Chuyên đề văn nghị luận 7

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Chuyên đề văn nghị luận 7

GIÚP HỌC SINH XÂY DỰNG LẬP LUẬN
TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
A.Lí do chọn đề tài:
Kiểu bài tập làm văn nghò luận trong chương trình Ngữ văn 7 tập 2 là kiểu bài khó đối với học
sinh lớp 7 . Vì các em còn nhỏ, vốn sống trực tiếp và vốn sống gián tiếp rất hạn chế . Mặt khác , khả
năng nhận thức trình bày một vấn đề có tính logic , chặt chẽ như trong văn nghò luận với học sinh lớp 7
lại càng khó khăn hơn.
Trong quá trình dạy phần tập làm văn nghò luận ở lớp 7 học kì 2 , chúng tôi nhận thấy về mặt lí
thuyết sách giáo khoa chỉ cung cấp những kiến thức chung nhất về đặc điểm , cáh làm bài văn nghò
luận . Hầu hết những nội dung này được tìm hiểu rút ra từ những văn bản nghò luận mẫu mực có tính
chất chính luận tổng hợp vì vậy rất khó khăn cho học sinh trong việc so sánh, đối chiếu nhận diện giữa
lí thuyết và thực tế .
Từ những vấn đề nêu trên dẫn đến học sinh rất lúng túng trong việc thực hành viết một bài văn
nghò luận đặc biệt là xây dựng một hệ thống lập luận( bao gồm từ việc xác đònh luận điểm, luận cứ và
cách sắp xếp trình bày ). Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn tìm ra một số giải pháp đơn
giản , dễ hiểu phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp 7, giúp các em có thể làm tốt kiểu bài
nghò luận cũng như trình bày quan điểm, ý kiến của mình về các vấn đề trong đời sống hằng ngày .
B.Nội dung :
1, Cơ sở lí luận:
Theo quan điểm biện chứng của chủ nghóa Mác – Lê nin : nhận thức là một quá trình từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng quay lại thực tiễn . Việc dạy học ngày nay
về cơ bản là hướng dẫn học sinh theo con đường nhận thức như trên. Trong dạy học bộ môn Ngữ văn
cũng vậy , việc hình thành kiến thức kó năng về văn chương , từ ngữ và tập làm văn luôn được tiến hành
từ thực tế đó là văn bản . Đối với phân môn tập làm văn nói chung , văn nghò luận nói riêng , để giúp
học sinh nhận diện đặc điểm của kiểu văn bản , nội dung , cách tạo lập văn bản đó , giáo viên luôn dựa
trên văn bản mẫu trên sách giáo khoa. Muốn đạt được mục đích đó đòi hỏi văn bản đưa ra tìm hiểu
phải có nội dung , hình thức tiêu biểu cho thể loại và phù hợp với những đònh hướng về mặt lí thuyết
của kiểu bài mà người giáo viên muốn truyền thụ cho học sinh . Hơn nữa,những lí thuyết về đặc điểm
thể loại , cách tạo lập văn bản theo đặc trưng thể loại phải cụ thể , dễ hiểu phù hợp với nhận thức của
học sinh .Đối vời văn bản nghò luận học sinh phải hiểu rõ nghò luận là gì ? Thế nào là luận cứ, lập
luận ,… Hầu hết các khái niệm trên đều rất trừu tượng và được minh hoạ bằng những ví dụ tương đối
khó hiểu với nhận thức của học sinh lớp 7. Mặt khác , phần lí thuyết hướng dẫn học sinh cách làm bài
văn nghò luận cũng mang tính khái quát cao dẫn đến học sinh khó vận dụng vào việc giải quyết các vấn
đề cụ thể.
Từ thực tế về mặt lí luận như trên đòi hỏi người giáo viên phải cụ thể hoá các khái niệm trừu tượng
trên cơ sở đưa ra các ví dụ đơn giản hơn kết hợp với cách diễn giảng phù hợp với nhận thức của học
sinh . Nếu làm được như vậy phần nào mới có thể giúp các em làm đước bài văn nhò luận cũng như xây
dựng hệ thống lập luận.
