Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta tiến hành Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa trong bối cảnh
chính trị - xã hội ổn định. Sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đòi hỏi
phải có một nguồn nhân lực dồi dào, có lòng yêu nước, có trình độ khoa học
công nghệ cao cùng với các phẩm chất nhân cách phù hợp. Con người đó phải
là con người có sức khỏe, con người công nghệ, con người tri thức…là mô
hình nhân cách con người Việt Nam mà giáo dục (GD) phải đào tạo ra. Như
vậy, GD Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu mới của xã hội phải xây
dựng con người có phẩm chất, năng lực, vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời
Bác Hồ đã căn dặn.
GD mầm non (MN) là nấc thang khởi đầu trong hệ thống GD quốc
dân với mục tiêu: “Giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mỹ,
hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học
lớp một”. Qua đó cho thấy GD thể chất cho trẻ trước tuổi đi học đặt cơ sở
cho sự phát triển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn luyện tinh thần sảng khoái,
rèn luyện kĩ năng VĐ cơ bản (KNVĐCB), hình thành những thói quen vận
động (VĐ) cần thiết cho cuộc sống.
Rèn luyện KNVĐCB của trẻ MN nói chung và trẻ MG 3 – 4 tuổi nói
riêng làm thỏa mãn nhu cầu hoạt động của trẻ, tăng cường thêm sức khỏe, cơ
thể phát triển cân đối, hài hòa, tạo điều kiện phát triển ở trẻ sự cứng cáp của
cơ bắp và niềm vui trong hoạt động. Hoạt động đó có liên quan chặt chẽ với
quá trình GD nhằm mục đích phát triển thể chất, GD các phẩm chất tâm lý,
hình thành nhân cách…để tạo dần nên sự hoàn thiện mọi mặt cho trẻ.
Thế nên rèn luyện KNVĐCB cho trẻ được tiến hành thông qua tất cả
các hình thức hoạt động như: hoạt động học tập, hoạt động vui chơi, dạo
-1-
chơi, tham quan, lao động…Trong đó hoạt động ngoài trời (HĐNT) rất tốt
đối với sức khỏe và việc học tập, vui chơi của trẻ. Vui chơi ngoài trời tạo cơ
hội cho trẻ VĐ toàn thân, rèn luyện KNVĐ thô như: đi, chạy…
Thực tiễn GD MN cho thấy rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4
tuổi được giáo viên rất chú trọng đặc biệt trong hoạt động học nhưng các
hình thức hoạt động khác đặc biệt là HĐNT chưa được quan tâm, đầu tư.
Thực tế, ở nhiều trường, thời gian HĐNT của trẻ vẫn bị cắt xén thậm chí
không được tổ chức hoặc tổ chức chưa tốt, quá trình tổ chức HĐNT của giáo viên
còn đơn điệu, nhàm chán, mang nặng tính hình thức, điều kiện cơ sở vật chất còn
hạn chế…
Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn nên đề tài: “Một số
biện pháp rèn luyện kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
thông qua hoạt động ngoài trời” đã được lựa chọn.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp
rèn luyện KNVĐCB cho trẻ mẫu giáo (MG) 3 – 4 tuổi thông qua HĐNT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4
tuổi thông qua HĐNT.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ
MG 3 – 4 tuổi thông qua HĐNT.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng một số biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4
tuổi thông qua HĐNT một cách khoa học, hợp lí thì KNVĐCB của trẻ sẽ
được củng cố và nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
-2-
5.2. Tìm hiểu thực trạng của việc rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 –
4 tuổi thông qua HĐNT.
5.3. Đề xuất biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4 tuổi
thông qua HĐNT.
5.4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng hiệu quả của
các biện pháp đã đề ra.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và phân tích tài liệu có liên quan đến đề tài.
6.2. Phương pháp khảo sát
Sử dụng phiếu khảo sát đối với giáo viên nhằm tìm hiểu nhận thức của
giáo viên về việc rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4 tuổi thông qua
HĐNT.
6.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát nhằm tìm hiểu những biện pháp tác động của giáo viên và
trẻ thực hiện KNVĐCB thông qua HĐNT.
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Áp dụng một số biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4 tuổi
thông qua HĐNT nhằm chứng minh giả thuyết.
6.5 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý, phân tích kết quả
khảo sát và thực nghiệm sư phạm.
7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn và điều kiện hạn hẹp chúng tôi chỉ nghiên cứu:
7.1. Nghiên cứu nhóm KNVĐCB: đi, chạy, thăng bằng.
7.2. Nghiên cứu HĐNT: Vui chơi ngoài trời
-3-
7.3. Đề tài tiến hành nghiên cứu tại một số trường MN trên địa bàn Thành
phố Huế - tỉnh Thừa Thiên Huế.
8. Những đóng góp mới của đề tài
8.1. Tìm hiểu thực trạng việc rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4
tuổi thông qua HĐNT.
8.2. Xác định các tiêu chí đánh giá KNVĐCB của trẻ MG 3 – 4 tuổi và bổ
sung một số biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4 tuổi thông qua
HĐNT.
9. Cấu trúc của luận văn
Luận văn có 3 phần chính.
Phần mở đầu
Phần nội dung: bao gồm 4 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2: Thực trạng việc rèn luyện KNVĐCB cho trẻ MG 3 – 4
tuổi thông qua HĐNT
- Chương 3: Đề xuất một số biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho trẻ
MG 3 – 4 tuổi thông qua HĐNT
- Chương 4: Thực nghiệm một số biện pháp rèn luyện KNVĐCB cho
trẻ MG 3 – 4 tuổi thông qua HĐNT
Phần kết luận
-4-
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Con người trong quá trình tiến hoá, để sinh tồn trong sự đấu tranh với
tự nhiên đã hình thành và phát triển những kĩ năng như đi, chạy, nhảy, bò,
leo trèo... Trải qua quá trình sống, con người đã nhận biết rằng các
KNVĐCB càng thành thục bao nhiêu thì sẽ giúp ích nhiều trong việc tìm
kiếm thức ăn và có thể hình thành những kĩ năng đó chỉ có thông qua củng
cố, rèn luyện thường xuyên. Có thể nói các KNVĐCB hình thành cùng với
sự tiến hoá của loài người thông qua con đường lao động và đấu tranh sinh
tồn với thiên nhiên.
-5-
Trẻ em là giai đoạn bình minh của con người. Chăm sóc (CS) sức
khỏe cho trẻ là một trong các nhiệm vụ quan trọng mà ngành GD thể chất
quan tâm và giải quyết. Do đó nó là một trong những nội dung không thể
thiếu được và còn là một trong những nhiệm vụ chính của hệ thống GD cho
trẻ trước tuổi đi học. Trong đó nhiệm vụ giáo dưỡng là rèn luyện KNVĐCB
được đặt lên hàng đầu. Thế nên vấn đề này là một vấn đề luôn được sự quan
tâm của các nhà khoa học từ xưa cho đến nay, trong nước cũng như ngoài
nước.
