Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Tìm hiểu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của một trẻ khiếm thính

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BỆT
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: TÂM LÝ TRẺ KHIẾM THÍNH
ĐỀ BÀI: TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA MỘT
TRẺ KHIẾM THÍNH
Giảng viên: Trần Thị Tuyết Anh
Sinh viên: Nguyễn Thị Nhung
Lớp: K58B-GDĐB
Hà nội 2011
I. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ tình cảm dành cho hai người em, tôi luôn quan tâm đến việc
làm thế nào để có thể giúp em tôi phát triển ngôn ngữ, em có thể hòa nhập cộng

2
đồng. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm qua
các thế hệ con người, là công cụ mạnh mẽ để con người nhận thức thế giới xung
quanh, trao đổi ý kiến, hiểu biết lẫn nhau. Ngôn ngữ có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển con người. Ngôn ngữ được hình thành và phát triển dựa vào khả năng
tri giác thính giác, phát triển trong quá trình giao tiếp, trong học tập, trong sinh
hoạt hàng ngày. Ngôn ngữ liên hệ chặt chẽ với tư duy, là vỏ bọc của tư duy. Những
người khiếm thính, lúc đầu cơ sở của tư duy không phải là tiếng nói mà là hình ảnh
trực quan cụ thể nảy sinh nhờ cơ quan thụ cảm còn lại: nhờ thị giác, xúc giác, cảm
giác _ xúc giác rung. Vậy những đặc điểm tâm lý của sự hình thành ngôn ngữ ở
người khiếm thính như thế nào? Tôi xin trình bày thông qua sự phát triển ngôn ngữ
của một trẻ khiếm thính, đứa trẻ mà gia đình tôi đã được gắn bó cùng với sự phát
triển của em.
II. Giải quyết vấn đề
2.1. Một số khái niệm
Trong ngôn ngữ phổ thông, điếc thường được hiểu là mất thính giác hoàn
toàn, không nghe được chút nào hoặc giảm sút nhiều về thính giác, nghe không rõ.
Đó cũng là định nghĩa trong các từ điển phổ thông.
Trong ngành y, điếc có nghĩa là suy giảm hoặc mất toàn bộ hay một phần
sức nghe.
Ngoài thuật ngữ điếc, ta còn gặp những thuật ngữ có nghĩa tương đương
như khiếm thính hay khuyết tật thính giác, tuy nhiên thuật ngữ điếc được sử dụng
một cách thông dụng, quen thuộc với mọi người.
2.2. Thông tin chung về trẻ
Nguyễn Văn Nhật, sinh năm 1994 (18 tuổi), quê ở Thanh Hóa. Nhật có 5
anh chị em và Nhật là con thứ 3 trong gia đình. Trong ba tháng đầu khi mang thai
mẹ đã dùng thuốc kháng sinh. Trong thời gian mang thai mẹ rất yếu, không cung
cấp đủ chất dinh dưỡng cho bé. Khi sinh ra Nhật rất yếu, những ngày đầu không
bú, khi được ba tháng bị sốt lạnh tím người, cứng miệng phải đưa đi cấp cứu. Khi
được 3 tháng, Nhật bị lộn đập đầu từ trên vai chị xuống đất, bị sưng tấy và sốt nên
phải tiêm thuốc. Nhật rất hiền, chỉ ăn ngủ không bao giờ quấy khóc, gia đình chỉ
khen bé ngoan mà cũng không một chút nghi ngờ gì về sự phát triển của Nhật. Đến
2 tuổi Nhật không nói được gia đình nghĩ là Nhật chậm nói. Khi 4 tuổi gia đình
biết Nhật bị câm nhưng do không nhận thức được cần làm những gì cho Nhật, và
gia đình nghĩ người điếc thì không nghe được nên không có khả năng học tập.
Nhật lớn lên theo năm tháng cho đến năm 10 tuổi mới được đi kiểm tra thính lực
3
và bác sỹ kết luận là bị điếc sâu. Nhật bắt đầu đi học lớp chuyên biệt trường dạy
nghề Hoa Sữa – Hà Nội. Năm nay 18 tuổi, Nhật học lớp 3 trường Vi Nhân – Buôn
Mê Thuật.
2.4. Sự phát triển ngôn ngữ
2.4.1. Giai đoạn 0-3 tuổi
Tôi cùng với gia đình nhớ lại sự phát triển ngôn ngữ của N trong giai đoạn
từ 0-3 tuổi ( trước tuổi mẫu giáo).