2 .Thực trạng :
2.1 Giáo viên .
Khi giảng dạy phần tập làm văn nghò luận do yêu cầu của việc đổi mới nội dung sgk theo hướng tích
hợp , giáo viên thường hướng dẫn học sinh tìm hiểu lí thết về kiểu bài trên cơ sở một văn bản mẫu
trong sgk. Công việc trên gặp rất nhiều khó khăn do mỗi văn bản nghò luận mẫu (có khi là một đoạn
trích ) có những cách lập luận khác nhau ,kết hợp nhiều phương pháp lập luận ( chứng minh , giải thích ,
bình luận ), bố cục không trọn vẹn …Không những thế các nội dung như : luận điểm , luận cứ , lập luận
được trình bày một cách linh hoạt, tự nhiên, đan xen trong văn bản dẫn đến việc nhận diện chúng
không dễ đối với học sinh lớp 7 .Vì vậy nhiều khi giáo viên cho học sinh tìm hiểu văn bản mẫu một
cách sơ sài và áp đặt kiến thức lí thuyết cho học sinh .Phần hướng dẫn học sinh xây dựng hệ thống luận
điểm , tìm lí lẽ và dẫn chứng cũng như trình bày đoạn văn còn chưa cụ thể rất khó vận dụng .
2.2 : Học sinh ;
Như đã nói ở trên do khả năng nhận thức và vốn sống còn hạn chế nên học sinh rất lúng túng khi
nhận diện các khái niệm : luận điểm , luận cứ và lập luận trong các văn bản mẫu . Từ đó dẫn đến việc
phân tích văn bản với việc khái quát thành các đơn vò kiến thức về lí thuyết của kiểu bài dường như
không có quan hệ gì với nhau .Học sinh thường dựa vào ghi nhớ trong sgk để trả lời khi giáo viên nêu
câu hỏi .Nhiều khi học sinh thuộc lí thuyết nhưng không hiểu bài , không biết so sánh đối chiếu và nhận
diện trong văn bản . Điều đó làm cho việc vận dụng lí thuyết vào việc xây dựng hệ thống lập luận cũng
như việc tạo lập văn bản nghò luận gặp nhiều khó khăn .Học sinh thường không biết cách tìm các luận
điểm phụ cũng như lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ luận điểm chính (hoặc luận đề cần giải thích ) . Không
những thế học sinh còn rất lúng túng khi trình bày lập luận trong một đoạn văn.
3 .Giải pháp :
3.1 . Giúp học sinh nắm vững các khái niệm .
a. Luận điểm : sau khi cung cấp cho học sinh khái niệm về luận điểm trong sách giáo khoa chúng tôi
diễn giảng đơn giản dễ hiểu hơn : luận điểm là ý kiến đánh giá nhận xét của người viết về : người , sự
vật , hiện tượng ,được trình bày dưới hình thức câu khẳng đònh hay phủ đònh .
Câu trình bày luận điểm có thể được mô hình hoá như sau ;
A (không ) là B (là có thể thay thế bằng có , phải , cần …)
Trong đó : A chỉ người , vật, hiện tượng được nghò luận ( luận đề ) ; B là nhận xét, đánh giá của người
viết về A.
Ví dụ :

Để giúp học sinh củng cố khái niệm luận điểm chúng tôi nêu ra một số luận đề (A) học sinh nêu thêm
các nhận xét đánh giá về luận đề đó (B) .
b. Luận cứ ;
A B
Lớp 7 A 5 Học rất giỏi
Bạn Nam Là người tốt
Sách Là người bạn lớn của con người
Học tập Là nhiệm vụ chủ yếu của học sinh
Dân ta Có lòng nồng nàn yêu nước
Tiếng Việt Là một thứ tiếng đẹp
Ca dao Là tình cảm gia đình
Lí lẽ : là những nguyên lí, chân lí ý kiến,những điều có tính qui luật tất yêu của tự nhiên và xã hội đã
được thừa nhận thường được trình bày theo quan hệ nhân quả : Muốn học tập tốt cần có phương pháp
học tập đúng đắùn ; tạo ra thói quen tốt thì dễ bỏ thói quen xấu thì khó…
Dẫn chứng : có thể là người thực việc thực diễn ra trong cuộc sống hiện tại , trong lòch sử , có thể là
những câu thơ ,các sự kiện rùt ra từ các tác phẩm văn học ; có thể là những số liệu thống kê …có liên
quan đến luận điểm chứng tỏ luận điểm là đúng , làm sáng tỏ cho luận điểm.
- Phần hướng dẫn học sinh hiểu rõ các khái niệm chủ yếu thực hiện trong bài tìm hiểu chung về văn
nghò luận và được củng cố trong các bài học tiếp theo .