1.1.1. Một số nghiên cứu nước ngoài
Con người từ thủa bình minh đã quan tâm đến việc rèn luyện thể chất,
rèn luyện các KNVĐCB. Nhìn tổng quát, có hai nền văn minh: Phương
Đông và Phương Tây.
Cùng phát triển với nền văn hóa, việc rèn luyện thể chất của các nước
Phương Đông có lịch sử hàng mấy ngàn năm. Xuất phát từ triết học Phương
Đông với nền tảng học thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Bát quái, mục tiêu
rèn luyện thể chất là rèn luyện con người toàn diện: thể lực, trí tuệ, khí
phách, v.v… tạo nên sức mạnh tổng hợp. Như Hoa Đà – danh y nổi tiếng của
Trung Quốc ở thế kỉ II đã nói: “VĐ giúp khí huyết lưu thông và ngăn ngừa
bệnh tật”. [44, 52]
Phương Tây cổ đại, Hy Lạp cổ chia ra nhiều thành bang như Athens,
Sparta, Thebes… Trong đó thành bang Sparte chú trọng đến rèn luyện thể
chất, chủ yếu rèn luyện KNVĐCB cho trẻ em từ thời thơ ấu bằng con đường
kinh nghiệm. Những trẻ khỏe mạnh, cứng cáp và có khả năng chống đỡ được
các tác nhân của môi trường xung quanh thì để nuôi, trẻ ốm yếu bị thủ tiêu.
Lúc bấy giờ các nhà triết học, các nhà GD chưa hiểu được các quy luật hoạt
động của cơ thể, chưa thể giải thích được cơ chế tác động của các bài tập rèn
luyện KNVĐCB do đó đánh giá hiệu quả của các bài tập theo kết quả bên
ngoài (đúng hơn, thuần thục hơn, kĩ thuật hơn, có nhiều kĩ năng hơn…). Sau
-6-
đó họ đã biết liên kết các biện pháp rèn luyện KNVĐCB cụ thể, cũng như
các biện pháp rèn luyện và phát triển sức nhanh, sức mạnh, sức bền…thành
một hệ thống thống nhất. Mục tiêu của nền GD này là đào tạo các chiến binh
phục vụ cho các cuộc chinh chiến thế nên quá trình rèn luyện các kĩ năng
chiến đấu như đi, chạy, lăn, bò, trườn, kĩ năng sử dụng vũ khí… được đặt lên
hàng đầu. [39]
Nhà sư phạm Tiệp Khắc kiệt xuất – J.A. Cômenxki (1592 – 1670) đã
đặt cơ sở cho khoa học sư phạm. Ông cho rằng nguyên tắc phù hợp với tự
nhiên là nguyên tắc cơ bản của hệ thống GD của mình. Theo ý kiến của ông,
để GD được đúng, cần nghiên cứu tự nhiên và đi theo các quy luật của tự
nhiên. Cho đến nay nguyên tắc phù hợp với tự nhiên do Cômenxki nêu lên
vẫn giữ được ý nghĩa của nó. Ông nhấn mạnh đến tự nhiên bao quanh con
người, tổ chức các HĐNT, dùng môi trường tự nhiên bên ngoài để rèn luyện
các KNVĐCB cho con người. [39]
Hệ thống GD thể chất ở Thụy Điển đại biểu ưu tú chính là 2 cha con
P.Lingơ (1776 – 1839) và I.Lingơ (1820 – 1886). Qua việc nghiên cứu về giải
phẫu và sinh lý của trẻ em, hai ông nhấn mạnh đến sự cần thiết phải bắt đầu
GD thể chất từ lứa tuổi còn thơ ấu và trẻ em cần phải áp dụng những bài tập
tăng cường và phát triển thân thể. Theo ý kiến của ông: củng cố và tăng cường
sức khỏe là nhiệm vụ duy nhất của thể chất nên trẻ em cần nâng cao sự gắng
sức thể lực chung (thí dụ: bài tập đi bộ kết hợp với bật nhảy, các bài tập thăng
bằng…). Tư thế đúng của tay, chân và mình được đặc biệt chú ý trong khi
thực hiện các VĐ đi, chạy, nhảy… kết hợp với khả năng giữ thăng bằng. Để
tiếp tục hoàn thiện thêm các bài tập Lingơ đã bổ sung dụng cụ trong quá trình
rèn luyện các KNVĐCB [39].
Hệ thống GD thể chất ở Pháp Phơanxixcô Amôrốt (1770-1848) có
công lớn trong việc biên soạn các bài tập rèn luyện KNVĐCB. Theo ông,
những bài tập thể dục tốt là những bài tập hình thành các kĩ năng cần thiết
-7-
trong cuộc sống như: đi, chạy, nhảy, leo trèo, trườn bò, ném, đấu kiếm…
Quá trình tiến hành theo nguyên tắc chung vừa sức với người tập và đơn giản
trong chừng mực có thể. Các bài tập tiến hành theo trình tự từ dễ đến khó.
[39]
Nhà GD học, giải phẫu học, thầy thuốc Piốt Lesghapht (1837 – 1909)
có vai trò to lớn trong sự phát triển của khoa học và thực tiễn GD thể chất.
Ông xuất bản một loạt tác phẩm về sinh học, giải phẩu, GD thể chất… Trong
đó, quan trọng nhất là tác phẩm: “GD gia đình và hướng dẫn giáo dưỡng thể
chất cho trẻ ở lứa tuổi đến trường”. Ông cho rằng GD thể chất là chuẩn bị
con người cho lao động sáng tạo, sao cho có thể sử dụng sức lực,
KNVĐCB… của mình với sự tiêu hao năng lượng ít nhất mà giành được kết
quả tốt nhất. Trẻ em nên rèn luyện kĩ năng tự lĩnh hội các bài tập VĐ và các
VĐ này được áp dụng trong các điều kiện khác nhau dưới các hình thức khác
nhau. [39]
Theo tác giả I.K.Khai-li-sốp trong cuốn GD thể dục cho thiếu nhi
trong gia đình, ở vườn trẻ, lớp MG coi GD thể chất là bộ phận không thể tách
rời của nền GD, hướng đến rèn luyện cho trẻ các KNVĐCB và khả năng
phối hợp giữa các KNVĐCB với nhau. Ông đặc biệt quan tâm đến việc rèn
luyện thân thể qua chế độ sinh hoạt hàng ngày, “giờ bài tập”, trò chơi, hoạt
động dạo chơi, các yếu tố thiên nhiên vô sinh … một cách có hệ thống. Các
hoạt động đó không chỉ diễn ra ở nhà trường hoặc cơ quan GD nào khác mà
chính các bậc phụ huynh phải hết sức chú ý đến việc rèn luyện các
KNVĐCB cho trẻ. [17]
Maria Montessori (1896 – 1952) bác sĩ, nhà tâm lí GD của nước Ý. Dựa
trên nền tảng của tâm lí học phát triển và lý thuyết học, bà cho rằng trẻ em là
một chủ thể tích cực, chủ động, tự lựa chọn nội dung học tập của mình một
cách độc lập. Hình thức học này gọi là “hoạt động tự do”, “vui chơi tự do”.
