Phân tích bài thơ: Ánh trăng

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Phân tích bài thơ: Ánh trăng

TẬP LÀM VĂN.
PHÂN TÍCH NIỀM TÂM SỰ SÂU KÍN CỦA NGUYỄN DUY QUA BÀI THƠ
“ÁNH TRĂNG”
Dàn ý
I. Mở bài
- Ánh trăng là đề tài quen thuộc của thi ca, là cảm hứng sáng tác vô
tận cho các nhà thơ
- Nguyễn Duy, một nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ sau năm 1975 cũng
góp vào mảng thơ thiên nhiên một “Ánh trăng”.
- Với Nguyễn Duy, ánh trăng không chỉ là niềm thơ mà còn được biểu
đạt một hàm nghĩa mới, mang dấu ấn của tình cảm thời đại: Ánh trăng là
biểu tượng cho quá khứ trong mỗi đời người.
- Đối diện trước vầng trăng, người lính đã giật mình về sự vô tình
trước thiên nhiên, vô tình với những kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã
qua. Bài thơ “Ánh trăng” giản dị như một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín
ấy của nhà thơ.
II. Thân bài.
1 Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ
- Ánh trăng gắn với những kỉ niệm trong sáng thời thơ ấu tại làng
quê:
“Hồi nhỏ sống với rừng
Với sông rồi với biển”
- Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật trong sự hoà
hợp với thiên nhiên trong lành: “trần trụi với thiên nhiên - hồn nhiên như
cây cỏ”
- Ánh trăng gắn bó với những kỉ niệm không thể nào quên của cuộc
chiến tranh ác liệt của người lính trong rừng sâu.
“Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa”
->Trăng khi đó là ánh sáng trong đêm tối chiến tranh, là niềm vui bầu
bạn của người lính trong gian lao của cuộc kháng chiến - vầng trăng tri kỉ.
Nhân vật trữ tình gắn bó với trăng trong những năm dài kháng chiến.
Trăng vẫn thuỷ chung, tình nghĩa.
2. Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại.
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường
- Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành “người dưng” - người
khách qua đường xa lạ
+ Sự thay đổi của hoàn cảnh sống- không gian khác biệt, thời gian
cách biệt, điều kiện sống cách biệt
+ Hành động “vội bật tung cửa sổ” và cảm giác đột ngột “nhận ra
vầng trăng tròn”, cho thấy quan hệ giữa người và trăng không còn là tri kỉ,
tình nghĩa như xưa vì con người lúc này thấy trăng như một vật chiếu sáng
thay thế cho điện sáng mà thôi.
+ Câu thơ dưng dưng - lạnh lùng - nhức nhối, xót xa miêu tả một điều
gì bội bạc, nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc sống.
=> Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở :
đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta....
c. Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng.
- Trăng và con người đã gặp nhau trong một giây phút tình cờ.
+ Vầng trăng xuất hiện vẫn một tình cảm tràn đầy, không mảy may sứt
mẻ.
+ “Trăng tròn”, hình ảnh thơ khá hay, tình cảm trọn vẹn, chung thuỷ
như năm xưa.
+Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính
là vầng trăng tròn (nhân hoá). Con người thấy mặt trăng là thấy được
người bạn tri kỉ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc!
- Ánh trăng đã thức dậy những kỉ niệm quá khứ tốt đẹp, đánh thức lại
tình cảm bạn bè năm xưa, đánh thức lại những gì con người đã lãng quên.
+ Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động,
xao xuyến, gợi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỉ.
+ Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc
của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao.
- Ánh Trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng
nào:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
..............Đủ cho ta giật mình”
+ Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể
phai mờ. Ánh trăng chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc
nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta: con người có thể vô tình, có thể lãng
quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt.
+“Giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lí có thật của một người biết
suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống
của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay
trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ
được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại
mà coi rẻ thiên nhiên.
=> Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở
chúng ta, những người đang sống trong hoà bình, hưởng những tiện nghi
hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao
người đi trước.
III. Kết luận:
Cách 1:
- Bài thơ “Ánh trăng” là một lần “giật mình” của Nguyễn Duy về sự vô
tình trước thiên nhiên, vô tình với những kỉ niệm nghĩa tình của một thời
đã qua.
- Nó gợi ra trong lòng chúng ta nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách sống,
cách làm người, cách sống ân nghĩa thuỷ chung ở đời.
- Ánh trăng thật sự đã như một tấm gương soi để thấy được gương
mặt thực của mình, để tìm lại cái đẹp tinh khôi mà chúng ta tưởng đã ngủ
ngon trong quên lãng.
========================
Dàn ý 2
I. Mở bài
Cách 1
- Giới thiệu đôi nét về nhà thơ Nguyễn Duy: là một trong những
gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ.