3.2 Xây dựng lập luận :
3.2.1 Lập luận chứng minh : thực chất của việc xây dựng lập luận chính là tìm ý và lập dàn ý. Với bài
văn chứng minh luận điểm chính thường đã dược nêu rõ ở đề bài ví dụ : chứng minh rằng : bảo vệ rùng
là bảo vệ cuộc sống con người ; Nếu khi còn trẻ ta không chòu khó học tập thì lớn lên sẽ chẵng làm
được gì có ích ; Nói dối là có hại ; Nhân dân ta thường sống theo đạo lí ‘ ăn quả nhớ kẻ trồng cây ; Đi
một ngày đàng học một sàng khôn , ca dao là tình cảm gia đình .về cơ bản các luận điểm thừng được
trình bày theo mô hình : A (không ) là B
Thực chất của chứng minh là dùng dẫn chứng để thuyết phục người khác tin và nghe theo ý kiến, nhận
xét , đánh giá của mình chứng tỏ điều đó là đúng. Có nghóa là tìm những cái giống cái tương tự như nó ,
những biểu hiện cụ thể của luận điểm trong từng mặt , từng cấp độ khác nhau.
Chúng tôi hướng dẫn học sinh xây dựng lập luận ( dàn ý )như sau ;
Mở bài : dẫn dắt , nêu luận điểm : A là B
Ví dụ :trong kho tàng tục ngữ Việt Nam có nhiều kinh nghiệm q báu về mọi mặt .Nói về kinh
nghiệm học tập tục ngữ ta có câu : “ học thầy không tày học bạn”…
Thân bài : Lần lượt nêu các luận điểm phụ và phân tích các dẫn chứng lí lẽ theo mô hình sau :
Ví dụ 1 :
A là B = ca dao là tình cảm gia đình
a 1 là b 1 = ca dao là tình cảm con cháu với ông bà cha mẹ
a 2 là b2 = ca dao là tình cảm vợ chồng
a 3 là b 3 = ca dao là tình cảm anh chò em
Ví dụ 2 :
A là B = Bác Hồ là người có tính giản dò
a 1 là b 1 = Bác Hồ là người giản dò trong lối sống sinh hoạt
a 2 là b2 = Bác là người giản dò trong quan hệ với mọi người
a 3 là b 3 = Bác làngười giản dò trong lời nói và bài viết
Vì dụ 3 :
A là B = Thất bại là mẹ thành công
a 1 là b 1 = Oan đi –xnây thất bại- thành công
a 2 là b 2 = Lu-I Pa –xtơ thất bại – thành công
a 3 là b 3 = Lép Tôn-xtôi thất bại – thành công
Trong mô hình trên a- b được suy ra từ A- B là những biểu hiện giống, tương tự nhu A –B chứng minh
A- B là đúng nhưng ở những cấp độ nhỏ hơn có thể là trong từng giai đoạn , có thể là từng khía cạnh
từng mặt của vấn đề . Mô hình A là B ,a là b chỉ là cốt lõi của luận điểm trong thực tế nó có thể được
diễn đạt bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng bản chất vẫn là : B,b là những đặc điểm, thuộc tính của
A,a . Ví dụ một số luận điểm chứng minh “ sách là người bạn lớn của con người” :
A là B = sách là người bạn lớn của con người .
a 1 là b 1 = sách mở rộng tầm hiểu biết cho con người.
a 2 là b 2 =sách bồi dưỡng tình cảm cho người đọc .
Hệ thống luận điểm phụ : a là b cần được sắp xếp theo trình tự nhất đònh trên cơ sở nào đó : về không
gian ( trong nước, ngoài nước, …)thời gian( quá khứ ,hiện tại…),cấp độ , mức độ ( rộng, hẹp..)
Mỗi luận điểm phụ : a là b trong mô hình trên cần được làm rõ bằng những lí lẽ và dẫn chứng cụ
thể.Hiểu một cách đơn giản hơn mỗi luận điểm phụ được coi là ý chính của một đoạn văn được coi là
câu chủ đề của đoạn văn .Để làm rõ những luận điểm ấy cần phải có những dẫn chứng xác thực . Dẫn
chứng là người ,việc, ý kiến ,hoặc câu thơ ,câu văn… có liên quan đến luận điểm , chứng tỏ tính chân
thực của luận điểm. Việc lựa chọn dẫn chứng phải phù hợp với luận điểm về mặt phạm vi ( thời gian,
không gian, lónh vực…) và phải bảo đảm tính tiêu biểu, toàn diện , chân thực .