Trong quá trình CS GD trẻ em bà đưa ra 8 nguyên tắc cho phương pháp GD
-8-
của mình. Trong đó nguyên tắc “VĐ và nhận thức” được nhắc đến đầu tiên.
Bà nhấn mạnh đến việc trẻ chỉ được phát triển khi trẻ VĐ và tự VĐ. Bà cho
rằng VĐ và nhận thức có mối quan hệ với nhau, suy nghĩ và VĐ là một quá
trình. Những điều này cho thấy rằng GD nên tăng cường các hoạt động VĐ để
mở đường cho hoạt động nhận thức. [48]
Trong cuốn “Thể dục thể thao nhi đồng trước tuổi học” của tác giả
Lưu Tân – người Trung Quốc đã chỉ ra 4 mặt của bài tập động tác: bài tập
động tác cơ bản, bài tập thể dục cơ bản, trò chơi VĐ và các hoạt động VĐ
với dụng cụ. Trong đó rèn luyện các bài tập động tác cơ bản là mục tiêu, nội
dung quan trọng và là biện pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ hoạt động thể
dục thể thao. Theo ông hoạt động này có thể rèn luyện toàn bộ cơ thể một
cách có hiệu quả, nâng cao và phát triển các tố chất thể lực, tăng cường thể
chất; phát triển các năng lực hoạt động cơ bản và tạo điều kiện để các em
thích ứng tốt hơn đối với xã hội. [36]
Như vậy, vấn đề GD thể chất nói chung và rèn luyện KNVĐCB nói
riêng luôn nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Mặc
dù theo đuổi những mục đích về chính trị, quân sự, giai cấp, tôn giáo, văn
hóa, GD… khác nhau nên có những quan điểm khác nhau nhưng hầu như tất
cả mọi nền văn minh, mọi tác giả đều thừa nhận vai trò to lớn của việc rèn
luyện KNVĐCB trong cuộc sống của mỗi con người.
1.1.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Những vốn sống kinh nghiệm của dân tộc ta cùng với mối quan hệ lâu
đời với các nước láng giềng Phương Đông và ảnh hưởng của nền thể dục thể
thao Phương Tây từ thế kỉ 19. Nên việc rèn luyện KNVĐCB cũng được khá
nhiều các tác giả đề cập với nhiều khía cạnh khác nhau.
Thời kỳ phong kiến có các trường học, tại đó cùng với các kiến thức
về tôn giáo, trẻ em còn được học các kiến thức vệ sinh, rèn luyện thân thể.
Hoạt động rèn luyện thể chất đặc biệt là rèn luyện KNVĐCB được tổ chức ở
-9-
ngoài trời với không gian rộng rãi dưới hình thức: bài tập rèn luyện thân thể,
trò chơi, trò chơi kết hợp với các bài đồng dao… để phát triển VĐ, ý thức
thẩm mỹ, tăng vẻ đẹp và sự hài hòa của động tác… [39]
Trong cuốn “Thể dục và trò chơi VĐ” của tác giả Đồng Văn Triệu, ông
đã biên soạn 10 động tác thể dục cho trẻ em. Các bài tập thể dục này trên cơ
sở sinh lý, tâm lý của “lớp vỡ lòng”, với mục đích giúp cho cơ thể trẻ phát
triển đều đặn, tạo điều kiện chống bệnh tật. Ngoài ra ông còn sưu tầm những
trò chơi dân gian để củng cố và rèn luyện các nhóm cơ bắp mà trẻ mới được
học. Phần lớn các trò chơi này diễn ra ngoài trời, với khoảng không gian rộng
rãi, thoáng mát và an toàn. [42]
Tác giả Lương Kim Chung và Đào Duy Thư trong cuốn “Vun trồng thể
lực cho đàn em nhỏ” đã đề cập đến phương pháp tổ chức các bài tập thể dục,
trò chơi và HĐNT dựa trên những đặc điểm về sinh lý học, tâm lý học của các
em MG. Trong đó ông xem HĐNT như là một phương tiện để GD KNVĐCB
cho trẻ thế nên không nhất thiết phải gò trẻ vào kĩ thuật VĐ chính xác mà cần
thiết là trẻ được VĐ cơ bản nhiều và VĐ một cách tự nhiên trong môi trường
thiên nhiên.[11]
Trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thể dục thể thao” của tác giả
Trương Quốc Yên đã cho chúng ta thấy quan điểm của Hồ Chí Minh – nhà
văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới về vấn đề rèn luyện thể chất
trong nhà trường và ngoài xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi GD và rèn
luyện thể chất là một mặt cần thiết, quan trọng như các mặt GD khác. Người
khẳng định nó đem lại cho tuổi trẻ sức khỏe, mà sức khỏe là cái quý nhất của
con người. Cho nên phải rèn luyện sức khỏe ngay từ lứa tuổi nhỏ và những
kĩ thuật động tác phải phù hợp với đặc điểm sinh lý, cấu trúc cơ thể và độ
tuổi của con người. [52]
Trong luận án Tiến sĩ của tác giả Đặng Hồng Phương: “Nghiên cứu
phương pháp dạy học bài tập VĐ cơ bản cho trẻ MG lớn (5 – 6 tuổi)” đã đi
-10-
sâu nghiên cứu và đề xuất các phương pháp dạy học bài tập VĐ cơ bản cho
trẻ. Bà quan tâm đến bài tập VĐ và trò chơi VĐ từ đó đưa ra 4 nhóm phương
pháp trong đó phương pháp ôn luyện KNVĐ cũ và xem yếu tố chơi, thi đua,
chia nhóm như là phương tiện, hình thức tạo cơ hội cho trẻ được tích cực VĐ,
rèn luyện KNVĐCB, giải quyết tình trạng nhiều trẻ trong một lớp học. [27]
Nguyễn Thị Tuyết Ánh với luận văn Thạc sĩ đã nghiên cứu “Một số
biện pháp tổ chức HĐNT nhằm phát triển thể lực cho trẻ 5 – 6 tuổi”. Tác giả
đã đề cập và đưa ra các biện pháp: chọn lựa trò chơi phù hợp nhằm phát triển
thể lực, lập kế hoạch, tạo môi trường, phương tiện phong phú, đánh giá trẻ
trong HĐNT, tăng cường rèn luyện có hệ thống các KNVĐ là những biện
pháp có tính chất quyết định đến sự phát triển các KNVĐCB. Đây là cơ sở
để giúp trẻ tự tin, hứng thú với hoạt động, thích tham gia vào hoạt động. [1]
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu lý luận - thực tiễn trong và
ngoài nước đã đề cập đến nhiều khía cạnh của việc rèn luyện KNVĐCB cho
trẻ. Phần lớn các công trình đó tập trung nghiên cứu rèn luyện KNVĐCB
trong hoạt động học có chủ đích, hoạt động vui chơi… Đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa rèn luyện
KNVĐCB trong HĐNT. Vì vậy, dựa trên kết quả nghiên cứu của các công
trình kể trên, chúng tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu “Một số biện pháp rèn
luyện kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi thông qua hoạt
động ngoài trời”, qua đây góp phần làm phong phú thêm thông tin về lý luận
và thực tiễn cho vấn đề này.