Giống như trẻ bình thường, khi mới sinh, N thể hiện các nhu cầu của mình
bằng tiếng khóc. N phát ra những tiếng kêu, những âm phản xạ, máy môi và bập
bẹ. N cung tỏ ra thích nói chuyện và hiểu cuộc nói chuyện giữa người lớn với trẻ
bằng cách phát ra những âm thanh ơ, a, đơn giản, tiếng cười để đáp lại tiếng của
người lớn. N nhìn chăm chú vào mẹ khi mẹ kể chuyện, nói nựng. Mẹ thường
xuyên chơi, trò chuyện với Nhật, dung đồ chơi để trêu chọc làm trò cười cho N. N
có thể đạp chân tay và hét lên những tiếng cười rất lớn thể hiện sự thích thú. Tuy
nhiên ở giai đoạn này gia đình không chú ý đến khả năng phản ứng với âm thanh
của N nên không phát hiện ra điểm khác biệt của N với trẻ bình thường. Khi chơi
với đồ vật, N biết cầm nắm đồ vật đưa lên trước mặt tự chơi và phát ra âm thanh
ơ…ơ…ư…ư…hay a…a…Khi được 5-6 tháng tuổi, N không phát ra âm ba… ba
hay ma… ma như đứa trẻ khác. Có chú ý nhìn miệng người nói một cách chăm chú
nhưng không có dấu hiệu bắt chước các âm thanh, N chỉ cười hét lên vui sướng khi
được người lớn trò chuyện.
Nhưng vậy giai đoạn đầu gia đình rất khó phân biệt trẻ điếc hay không bởi
sự khác nhau không rõ rệt và gia đình cũng không biết được sự khác biệt về sự
phát triển của trẻ nếu không kiểm tra những phản ứng của trẻ với âm thanh.
Khoảng từ 6-8 tháng tuổi, ở trẻ em bình thường xuất hiện các âm bập bẹ, bắt
đầu biết giao tiếp ngôn ngữ. Ví dụ khi được hỏi về ai đó trẻ thường quay đầu về
phía người đó và cười. Trẻ hiểu được những câu hỏi đơn giản gồm hai từ về những
gì gắn bó với trẻ. Biết ngoái đầu về hướng phát ra âm thanh nhận biết vật phát ra
âm thanh. Đây là giai đoạn bắt đầu phát triển ngôn ngữ thụ động. Người lớn nhắc
đi nhắc lại nhiều lần cùng một từ và từ đó gắn với một vật xác định, trong ý thức
hình thành mối liên tưởng giữa từ phát ra với đối tượng tương ứng và bắt chước
tiếng nói. Nhưng N vẫn chưa có khả năng học ngôn ngữ, gia đình dạy N phát âm
thừ “bố”, “mẹ” nhưng N không có phản ứng bắt chước, khi được hỏi “mẹ đâu” N
cũng không có phản ứng nhìn về phía mẹ nhưng N nhìn miệng người nói cách
chăm chú trong giây lát rồi tiếp tục chơi. Khi dùng đồ vật cho phát ra âm thanh từ
4
phía sau để trêu N nhưng N không có phản ứng quay lại. Nhưng gia đình cũng
không nghĩ gì đến trường hợp N bị điếc.
Từ tháng thứ 9, N đã biết phối hợp giữa tiếng a..a, ơ…ơ…(Thay cho tiếng
bibi..bô…bô..) với các cử chỉ phi ngôn ngữ (với tay về phía mẹ gây chú ý cho mẹ
trước khi chỉ vào vật nào đó, giang tay đòi bế…). Cùng với tiếng bập bẹ, N đã có
khả năng hiểu lời nói của người lớn khi người lớn kết hợp giọng nói với cử chỉ
điệu bộ, thông qua thái độ trên nét mặt và hoàn cảnh cụ thể ở hiện tại. Ví dụ khi gia
đình gọi: “Nhật!” với giọng điệu nặng nề như giận dữ, khuôn mặt, lông mày cau lại
thì trẻ tỏ ra sợ hãi và mếu khóc. Nhưng vẫn gọi với ngữ điệu nhẹ nhàng, thái độ
tươi tỉnh thì đứa trẻ nhoẻn miệng cười và đưa tay ra về phía tay người gọi. Vì vậy,
khi bị quát mắng trẻ khiếm thính vẫn có những phản ứng như trẻ bình thường như:
khóc, sợ hãi…. Khi N đang chơi, mọi người quát to nhưng N không phản ứng và
khi lại gần chạm vào N quát “Nhật” và nghiêm nét mặt và quát lên thì N sẽ ngừng
chơi và mếu khóc nhìn vào khuôn mặt người đang quát như theo dõi sự thay độ
thái độ của người nói. Trước biểu hiện đó của N gia đinh cũng không nghĩ gì về sự
khác thường về sự phản ứng của N với âm thanh. N không hứng thú, không thực
hiện khi được mọi người dạy nói các từ quen thuộc như: nước (khi N uống), cơm
(khi N ăn), bế (khi N đưa tay đòi bế). Như vậy N cũng hiểu được cử chỉ phi ngôn
ngữ qua nét mặt: quát mắng, yêu thương, vui thích, sự không bằng long của người
lớn.