Nêu luận điểm phụ và phân tích dẫn chứng chính là xây dựng lập luận trong từng đoạn ,thực chất là
việc trình bày nội dung trong từng đoạn văn .trong bài văn chứng minh thường vận dụng cách trình bày
theo kiểu diễn dòch và qui nạp .
Theo cách diễn dòch câu trình bạy luận điểm (ý chính ) đứng ở đầu đoạn văn ,các câu trình bày ,phân
tích dẫn chứng ở phía sau .
Theo cách qui nạp các câu trính bày phân tích dẫn chứng đứng ở phía trước , câu nêu luận điểm đứng
ở cuối đoạn văn ( Việc hướng dẫn lập luận trong đoạn văn g v hướng dẫn học sinh trong giờ luyện tập
viết đoạn văn )
Ví dụ về đoạn văn chứng minh theo kiểu diễn dòch :
“Tình cảm của con cháu với ông bà cha mẹ được thể hiện rất đằm thắm ,sâu sắc trong ca dao .Đó là sự
tôn vinh , lòng biết ơn của con cái với công lao sinh thành ,dưỡng dục của cha mẹ .Công ơn ấy là vô
cùng, vô tận :
“ Công cha như núi Thái Sơn
Nghóa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”
Câu ca dao trên không những thể hiện công cha rất lớn , nhóa mẹ rất nhiều mà nó còn là sự cảm nhận
tinh tế của người con về công cha nghóa mẹ. Công cha được ví như núi Thái Sơn ngoài sự to lớn nó còn
có cái gì đó rất uy nghi, nhiêm khắc thật phù hợp với tình thương của cha dành cho con. Nghóa mẹ được
ví với hình ảnh nước trong nguồn chảy ra , nó vừa vô tận không bao giờ cạn vừa trong mát , ngọt ngào
như tình thương của mẹ dành cho con . Đó còn là sự nhớ thương vô hạn của con cháu với tổ tiên ,ông bà:
“Ngó lên nuộc lạt mái nhà
Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu .”
Với những hình ảnh so sánh rất giản dò, mộc mạc bài ca dao đã thể hiện một cách rất chân thành lòng
biết ơn ,tôn kính của thế hệ con cháu với tổ tiên.”
Ví dụ về cách trình bày đoạn văn chứng minh theo kiểu qui nạp :
“Ca dao là lòng biết ơn của con cái với công lao sinh thành ,dưỡng dục của cha mẹ .Công ơn ấy là vô
cùng, vô tận :
công cha như núi Thái Sơn
Nghóa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Câu ca dao trên không những thể hiện công cha rất lớn , nhóa mẹ rất nhiều mà nó còn là sụ cảm nhận
tinh tế của người con về công cha nghóa mẹ. Công cha được ví như núi Thái Sơn ngoài sự to lớn nó còn
có cái gì đó rất uy nghi, nhiêm khắc thật phù hợp với tình thương của cha dành cho con. Nghóa me được
ví với hình ảnh nước trong nguồn chảy ra , nó vừa vô tận không bao giờ cạn vừa trong mát , ngọt ngào
như tình thương của mẹ dành cho con . Ca dao còn là sự nhớ thương vô hạn của con cháu với tổ tiên
,ông bà:
Ngó lên nuộc lạt mái nhà
Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu .
Với những hình ảnh so sánh rất giản dò, mộc mạc bài ca dao đã thể hiện một cách rất chân thành lòng
biết ơn ,tôn kính của thề hệ con cháu với tổ tiên. Có thể nói ca dao là những giai điệu ngọt ngào sâu
lắng về tình cảm của con cháu với ông bà ,cha mẹ .”
Ở phần thân bài lập luận còn được thể hiện ở các từ ngữ chuyển đoạn và trong cách trình bày từng
đoạn văn . Phương tiện liên kết chính là yếu tố thể hiện mối quan hệ giữa các luận điểm , giữa luận
điểm và luận cứ có thể dùng các cách liên kết sau .