1.2. Cơ sở lí luận về kĩ năng vận động cơ bản
1.2.1. Vận động
* Khái niệm
Khái niệm VĐ được quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác
nhau:
-11-
Trong triết học, Ph. Ăngghen viết: “VĐ, hiểu theo nghĩa chung nhất,
tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu
của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra
trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”. Có rất nhiều
hình thức VĐ của vật chất (VĐ cơ học, vật lý, hóa học, sinh học, xã hội),
trong đó hình thức VĐ phức tạp nhất của vật chất, đó là VĐ của sinh vật, cụ
thể là VĐ của động vật cao cấp – con người. [28], [38]
Xét ở góc độ sinh lý học, việc nắm vững các chi tiết VĐ được xác định
bởi sự hình thành hệ thống mới của sự hoạt động não cho nên ta có thể nói
rằng VĐ chính là quá trình hoạt động của hệ thần kinh cao cấp. [29]
Trong tâm lý học, vận động là hoạt động có ý thức của con người, là
sự chuyển hóa lẫn nhau để tạo ra cái mới [46]. VĐ thúc đẩy sự phát triển tâm
lý. Ví như sự phát triển VĐ của bàn tay, ngón tay cho phép trẻ hoạt động
một cách đa dạng với đồ vật, hay việc biết đi giúp trẻ mở rộng phạm vi tiếp
xúc với môi trường xung quanh… nhờ đó mà tâm lý của trẻ phát triển. [9]
Ở góc độ giáo dục học, VĐ có trong tất cả mọi hoạt động của con
người, nó có tác động tốt lên cơ thể nếu đúng tư thế và vừa sức. VĐ là sự tác
động tích cực của các cơ quan VĐ của con người, phương tiện cơ bản, đặc
biệt của quá trình GD thể chất. Chúng ta GD thể chất cho trẻ chủ yếu là
thông qua hoạt động tự VĐ của trẻ. [29], [39]
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Lân thì VĐ được hiểu là sự thay đổi
chỗ hay tư thế của toàn bộ hay một phần thân thể. VĐ là điều kiện giữ gìn sức
khỏe.[19]
Vậy, có thể nói: Từ khi trẻ mới sinh ra, trẻ luôn thích hoạt động, VĐ
tích cực. VĐ là sự chuyển động của cơ thể con người. Trong đó có sự tham
gia của hệ cơ, hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh. VĐ làm cho cơ
-12-
thể trẻ phát triển đều đặn, cân đối, sức khỏe được tăng lên làm cơ sở cho sự
phát triển toàn diện nhân cách con người.
* Nội dung phát triển vận động
Phát triển các nhóm cơ: Cơ hô hấp, tay vai, cơ chân, cơ lưng, cơ
bụng…
Phát triển các VĐ cơ bản (VĐ thô): Đi, chạy, nhảy, thăng bằng, leo
trèo… Trẻ thực hiện các VĐ theo nhạc, nhịp điệu và hiệu lệnh bằng lời, với
các dụng cụ như bóng, dây, gậy, vòng…
Phát triển các VĐ tinh: VĐ của bàn tay, sự khéo léo của các ngón tay,
phối hơp VĐ mắt – tay và kĩ năng sử dụng các đồ dùng, dụng cụ (kéo, bút, đồ
chơi…)
*Cơ sở sinh lý của sự hình thành thói quen VĐ ở trẻ
Qua nghiên cứu học thuyết của I.P.Páp-Lốp về sự hoạt động của hệ
thần kinh cao cấp, quá trình hình thành những thói quen VĐ cơ bản đúng đắn
của trẻ sẽ là cơ sở để tiếp tục phát triển và hoàn thiện chúng ở lứa tuổi tiếp
theo. Cơ sở sinh lý của việc hình thành những thói quen VĐ là quá trình hình
thành kĩ năng, kĩ xão VĐ. Quá trình này diễn ra theo các giai đoạn liên tục
và chúng có quan hệ với nhau. [29], [40], [42]
Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn hình thành hiểu biết sơ bộ về động tác.
Quá trình hưng phấn có tính chất khuyếch tán lan truyền sang các trung tâm
khác của cơ quan phân tích VĐ. Do đó trẻ thường thiếu tin tưởng trong khi
VĐ, các cơ bắp căng hết sức, có nhiều động tác thừa, thiếu chính xác về thời
gian và không gian. Có thể nói, đây là giai đoạn lan tỏa các phản xạ có điều
kiện.
Giai đoạn 2: Diễn ra các quá trình chuyên môn của các phản xạ có
điều kiện. Phát triển ức chế để hạn chế quá trình kích thích lan truyền rộng
rãi. Xác định được phối hợp và chính xác của VĐ, hình thành định hình động
lực. Toàn bộ các phản xạ có điều kiện được phát triển theo thứ tự nhất định
-13-
và có sự phối hợp cân bằng của các cơ quan bên trong. Trong chừng mực
nào đó việc thực hiện động tác đã có độ chính xác cao hơn ở giai đoạn thứ
nhất.
Gian đoạn 3: Hình thành một hệ thống liên hệ tạm thời phức tạp có tính
chất củng cố định hình động lực và ổn định được thói quen VĐ. Quá trình thực
hiện động tác không còn bị gò bó, tiết kiệm được sức lực, tính nhịp điệu của
động tác được thể hiện, trẻ tin tưởng vào hoạt động VĐ của mình và có thể thực
hiện được những biến dạng động tác theo những điều kiện thực tiễn (trò chơi và
cuộc sống).