- Giới thiệu đôi nét về bài thơ “Ánh Trăng”
+ In trong tập “Ánh Trăng”- tập thơ được giải A của Hội nhà văn Việt
Nam
+ Thể thơ 5 chữ kết hợp kết hợp chặt chẽ giữa tự sự với trữ tình
+ Viết vào thời điểm cuộc kháng chiến đã khép lại 3 năm, Nguyễn Duy
viết “Ánh trăng” như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình với chính
mình, với mọi người về lẽ sống chung thuỷ, nghĩa tình.
Cách 2: Thơ xưa cũng như nay, thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng
sáng tác vô tận cho các nhà văn, nhà thơ. Đặc biệt là ánh trăng. Xưa, Lý
Bạch khi đối diện với vầng trăng đã giật mình thảng thốt nhớ cố hương.
Nay, Nguyễn Duy, một nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ trẻ sau năm 1975 cũng
góp vào mảng thơ thiên nhiên một ánh trăng.Và đối diện trước vầng trăng,
người lính đã giật mình về sự vô tình trước thiên nhiên, vô tình với những
kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua. Bài thơ “Ánh trăng” giản dị như
một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín ấy của nhà thơ.
Cách 3: Ta gặp đâu đây ngòi bút tài hoa của Nguyễn Duy trong tác
phẩm : “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”..... Nhưng khi hoà bình lập lại, ông
đã chuyển sang một trang mới viết về sự chuyển mình của đất nước, của
con người cuộc sống đời thường đang che lấp mất dần những điều đáng
quý mà họ vốn có. Bài thơ “Ánh trăng” là một bài thơ tiêu biểu cho chủ đề
đó. Bài thơ như một lời tự nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian
lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên đất nước đồng
thời thức dậy trong tâm hồn người lính lòng trung hiếu trọn vẹn với nhân
dân.
Cách 4: Trăng trong thơ vốn là một vẻ đẹp trong trẻo, tròn đầy, đó là
cái gì lãng mạn nhất trong cuộc đời, nhất là trong hai trường hợp: khi con
người ta còn ở tuổi ấu thơ hoặc khi có những tâm sự cần phải chia sẻ,
giãi bầy. Ánh trăng của Nguyễn Duy là cái nhìn xuyên suốt cả hai thời điểm
vừa nêu. Chỉ có điều, đây không phải là một cái nhìn xuôi, bình lặng từ
trước đến sau, mà là cách nhìn ngược: từ hôm nay mà nhìn lại để thấy có
cái hôm qua trong cái hôm nay. Bài thơ như một câu chuyện nhỏ được kể
theo trình tự thời gian nhắc nhở về một thời đã qua của người lính gắn bó
với thiên nhiên, bình dị, hiền hoà, với nghĩa tình đằm thắm sáng trong.
II. Thân bài.
1. Đề tài “Ánh trăng”
- Đây là một đề tài quen thuộc của thơ ca xưa đặc biệt là thơ lãng
mạn: (Thuyền ai đậu bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay (Hàn
Mạc Tử); khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền (HCM); Ngẩng đầu nhìn
trăng sáng. Cúi đầu nhớ cố hương (Lý Bạch)
- Với Nguyễn Duy, ánh trăng không chỉ là niềm thơ mà còn được biểu
đạt một hàm nghĩa mới, mang dấu ấn của tình cảm thời đại: Ánh trăng là
biểu tượng cho quá khứ trong mỗi đời người.
2. Phân tích tâm sự sâu kín của Nguyễn Duy qua bài thơ “Ánh trăng”.
a. Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ
Trước hết là hình ảnh vầng trăng tình nghĩa, hiền hậu, bình dị gắn liền
với kỉ niệm một thời đã qua, một thời nhà thơ hằng gắn bó.
- Ánh trăng gắn với những kỉ niệm trong sáng thời thơ ấu tại làng
quê:
“Hồi nhỏ sống với rừng
Với sông rồi với biển”
- Nhớ đến trăng là nhớ đến không gian bao la. Những “đồng, sông,
bể” gọi một vùng không gian quen thuộc của tuổi ấu thơ, có những lúc
sung sướng đến hả hê được chan hoà, ngụp lặn trong cái mát lành của
quê hương như dòng sữa ngọt.
- Những năm tháng gian lao nơi chiến trường, trăng thành người bạn
tri kỉ, gắn với những kỉ niệm không thể nào quên của cuộc chiến tranh ác
liệt của người lính trong rừng sâu: khi trăng treo trên đầu súng, trăng soi
sáng đường hành quân. Vầng trăng ấy cũng là “quầng lửa” theo cách gọi
của nhà thơ Phạm Tiến Duật. Trăng thành người bạn chia sẻ ngọt bùi,
đồng cảm cộng khổ và những mất mát hi sinh, vầng trăng trở thành người
bạn tri kỉ với người lính.
“Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ
Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa”
- Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, chân thật trong sự hoà hợp với
thiên nhiên trong lành: “trần trụi với thiên nhiên - hồn nhiên như cây cỏ”.
Cuộc sống trong sáng và đẹp đẽ lạ thường.
- Hôm nay, cái vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa ấy đã là quá khứ kỉ niệm của con
người. Đó là một quá khứ đẹp đẽ, ân tình, gắn với hạnh phúc và gian lao
của mỗi con người và của đất nước.
- Lời thơ kể không tả mà có sức gợi nhớ, âm điệu của lời thơ như trùng
xuống trong mạch cảm xúc bồi hồi.
b. Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại.
* Vầng trăng - người dưng qua đường.
- Sau tuổi thơ và chiến tranh, người lính từ giã núi rừng trở về thành phố -
nơi đô thị hiện đại. Khi đó mọi chuyện bắt đầu đổi khác:
Từ hồi về thành phố
Quen ánh điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường
- Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở thành “người dưng” - người
khách qua đường xa lạ, còn con người đâu còn son sắt thuỷ chung? =>
Một sự thay đổi phũ phàng khiến người ta không khỏi nhói đau. Tình cảm
xưa kia nay chia lìa.
- NT đối lập với khổ 1,2, giọng thơ thầm thì như trò chuyện tâm tình,
giãi bày tâm sự với chính mình. Tác giả đã lí giải sự thay đổi trong mối
quan hệ tình cảm một cách lô gíc.
- Vì sao lại có sự xa lạ, cách biệt này?
+ Sự thay đổi của hoàn cảnh sống- không gian khác biệt, thời gian
cách biệt, điều kiện sống cách biệt: Từ hồi về thành phố, người lính xưa
bắt đầu quen sống với những tiện nghi hiện đại như “ánh điện, cửa
gương”. Cuộc sống công nghiệp hoá, hiện đại hoá của điện gương đã làm
át đi sức sống của ánh trăng trong tâm hồn con người. Trăng lướt nhanh
như cuộc sống hiện đại gấp gáp, hối hả không có điều kiện để con người
nhớ về quá khứ. Và anh lính đã quên đi chính ánh trăng đã đồng cam cộng
khổ cùng người lính, quên đi tình cảm chân thành, quá khứ cao đẹp nhưng
đầy tình người. Câu thơ dưng dưng - lạnh lùng - nhức nhối, xót xa miêu tả
một điều gì bội bạc, nhẫn tâm vẫn thường xảy ra trong cuộc sống. Có lẽ
nào sự biến đổi về kinh tế, về điều kiện sống tiện nghi lại kéo theo sự thay
dạ đổi lòng? (liên hệ: bởi thế mà ca dao mới lên tiếng hỏi: “Thuyền về có
nhớ bến chăng?”; Tố Hữu, nhân dân Việt bắc ở lại cũng băn khoăn một
tâm trạng ấy khi tiễn đưa cán bộ về xuôi:
Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông còn nhớ bản làng
Sáng đêm còn nhớ mảnh trăng giữa rừng? )
=> Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở : đừng để
những giá trị vật chất điều khiển chúng ta....
* Niềm suy tư của tác giả và tấm lòng của vầng trăng.
- Sự xuất hiện trở lại của vầng trăng thật đột ngột, ở vào một thời điểm
không ngờ. Tình huống mất điện đột ngột trong đêm khiến con người vốn
đã quen với ánh sáng, không thể chịu nổi cảnh tối om nơi căn phòng buyn
đinh hiện đại. Ba động từ “vội, bật, tung” đặt liền nhau diễn tả sự khó chịu
và hành động khẩn trương, hối hả của tác giả để đi tìm nguồn sáng. Và
hình ảnh vầng trăng tròn tình cờ mà tự nhiên, đột ngột hiện ra vằng vặc
giữa trời, chiếu vào căn phòng tối om kia, chiếu lên khuôn mặt đang ngửa
lên nhìn trời, nhìn trăng kia.
=> Tình huống gặp lại trăng là bước ngoặt tạo nên sự chuyển biến mạnh
mẽ trong tình cảm và suy nghĩ của nhân vật trữ tình với vầng trăng. Vầng
trăng đến đột ngột đã làm sáng lên cái góc tối ở con người, đánh thức sự
ngủ quên trong điều kiện sống của con người đã hoàn toàn đổi khác.
- Bất ngờ đối diện với vầng trăng, con người đã có cử chỉ, tâm trạng:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng.

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Phân tích bài thơ: Ánh trăng