-Dùng những tư, cụm từø có ý nghóa khẳng đònh : thật vậy, đúng vậy, điều đó đã được khẳng đònh…
-Dùng những từ có ý nghóa trình tự : trước tiên ,sau đó tiếp theo, ngày xưa , ngày nay
-Dùng những từ chỉ ý tương đồng : ngoài ra, bên cạnh đó , mặt khác , hơn nữa…
_Dùng nhùng từ có ý nghóa tương phản : nhưng , song, tuyvậy , thế mà ,…
_Dùng từ có ý nghóa nhân quả : như vậy, cho nên, do đó …
_ Dùng từ có ý nghóa tổng kết ,kết luận ; Tóm lại, kết luận lại ….
*Với bài văn chứng minh một luận điểm được trình bày dưới dạng chuyển nghóa hoặc khái niệm khó
hiểu thì ở phần thân bài cần có đoạn giải thích ngắn gọn .
Kết bài : Có thể kết bài theo theo những cách sau ;
-Tổng hợp tóm lược các ý chính đã nêu ở phần thân bài
- Nêu phương pháp ứng dụng vào cuộc sống , liên hệ thực tế .
-Phát triển mở rộng vấn đề
3.2.2.. Lập luận giải thích ;
- Giáo viên diễn giảng giúp học sinh hiểu được kiểu bài nghò luận giải thích là kiểu bài trình bày những
lí lẽ để giảng giải có kèm theo dẫn chứng cần thiết giúp cho lí lẽ thêm vững chắc, giúp người đọc hiểu
đúng ,hiểu cặn kẽ và sâu sắc vấn đề được giải thích .
- Đề văn giả thích thường nêu ra luận điểmdưới dạng ẩn dụ tượng trưng hoặc là các khái niệm trừu
tượng ,khó hiểu cần giải thích . Tuỳ theo từng đề bài mà vận dụng các phương pháp giải thích khác
nhau tương ứng với những cách lập luận khác nhau …Chúng tôi thấy về cơ bản có thể hướng dẫn học
sinh xây dựng hệ thống lập luận như sau .
- Học sinh cần đặt mình vào cương vò của người cần được giải thích và đặt ra một loạt các các câu
hỏi ,ở cương vò người giải thích cần tìm cách giúp người khác trả lời những câu hỏi đó mới có thể hiểu
rõ vấn đề . Về cơ bản học sinh cần đặt ra và trả lời các câu hỏi được sắp xếp theo thứ tự như sau :
1. Nghóa là gì ?Có ý nghóa gì ? thế nào là ?
2. Vì sao? Có tác dụng gì ?
3. Phải làm gì ?Làm như thế nào ?
Chúng tôi hướng dẫn học sinh lập dàn ý như sau :
Mở bài : Dẫn dắt , giới thiệu luận điểm luận đề cần giải thích .
Có thể dẫn dắt từ nguồn gốc xuất xứ của vấn đề : tục ngữ, tác giả , lónh vực tư tưởng ,đạo lí . Có thể
dẫn dắt từ tính thời sự cần thiết của vấn đề trong đời sống …
Thân bài : Lần lượt nêu ra và trả lời các câu hỏi ( ở phần trên)
*Trả lời câu hỏi nghóa là gì ? Thế nào là ? Có ý nghóa gì ?
Thực chất của việc này là giải thích ý nghóa của từ ngữ hình ảnh nằm trong những câu thơ , câu văn,
câu tục ngữ , danh ngôn…(cả nghóa đen, nghóa bóng )được đưa ra để giải thích bằng cách trả lời các câu
hỏi ...Để trả lời các câu hỏi này có thể dùng phương pháp nêu đònh nghóa, dùng từ đồng nghóa trái nghóa
, hoặc nêu ví dụ.
- Ví dụ : Nguồn là gì ? uống nước là thế nào ? ( nguồn là nơi bắt đầu của dòng nước- chỉ công lao
tạo lập nên thành quả của các thế hệ đi trước; uống nước là hưởng thụ thàng quả ấy)
Tuy nhiên trong một đề bài thường có nhiều từ nhiều khái niệm cần lựa chọn những từ ngữ ,khái niệm
quan trọng để giải thích .
*Trả lời câu hỏi Vì sao ? Có tác dụng gì ?
Đó là giải thích tầm quan trọng, tác dụng của vấn đề đối với cuộc sống . Đây là câu hỏi quan trọng
giúp tìm ra lí lẽ để giải thích được nguyên nhân ,lí do nảy sinh sự kiện vấn đề .Trả lời được các câu
hỏi này mới chỉ ra bản chất của vấn để thuyết phục người đọc nghe theo . Có thể dùng các phương

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Chuyên đề văn nghị luận 7