1.2.2. Vận động cơ bản
* Khái niệm: Vận động cơ bản là những VĐ cần thiết đối với con
người trong cuôc sống và được sử dụng trong hoạt động và hoàn cảnh khác
nhau như: đi, chạy, nhảy, bài tập thăng bằng…, khắc phục khó khăn: nhảy
qua rãnh nước, trèo lên cây… Khi VĐ nó thu hút một số lớn cơ bắp làm
việc. [26], [40]
* Khái niệm bài tập vận động: Bài tập vận động cơ bản là một loại bài
tập thể chất, bao gồm một hệ thống các hành động VĐ được chọn lọc từ các
VĐ cơ bản, tác động lên các nhóm cơ bắp lớn của cơ thể nhằm giải quyết
nhiệm vụ giáo dưỡng và GD trong quá trình GD thể chất cho trẻ. [26]
* Ý nghĩa
Khi thực hiện bài tập VĐ cơ bản sẽ thu hút đa số các nhóm cơ bắp
hoạt động, đẩy mạnh quá trình hoạt động sinh lý và nâng cao hoạt động sống
của toàn bộ cơ thể. Như vậy qua luyện tập bài tập VĐ cơ bản giúp hoàn thiện
khả năng làm việc của hệ thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, củng
cố và phát triển cơ bắp, rèn luyện, hình thành các tư thế đúng… Nó có tác
dụng tốt tới sức khỏe và phát triển thể lực, tạo điều kiện phát triển các tố chất
nhanh, mạnh, khéo…
Ngoài ra, các bài tập VĐ cơ bản còn có tác dụng:
-14-
+ Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng trong không gian: sự định
hướng trong khi VĐ, vị trí để các dụng cụ, mối quan hệ giữa các vật trong
không gian, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt.
+ Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng về thời gian: sự lâu dài –
kéo dài của việc thực hiện VĐ, tính thứ tự của những giai đoạn riêng biệt của
VĐ, thực hiện VĐ theo nhịp điệu cho sẵn hay theo nhịp điệu cá nhân…
+ Giúp trẻ phát triển khả năng định hướng trong hoạt động tập thể: vị
trí của mình trong đội hình chung.
Bài tập VĐ cơ bản góp phần GD thẩm mỹ cho trẻ, GD về cái đẹp khi
VĐ, tính chính xác và tính biểu cảm.
* Phân loại các bài tập vận động cơ bản. [8], [26], [27]
Số lượng các bài tập thể dục cho trẻ vô cùng nhiều và đa dạng, nên
cần phải có sự phân loại. Trên cơ sở đó đề ra phương pháp biện pháp để rèn
luyện phù hợp với độ tuổi của mỗi trẻ.
V.X.Pharphen đã tiến hành phân loại các bài tập VĐ cơ bản:
Dựa vào tình huống diễn ra ông chia thành bài tập chuẩn và bài tập
không chuẩn.
+ Bài tập chuẩn: người tập biết trước được trình tự và hình thức tiến
hành các động tác. Các bài tập chuẩn cũng rất phong phú: đi chạy, nhảy…
Trong các bài tập này thành tích của người tập có thể đo được, đếm được.
Bài tập không chuẩn (tình huống) các động tác luôn thay đổi phụ
thuộc vào các tình huống. Ví dụ: chuyền bóng theo các hướng.
Dựa vào quá trình hoạt động, do hoạt động cơ bắp đã gây nên những
biến đổi sinh lý trong cơ thể vì vậy các bài tập thể lực có thể được phân ra
làm các bài tập động và bài tập tĩnh. Đặc điểm nổi bật của các dạng bài tập
trên là có sự di chuyển cơ thể hoặc một bộ phận của cơ thể trong không gian.
Dựa vào tố chất thể lực, nguời ta chia bài tập VĐ cơ bản thành các loại:
Bài tập về sức nhanh: đi, chạy…
-15-
Bài tập sức mạnh: nhảy, ném…
Bài tập sự khéo léo: cảm giác thăng bằng…
Bài tập sức bền: đi, chạy chậm.
Dựa vào cấu trúc, đặc điểm cấu tạo động tác và tính chu kì người ta
phân chia thành 2 loại bài tập:
+ Bài tập VĐ cơ bản có chu kỳ: là những VĐ khi thực hiện chúng,
toàn bộ cơ thể và một bộ phận nào đó của cơ thể không ngừng lặp lại vị trí
ban đầu như đi, chạy, bò, trườn.
+ Bài tập VĐ cơ bản không có chu kì là những VĐ khi thực hiện
chúng không có sự lặp lại các động tác của người tập như ném, nhảy…
Trong một số bài tập VĐ cơ bản, các động tác không có chu kì xảy ra
sau động tác có chu kì. Ví dụ: chạy đà để nhảy.
Dựa vào tính chu kì, tố chất thể lực, đặc điểm của bài tập VĐ cơ
bản…người ta chia VĐCB thành 4 nhóm: [26], [27]
Nhóm 1: Đi, chạy, thăng bằng.
Nhóm 2: Nhảy, bật xa, bật sâu…
Nhóm 3: Ném (xa, trúng đích…), chuyền, bắt.
Nhóm 4: Bò, trườn, trèo…
Nội dung của các bài tập VĐ cơ bản đối với trẻ MG 3 – 4 tuổi ở các
trường MN hiện nay đó là hình thành, củng cố và phát triển các VĐ: đi, chạy,
thăng bằng; bật, nhảy; ném, chuyền, bắt; bò, trườn, trèo. Trong khuôn khổ luận
văn, chúng tôi chỉ quan tâm đến việc rèn luyện “VĐ đi”, “VĐ chạy” và “thăng
bằng” cho trẻ MG 3 – 4 tuổi.
1.2.3. Kĩ năng vận động cơ bản
Tất cả các hoạt động con người, bao gồm cả hoạt động VĐ đều là
phản xạ. Do yêu cầu, mục đích của VĐ và để thích nghi với điều kiện sống,
các phản xạ VĐ được phối hợp lại với nhau thành một tổ hợp các động tác
có ý nghĩa và trở thành kĩ năng.
-16-
Khi những động tác thực hiện chuẩn xác, nhịp nhàng sẽ được gọi là kĩ
năng. Khái niệm kĩ năng đã nói lên thói quen và phải trải qua một thời gian
nhất định. Thế nên KNVĐ của trẻ em đuợc hình thành phải thông qua quá
trình tập luyện thường xuyên.
