò trung tâm của Liên Hợp quốc, chống khủng bố toàn cầu, ngăn ngừa phổ
biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt, giải trừ quân bị, tội phạm xuyên quốc gia, di cư, nhân
quyền), hoặc các vấn đề nổi bật trong tình hình quốc tế.
b/ Hợp tác kinh tế-tài chính:
Tập trung vào 3 lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính. Hợp tác thương mại và đầu tư được
thúc đẩy thông qua "Kế hoạch Hành động Thuận lợi hoá Thương mại" (TFAP), "Kế hoạch
Hành động Xúc tiến Đầu tư" (IPAP) với sự trợ giúp của các Đầu mối liên hệ về đầu tư
(ICPs). Diễn đàn doanh nghiệp (AEBF) trở thành một kênh quan trọng thúc đẩy trao đổi
giữa các doanh nghiệp của hai châu lục.
Hợp tác tài chính đem lại nhiều kết quả thiết thực, hoạt động được đánh giá có hiệu quả
cao nhất là hoạt động của Quỹ Tín thác ASEM. Bởi hoạt động này đã vượt ra ngoài mục
đích ban đầu (là giúp 7/10 thành viên châu Á khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài
chính-tiền tệ châu Á năm 1997). Trong 8 năm, Quỹ Tín thác ASEM đã cung cấp khoảng 82
triệu USD trong hơn 70 dự án cụ thể , góp phần giúp các nước thành viên châu Á điều
chỉnh hệ thống tài chính - ngân hàng, giảm thiểu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính -
tiền tệ, đóng góp phát triển xã hội và xoá đói nghèo. Ngoài ra, các thành viên ASEM đã
nhất trí thiết lập “Cơ chế đối thoại nhằm đối phó với những trường hợp khẩn cấp” về tài
chính.
Hợp tác phối hợp chính sách trên các diễn đàn kinh tế đa biên, nhất là trên các vấn đề của
WTO cũng là lĩnh vực được các nước thành viên ASEM thúc đẩy. Một số lĩnh vực hợp tác
như năng lượng, giao thông, bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, du lịch, thương mại
điện tử, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ… là những lĩnh vực hợp tác tiềm
năng mà Tuyên bố Hà Nội về Quan hệ đối tác kinh tế Á-Âu chặt chẽ hơn (thông qua tại
ASEM 5 Hà Nội) nhấn mạnh.
c/ Hợp tác trên các lĩnh vực khác:
Đây là mảng hợp tác có nhiều hoạt động, được triển khai thành công nhất, trải rộng trên
nhiều lĩnh vực và thu hút nhiều tầng lớp tham gia nhất trong ASEM góp phần tăng cường
hiểu biết giữa nhân dân Á - Âu.
Đối thoại văn hóa văn minh được coi là một trọng tâm hợp tác ASEM, một công cụ tăng
cường hiểu biết, khoan dung. Tuyên bố ASEM về Đối thoại giữa các nền văn hóa – văn
minh (thông qua tại ASEM 5) và Hội nghị Bộ trưởng Văn hóa – Văn minh lần thứ nhất tại
Bắc Kinh, 12/2003) và lần thứ hai tại Pari, 7/2005 vạch định hướng cho hợp tác trên lĩnh
vực này. Hội nghị lần thứ 3 gần đây nhất được tổ chức tại Ma-lai-xi-a, ngày 21-24/4/2008.
Một số sáng kiến y tế như “Kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại trong
chăm sóc sức khoẻ cộng đồng”, “Xử lý các dịch bệnh bùng phát trong cộng đồng”, “Hội
thảo ASEM về kiểm soát HIV/AIDS” thu hút được sự quan tâm của thành viên ASEM.
Hoạt động hợp tác trên lĩnh vực môi trường, khoa học công nghệ, tư pháp cũng được thúc
đẩy.
Các hoạt động tăng cường hiểu biết và giao lưu giữa nhân dân hai châu lục phần lớn được
thực hiện thông qua Quỹ Á – Âu (ASEF), có trụ sở tại Singapore. Đây là thực thể có ban
điều hành duy nhất trong ASEM hiện nay. Thành phần tham gia các hoạt động của ASEF
là các Học giả, các viện nghiên cứu, các cán bộ thuộc cơ quan chính phủ, các nhà hoạt
động văn hóa, các tổ chức phi chính phủ, thanh niên, sinh viên và học sinh. Thông qua 4
kênh chính là giao lưu nhân dân, giao lưu trí thức, giao lưu văn hóa và quảng bá tuyên
truyền, cho đến nay (từ 2/1997), Quỹ đã triển khai được hơn 400 dự án (Hội nghị Giám
đốc các trường đại học ASEM, mạng lưới các trường đại học Á-Âu, học bổng kép ASEM-
DUO, đối thoại thanh niên, đối thoại giữa các nhà lãnh đạo trẻ, Hội trại Âm nhạc…), thu
hút hơn 17.000 công dân Á-Âu tham gia. Những hoạt động này thực sự đã thúc đẩy giao
lưu, tăng cường hiểu biết giữa nhân dân hai châu lục.
II/ Sự tham gia của Việt Nam vào Tiến trình hợp tác ASEM
1/ Triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá, tích cực và chủ
động hội nhập quốc tế và khu vực, Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập
ASEM, luôn phát huy vai trò chủ động tham gia hợp tác Á-Âu trên cả 3 lĩnh vực: đối thoại
chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác khác. Bên cạnh việc hoàn thành tốt vai trò điều phối
viên châu Á trong ASEM từ năm 2000 đến 2004, đóng góp lớn nhất của Việt Nam là tổ
chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEM 5 (Hà Nội, 10/2004).