Sự khác biệt giữa N với các bạn cùng tuổi được thấy rõ ở độ tuổi sau một
năm. Giai đoạn này, trẻ bình thường bắt đầu phát triển ngôn ngữ chủ động. Trẻ
càng lớn thì nhu cầu giao tiếp càng cao, trẻ luôn muốn nhận biết thế giới xung
quanh nên trẻ thường hay hỏi, học nói và nhận thức thế giới qua ngôn ngữ nói, qua
thính giác. Trẻ khiếm thính do không nghe được, không tự bắt chước được tiếng
nói, không phân biệt được các âm thanh nên sự phát triển ngôn ngữ hoàn toàn
khác. Do nhu cầu giao tiếp và học hỏi mà trẻ tìm cách để có thể giao tiếp với người
khác, miêu tả hay mô phỏng những điều trẻ muốn nói cho người khác hiểu đó là cử
chỉ điệu bộ. Nhưng khi được 1 tuổi N không biết thể hiện nhu cầu khi trẻ khát, đói,
đau. Khoảng 2-3 tuổi, N giao tiếp với mọi người trong gia đình bằng cử chỉ điệu bộ
để thể hiện nhu cầu. Ví dụ khi muốn uống nước N chỉ tay, kéo người lớn lấy giùm,
và giao tiếp của N cũng chỉ dừng lại ở nhu cầu cơ bản có liên quan đến nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày. Mọi người trong gia đình vẫn tích cực dạy nói cho N. N
thường chơi một mình với đồ chơi, khi nào muốn điều gì N phát ra tiếng ơ…ơ…để
bào hiệu cho người lớn rồi ra hiệu bằng cách chỉ vào đồ vật mà N cần.
5
Khi càng lớn khoảng cách giữa trẻ điếc và trẻ nghe rõ càng lớn. Khi N được
ba tuổi gia đình vẫn chỉ nghĩ N chậm nói vì N có thể phát âm được một số từ như:
bố, mẹ, ông, bà, chị…nói được tên các thành viên trong gia đình, nói được câu 2
tiếng như: ăn cơm, đi học, mẹ Ngọ, Bố Hoàn…Tuy nhiên tất cả những âm N phát
ra đều ngọng và khuyết phụ âm đầu. Khi được bố mẹ dạy nói, N có thể phát âm
theo đối với những âm đơn giản. Những âm khó N không thể phát âm được, ví dụ
quét nhà, tắm biển, con gà, con lợn, con chó. Gia đình thường dạy N nói trong sinh
hoạt hàng ngày. Vì vậy những từ N có thể phát âm được thì N cũng biết áp dụng
đúng với ngữ cảnh. Khi mẹ làm động tác uống nước và nói nước rồi xè tay xin N
có thể đi lấy nước và đưa cho mẹ. Khi làm cử chỉ điệu bộ động tác quét nhà và nói
chổi đâu, N có thể đi tìm chổi. Giai đoạn này, N được gia đình chú tâm dạy ngôn
ngôn nói nhưng do không có phương pháp nên N cũng không thể nói được mà
thường chỉ phát ra các âm gần giống nhau. Ví dụ: Con gà-on à; quét nhà- óe à.
Những âm mà có hình miệng giống nhau thì N không thể phân biệt được và thường
chỉ nhìn hình miệng và phát âm giống nhau. Ví dụ: gà, nhà, trà, na, là đều được
phát âm thành “à”. Như vậy, đối với trẻ bình thường sẽ tri giác âm thanh bằng
thính giác, bắt chước phát âm và tự chỉnh sửa để nói chuẩn các âm nhưng trẻ
khiếm thính học ngôn ngữ thông qua thị giác, cảm giác rung, học trong hoàn cảnh
cụ thể, trẻ không tự nghe chuẩn được âm của người khác phát ra, không tự chỉnh
âm của mình phát ra sao cho đúng và phù hợp. Như vậy trẻ khiếm thính không có
khả năng phát triển ngôn ngữ nếu không có sự hỗ trợ đặc biệt. Như hỗ trợ thính
lực, dạy nói bằng phương pháp hỗ trợ đặc biệt.
Đối với N, gia đình cũng chú tâm dạy ngôn ngữ nói cho N, cho N nhận biết
những đồ vật xung quanh tuy nhiên N không bắt chước lại được những âm thanh
lời nói phát ra mà chỉ chăm chú nhìn vào miệng người đang dạy N nói. N không
phản ứng với tiếng gọi của người thân trong gia đình. Khi muốn N chú ý điểm nào
đó mọi người thường lại gần chạm vào N, chỉ tay hướng N nhìn vào đó. Ví dụ khi
muốn N chơi cùng với mẹ trò trốn tìm, mẹ không thể gọi N nếu N đang không chú
ý vào mẹ, mẹ lại gần chạm nhẹ, gọi tên và chạy trốn, N sẽ chú ý theo và đi tìm mẹ.
Trong quá trình chơi hoặc thể hiện nhu cầu, N vẫn nói ơ…ơ.. a…a…và dùng tay
chỉ, gia đình cũng bắt N phát âm nhưng không có kết quả. Tuy nhiên, gia đình chỉ
quan tâm đến việc N chưa phát âm được mà không nghĩ n chậm nói. Gia đình nghĩ
rằng nếu Nhật bị điếc thì N đã không thể nghe và bắt chước được âm thanh, đã
không thể hiểu được lời nói trong giao tiếp. Vì N đã có thể nói và hiểu được một số
tình huống đơn giản. Vậy ở giai đoạn này thông qua sự phản ứng với âm thanh, bắt