Kĩ năng VĐ là một hình thức hành động, được hình thành theo cơ chế
phản xạ có điều kiện, nhờ quá trình luyện tập thường xuyên. Hay nói cách
khác:
* Kĩ năng vận động: là khả năng VĐ ở mức độ cần phải tập trung chú
ý cao vào từng chi tiết của bài tập VĐ, các chi tiết của bài tập VĐ được
luyện chưa liên tục, chưa nhuần nhuyễn, chưa đảm bảo độ bền vững. [41]
* Bản chất của kĩ năng vận động
Nhà sinh lý học người Nga Pavlov đã chỉ ra rằng trong quá trình hình
thành các dạng hoạt động hay hình thành phản xạ có điều kiện phải có sự
hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa các vùng khác nhau trên vỏ
bán cầu đại não. Mà hoạt động bình thường của vỏ não là kết quả của hai quá
trình hưng phấn và ức chế. Đường liên hệ thần kinh tạm thời được củng cố
bằng những kích thích có điều kiện thông qua quá trình luyện tập. Hay nói
một cách khác phản xạ có điều kiện là mối liên lạc giữa cơ thể và môi
trường. Phản xạ có điều kiện cần có một quá trình xây dựng trong đời sống,
trong luyện tập để hình thành đường liên hệ tạm thời.
Quá trình hình thành phản xạ có điều kiện ở người và động vật thí
nghiệm có sự khác biệt rõ rệt. Ở động vật đường liên hệ thần kinh tạm thời
được hình thành chỉ bằng những kích thích có điều kiện và không điều kiên
và lặp lại những kích thích đó. Ở người KNVĐCB có đặc điểm khác với
phản xạ có điều kiện là trong KNVĐCB có sự tác động của hệ thống tín hiệu
thứ nhất và thứ hai. Vì vậy sự hình thành KNVĐCB phức tạp hơn nhiều so
với việc hình thành phản xạ có điều kiện ở động vật. Thí dụ phản xạ tiết
nước bọt ở chó nhờ ánh đèn thì chỉ cần nhắc lại các kích thích từ 5-7 lần thì
-17-
phản xạ đó được hình thành và bền vững. Nhưng quá trình hình thành
KNVĐCB phải được củng cố bằng những kích thích có điều kiện thông qua
quá trình luyện tập thường xuyên. Như vậy điều kiện căn bản để hình thành
kĩ năng là phải củng cố đường liên hệ thần kinh tạm thời, tạo ra khả năng
hưng phấn của hệ thần kinh.
KNVĐCB được xây dựng dựa trên sự tác động của cả hệ thống tín
hiệu thứ nhất và thứ hai. Việc xây dựng KNVĐ có thể được tiến hành thông
qua phương pháp làm mẫu (thị phạm) và giảng giải. Như vậy KNVĐCB là
những hình thái phản xạ học được trong cuộc sống, trong quá trình tập luyện
theo cơ chế đường liên hệ thần kinh tạm thời. [8]
* Các dấu hiệu đặc trưng của kĩ năng vận động cơ bản:
- Việc điều khiển các động tác – thành phần của hành động trọn vẹn,
diễn ra chưa được tự động hóa mà phải luôn luôn có sự kiểm tra của ý thức,
do đó dễ mệt mỏi và rất căng thẳng.
- Cách thức giải quyết nhiệm vụ VĐ chưa ổn định, việc tìm tòi những
cách thức mới hơn vẫn đang diễn ra.
- KNVĐCB là mức độ đầu tiên để đi đến nắm vững các hành động VĐ
mà bất cứ người học nào có thể bỏ qua được. Khoảng thời gian chuyển tiếp
lên kĩ xảo rất khác nhau và phụ thuộc vào năng lực của từng người, vào sự
hoàn thiện các phương pháp giảng dạy vào độ khó của động tác.
- Rèn luyện KNVĐCB có một giá trị giáo dưỡng rất lớn bởi vì cơ sở
của chúng ta là sự tìm tòi, sáng tạo, là sự so sánh, phân tích, tổng hợp đánh
giá và các cách thức thực hiện động tác, tức là phải tư duy một cách tích cực.
* Đặc điểm tiếp thu kĩ năng vận động cơ bản ở trẻ em
Trong quá trình tập luyện, trẻ ở lứa tuổi này rất khó để thực hiện các
động tác thực tập ngay được. Quá trình hình thành động tác ở trẻ tuân theo
quy luật từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực
-18-
tế cho thấy muốn hình thành động tác một cách chuẩn xác phải dựa trên
những động tác đơn giản hoặc những động tác đã được tiếp thu từ trước
Ở những kĩ năng nhiều thành phần thì không phải là mới hoàn toàn mà
có những động tác đã được học từ trước.
Như vậy, muốn tiếp thu được các kĩ năng động tác phức tạp phải dựa
trên cơ sở lưu dấu vết của những động tác đã có trước. Khi cần phải tiếp thu
các kĩ thuật VĐ phức tạp mà thành phần của chúng có nhiều động tác mới lạ,
thường phải sử dụng các bài tập hỗ trợ, chuẩn bị xây dựng kĩ năng theo từng
phần. Tóm lại muốn xây dựng những kĩ năng động tác phức tạp phải dựa
trên cở sở của sự tiếp thu những động tác đơn giản. Ví dụ: Kĩ năng đi được
hình thành trên cơ sở kĩ năng đứng, kĩ năng chạy được hình thành trên cơ sở
kĩ năng đi.
Trong thực tế cho thấy, có nhiều trường hợp các KNVĐCB được củng
cố vững chắc không những không góp phần thúc đẩy, mà ngược lại còn cản trở
sự hình thành kĩ năng động tác mới. Nhất là trong trường hợp cấu trúc động tác
mới làm thay đổi kĩ năng động tác cũ. Cho nên trong quá trình tập luyện, khi
tập một động tác phải đảm bảo hình thành động tác đúng ngay từ đầu, vì sửa
một động tác sai đã được củng cố vững chắc còn khó hơn và cần nhiều thời
gian hơn tập một động tác mới.
Khi một động tác được thực hiện nghĩa là từ khi tiếp nhận kích thích,
thần kinh phân tích và tổng hợp rồi đưa ra chương trình VĐ. Đó là cả một quá
trình đòi hỏi nhiều yếu tố tham gia. Bởi vì KNVĐ không phải chỉ là những cử
động, động tác đơn giản mà là một tổ hợp nhiều cử động, nhiều động tác phối
hợp với nhau theo một trình tự nhất định nhất định để tạo nên một hệ VĐ
thống nhất. Trong quá trình hình thành KNVĐCB, dấu vết của hoạt động VĐ
rất quan trọng bởi vì cấu trúc của một động tác được xác định bằng dấu vết
của kích thích trước, dấu vết của động tác mới được hình thành và những tín
-19-
hiệu qua cơ quan phân tích chạy lên hệ thần kinh báo hiệu việc hình thành nên
chương trình làm việc của hệ VĐ.