2/ Việc tham gia ASEM tạo thêm điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp tục triển khai chính
sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, hỗ trợ cho quan hệ song phương, đẩy
mạnh ngoại giao đa phương; tranh thủ khả năng hợp tác thương mại, đầu tư, chuyển giao
công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi văn hóa đào tạo, giáo dục phục vụ các yêu
cầu phát triển đất nước. Đồng thời, tham gia với tư cách một thành viên bình đẳng, Việt
Nam có cơ hội cùng xây dựng luật chơi chung của cả Á-Âu vì hòa bình, ổn định, hợp tác
và phát triển ở hai khu vực và trên thế giới; từ đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam.
3/ Việt Nam đã đưa ra 10 sáng kiến và đồng tác giả 15 sáng kiến khác (trong đó, 14 sáng
kiến đã được triển khai), tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực văn hoá, y tế, giao thông vận
tải, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thay đổi khí hậu, khoa học-công nghệ, du lịch,
kinh tế.
4/ Việt Nam đã tổ chức hàng loạt hoạt động quan trọng, đặc biệt là Hội nghị Cấp cao
ASEM 5 (2004); Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế lần thứ 3 (2001), gần đây nhất là Diễn đàn
chính sách an ninh năng lượng (4/2008), Diễn đàn Du lịch ASEM (9/2008). Trong thời
gian tới, Việt Nam sẽ đăng cai tổ chức Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEM lần 9 (25-
26/5/2009); Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục ASEM (5/2009); Cuộc họp các Quan chức cao
cấp về Phối hợp các hoạt động văn hoá nhằm tăng cường quảng bá hình ảnh ASEM
(2009); Diễn đàn cấp Tổng Vụ trưởng về An ninh lương thực (2009); Hội thảo cấp Tổng
Vụ trưởng về Trao đổi kinh nghiệm về sẵn sàng ứng phó với biến đổi khí hậu và các bệnh
mới nổi (2009); Hội nghị Bộ trưởng Văn hoá ASEM (2012).
5/ Trong lĩnh vực chính trị, đóng góp lớn nhất của Việt Nam phải kể đến là những nỗ lực
chuẩn bị và tổ chức thành công Cấp cao ASEM 5, đưa ra những quyết định mở ra hướng
mới cho hợp tác ASEM, đẩy mạnh hợp tác về kinh tế và văn hoá, Việt Nam đã thể hiện tốt
vai trò tích cực của nước chủ nhà, chủ động dàn xếp điều hòa lợi ích giữa các thành viên
ASEM, giải quyết tốt vấn đề mở rộng thành viên của Mi-an-ma, góp phần quan trọng duy
trì sự phát triển của tiến trình, đoàn kết trong khối các nước ASEAN.
6/ Về hợp tác kinh tế- tài chính, ta đã thúc đẩy Hội nghị ASEM 5 thông qua “Tuyên bố Hà
Nội về tăng cường hợp tác kinh tế ASEM chặt chẽ hơn”. Đây là văn kiện có tính định
hướng hợp tác kinh tế ASEM. Việc ta tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Á-Âu lần thứ 9 liền
kề với Cấp cao ASEM 5, một mặt góp phần thúc đẩy kênh đối thoại giữa cộng đồng doanh
nghiệp với Chính phủ, thu hút sự quan tâm của doanh nghiệp đối với ASEM; mặt khác tạo
khuôn mẫu cho tổ chức các Diễn đàn doanh nghiệp về sau. Trong lĩnh vực tài chính, đến
năm 2006 (thời điểm kết thúc), các Bộ ngành của Việt Nam đã tranh thủ Quỹ Tín thác
ASEM (ATF) trợ giúp triển khai có hiệu quả 21 dự án với giá trị gần 13,35 triệu đô la trên
các lĩnh vực cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, xóa đói giảm nghèo và
cải cách hệ thống an sinh xã hội, được đánh giá cao. Hợp tác trong các lĩnh vực mới như
doanh nghiệp nhỏ và vừa, an ninh lương thực cũng ghi đậm dấu ấn vai trò tích cực của
Việt Nam, thể hiện rõ nhất ở sáng kiến của ta về tổ chức “Diễn đàn ASEM lần thứ nhất về
an ninh lương thực”.
7/ Hợp tác trong các lĩnh vực khác cũng ghi nhận vai trò tham gia tích cực và chủ động của
Việt Nam. Việt Nam là nước đi đầu đưa ra sáng kiến về hợp tác văn hóa, y tế, giao thông
vận tải, môi trường, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và an ninh năng lượng. Đặc
biệt, Việt Nam cũng là một trong những nước tiên phong trong đăng ký lĩnh vực Nhóm đi
đầu (issue-based leadership) gồm phát triển nguồn nhân lực/giáo dục; Phòng chống
HIV/AIDS/ Kiểm soát dịch bệnh bùng phát; Văn hoá/du lịch.
Về hợp tác về văn hóa, Việt Nam đã tích cực tham dự và triển khai nhiều hoạt động trong
khuôn khổ ASEM, như chủ động đề xuất sáng kiến “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
trong các nước ASEM” (Pháp đồng tác giả) được Hội nghị Cấp cao ASEM lần thứ hai