*Các giai đoạn hình thành kĩ năng vận động cơ bản
Quá trình hình thành KNVĐCB cho trẻ MN diễn ra theo 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1: Hình thành KNVĐ đầu tiên
Mục đích: Giúp trẻ có những hiểu biết sơ bộ về các thành phần cơ bản
của kĩ thuật bài tập.
Nhiệm vụ: Hình thành ở trẻ những biểu tượng toàn vẹn của bài tập,
nắm được các bước cơ bản của bài tập.
Cơ chế sinh lý: Diễn ra sự lựa chọn các phản xạ không điều kiện để
hình thành phản xạ có điều kiện vừa thu được, đồng thời hình thành những
phản xạ mới mà trẻ em chưa có kinh nghiệm VĐ. Trong khoảng thời gian
ngắn trẻ làm quen với các động tác mới mang tính chất khuếch tán của quá
trình hưng phấn trong vỏ đại não, thiếu sự ức chế trong. Cuối giai đoạn này
là một hệ thống phản xạ VĐ tương ứng với phần cơ bản của kĩ thuật bài tập
vừa tập được hình thành.
Đặc điểm: Trẻ thiếu tự tin trong lúc VĐ, các cơ bắp đều căng hết mức,
dùng sức chưa đúng giữa các bước của bài tập và thiếu sự liên tục, có nhiều cử
động thừa, thiếu chính xác về không gian và thời gian do quá trình hưng phấn
bị khuyếch tán, lan truyền sang các trung tâm khác của cơ quan phân tích VĐ.
Giai đoạn 2: Học sâu từng phần của bài tập.
Mục đích: Chuyển kĩ năng thô sơ ban đầu thành kĩ năng chính xác, chú
ý đến các chi tiết kĩ thuật.
Nhiệm vụ: giúp trẻ nắm chắc hơn các phần cơ bản của kĩ thuật bài tập
đã học và các chi tiết của nó.
Cơ chế sinh lý: Sự ức chế phân biệt trong phát triển, hạn chế sự lan
truyền của các quá trình hưng phấn. Vai trò của hệ thống tín hiệu thứ hai dần
dần được nâng cao, hoàn thiện những VĐ trong vỏ đại não, tạo ra những mối
-20-
liên hệ tạm thời phức tạp, nhờ việc lặp đi, lặp lại hệ thống các phản xạ có điều
kiện của bài tập đã học, để dần tiến tới hình thành những định hình động lực ở
giai đoạn sau.
Đặc điểm: Trẻ hiểu nhiệm vụ và hành động của mình. Các kĩ năng VĐ
được hình thành với đầy đủ các chi tiết của kĩ thuật bài tập, bắt đầu xuất hiện
các tố chất VĐ, nhưng thường giao động. Trẻ biết dùng sức hợp lý giữa các
phần của bài tập, củng cố hệ thống phản xạ về bài tập VĐ, bước đầu biết phối
hợp giữa tay và chân.
Giai đoạn 3: Củng cố và tiếp tục hoàn thiện KNVĐ, ổn định kĩ năng
Mục đích: Chuyển những KNVĐ đã học thành kĩ xảo VĐ (nếu có thể)
Nhiệm vụ: Củng cố kĩ thuật bài tập dã học, tiếp tục hoàn thiện các chi
tiết kĩ thuật của bài tập đó.
Cơ chế sinh lý: Hình thành định hình động lực của các mối liện hệ
giữa các phản xạ đã được hình thành, trong mối liên hệ tác động qua lại giữa
hệ thống tín hiệu thứ nhất liên quan đến phản xạ có điều kiện được thành lập
trên cơ sở phản xạ không có điều kiện và hệ thống tín hiệu thứ hai liên quan
đến lời nói của giáo viên, tư duy của trẻ. Hệ thống tín hiệu thứ hai giữ vai trò
chủ đạo.
Đặc điểm: Trẻ đã nắm vững kĩ năng của bài tập VĐ đã học, trẻ biết tiết
kiệm sức lực, tập thoải mái tự nhiên, không gò bó, tập một cách tự do, chính
xác.
Trẻ tự tin, tin tưởng vào hành động của mình và thực hiện nhiệm vụ một
cách tự giác, áp dụng được những VĐ đó vào thực tế, khi dạo chơi, chơi trò
chơi VĐ.
1.2.4. Đặc điểm vận động cơ bản của trẻ MG 3 – 4 tuổi
1.2.4.1. Vận động đi
*Khái niệm
-21-
Đi là một trong những loại VĐ cơ bản của con người. Đi là hoạt động
cơ bản trong đời sống sinh hoạt học tập, lao động sản xuất. Thế nên đi có rất
nhiều quan niệm khác nhau:
Theo từ điển Tiếng Việt, đi là di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác bằng
những bước chân. [52]
Theo quan điểm sinh học, đi là phản xạ có điều kiện, là sự luân phiên
giữa VĐ (di chuyển hai chân) và nghỉ ngơi (khi trọng tâm dồn lên một chân
để chuyển một chân về phía trước - sau) tạo những điều kiện thuận lợi để
thải từ các mô các chất cặn bã có trong máu.
Ở góc độ giáo dục học, đi là VĐ có chu kì, là phương thức di chuyển
vị trí cơ thể cơ bản nhất, tự nhiên nhất, dễ nhất và tiết kiệm sức nhất. Đi là
một trong những nội dung giảng dạy ở trường MN, là hoạt động có tác dụng
trực tiếp trong quá trình rèn luyện tư thế, tăng cường sức khỏe, phát triển
toàn diện và nâng cao một số tố chất VĐ cơ bản. [28]
*Mục đích và tác dụng của vận động đi
Tăng cường sức khỏe cho trẻ em, nhất là phát triển sức mạnh của chân
và sự chịu đựng của cơ quan nội tạng. Trong quá trình rèn luyện đi, hoạt
động của cơ bắp, các hệ cơ quan nội tạng cũng được đẩy mạnh, nhất là quá
trình trao đổi chất được nhanh hơn. Các tố chất nhanh, được phát triển làm
cơ sở nền tảng cho các VĐ cơ bản khác của trẻ MG 3 – 4 tuổi.
Ý nghĩa sinh học của động tác đi phụ thuộc vào nhịp điệu và năng
lượng tiêu hao trong khi thực hiện động tác.
Đi bình thường, đi đúng giúp củng cố cơ chân, cơ tay, tăng cường hoạt
động của tim phổi và không gây mệt mỏi cho trẻ. Nhịp điệu nhanh, chậm của
động tác đi có ảnh hưởng đến sự thay đổi chất và có tác dụng khác nhau. Đi
với nhịp điệu nhanh đòi hỏi cung cấp nhiều máu cho các cơ bắp làm việc và
quá trình trao đổi chất trong cơ thể diễn ra mạnh mẽ hơn.
-22-
Dạy cho trẻ em tư thế đi chính xác, hợp lý, uốn nắn những tư thế đi sai
lệch như: đi chân chữ bát, vòng kiềng, đi hay cúi đầu, đi thân lắc lư, lệch vai,
gù lưng… trên cơ sở đó mà sửa đổi tốc độ và bước đi dài ngắn cho phù hợp,
để nâng dần khả năng hoạt động tự nhiên, phục vụ trong lao động. Khi giảng
dạy giáo viên cần đặc biệt quan tâm và đảm bảo các yêu cầu kĩ thuật, trẻ cần
thực hiện các tư thế chính xác. Mặt khác cần thường xuyên chú ý sửa chữa tư
thế đi của trẻ trong học tập, sinh hoạt và lao động.
* Đặc điểm vận động đi của trẻ MG 3 – 4 tuổi
Do sự phát triển của hệ thần kinh được hoàn thiện hơn, quá trình cốt
hóa của xương xảy ra nhanh hơn. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo, trẻ giữ
được tư thế đúng đắn hơn trong động tác đi. Trẻ biết giữ được hướng và biết
thay đổi hướng khi đi dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đi bộ của trẻ ở lứa
tuổi này có đặc điểm là nhịp điệu chưa ổn định phối hợp tay chân chưa nhịp
nhàng, khả năng thay đổi hơn trong không gian chưa tốt.
Nếu được hướng dẫn, rèn luyện một cách có hệ thống thì trẻ MG 3 – 4
tuổi đã đi vững vàng. Các động tác thừa đã mất đi, bước đầu đã biết phối hợp
các phần riêng lẻ trong động tác đi. Cụ thể : trẻ đã biết giữ đầu và ngực thẳng
khi đi, đã biết phối hợp chân tay tuy chưa nhịp nhàng, thân vẫn còn dao động
sang 2 bên.
Theo E.G.Le – vi Gô – nhép – xkai – a trẻ 3 tuổi chỉ còn hơi co chân
trong tư thế ban đầu, trong lúc đi chân đưa ra trước vẫn chưa thật đúng, chân
chưa thẳng được như yêu cầu cần thiết. Bước đi của trẻ không được dài
ngoài ra trẻ thuờng đăt cả 2 bàn chân xuống đất và 2 bàn chân vẫn đặt song
song. Bên cạnh đó trẻ lứa tuổi này đã biết đi nối đuôi nhau, đi hàng đôi, đi
vòng tròn, có khả năng điều khiển VĐ của mình: đi theo hiệu lệnh, đi tới một
vật đã định trước. Dưới sự huớng dẫn của giáo viện buớc đi của trẻ đã giống
bước đi của người lớn, bàn chân có độ dẻo hơn, chân đánh lăng được mạnh
hơn.
-23-
Mỗi một động tác đi của trẻ ở từng độ tuổi khác nhau đều được hoàn
thiện trong điều kiện thực hiện động tác ấy theo nhiều phương thức khác nhau.
Sau những VĐ mạnh: chạy, nhảy, mà đi bộ với nhịp điệu chậm dần để hạ VĐ
xuống một cách từ từ thì sức chịu đựng sinh lí được giảm xuống dần và trở về
mức bình thường.
*Kĩ thuật động tác
Tư thế của VĐ đi: Bước đi đúng là: 1 chân bước ra phía trước, đặt gót
chân xuống đất trước, sau đó chuyển trọng tâm có thể về phía trước tì lên gót
chân vừa bước vừa chuyển dần trọng tâm lên mũi bàn chân đó.
Quá trình chuyển trọng tâm của bàn chân
Lưng thẳng, vai mở rộng, bụng hóp, đầu ngẩng cao thoải mái (thấy xa
2- 3 m) đường từ chân, ngực phải hướng thẳng về phía trước một cách tự
nhiên để tác động tới việc thở đúng, nhịp thở đều, qua mũi, bước đều, giữ
được bước đi và tay chân phối hợp một cách nhịp nhàng.
*Nội dung của vận động đi của trẻ MG 3 – 4 tuổi
- Đi thường
Đầu và thân luôn thẳng, mắt nhìn phía trước, chân bước đều vừa phải,
khi tiếp đất bằng gót chân rồi chuyển dần đến cả bàn chân, không lê chân,
-24-
phối hợp nhịp nhàng giữa tay và chân, đi đúng sẽ củng cố các nhóm cơ chân
và tay, tăng cường sự hoạt động của tim, phổi và không gây mệt mỏi.
- Đi kiễng chân và đi bằng gót chân
Rèn luyện, phát triển cơ, tính đàn hồi của khớp cổ chân, bàn chân, rèn
tư thế thân người thẳng. Cho trẻ đi xen kẽ giữa đi thường, đi kiễng chân, đi
bằng gót chân, đi có sự thay đổi từ gót lên mũi bàn chân trẻ sẽ không bị mỏi
chân. Khi đi kiễng chân trẻ giả làm “cây cao”, “Tàu hỏa xuống dốc”, “Gấu đi
ì ạch”.
Đi thẳng mũi bàn chân, gót kiểng khỏi mặt đất, đi như thường hoặc
vừa đi vừa nhún nhảy, người thẳng, mắt nhìn về phía trước, hai tay phối hợp
nhịp nhành (hoặc chống hông), đi chân nhấc lên càng cao càng tốt, gót chân
không chạm đất, tư thế người giữ thẳng.
Đi bằng gót chân nhằm củng cố cơ lưng và cơ bàn chân có tác dụng
giảm điểm tựa trên mặt phẳng, làm cho cơ thể VĐ tích cực hơn.
Đi bằng mép ngoài của bàn chân đòi hỏi sự căng cơ của cơ bắp chân
và bàn chân, tạo sự thuận lợi cho cột sống, củng cố cơ bàn chân.
- Đi theo các hướng khác nhau, đi và làm theo hiệu lệnh
Mục đích của hoạt động đi này nhằm phát triển khả năng định hướng
không gian, rèn luyện sự chú ý, nhanh trí, tập cho trẻ đi theo vòng tròn, theo
đuờng dích dắc, đi lùi sau…
Đi bộ với những nhiệm vụ khác nhau phải thực hiện theo hiệu lệnh.
Xác định vị trí trong không gian, thay đổi nhịp điều, hướng với các đội hình
khác nhau, đi giữa các vật; đi bộ bằng cách bước chéo chân, nhằm phát triển
sự khéo léo, nhanh nhẹn của VĐ, đi bộ nhưng phải chăm chú theo dõi bước
chân; đi bộ tay thực hiện mang dụng cụ, đi trên cầu, đi theo đuờng hẹp… tác
động đến cảm giác thăng bằng tự kìm hãm, tập trung chú ý, khéo léo, không
có động tác thừa.
-25-