đánh giá hiện trạng ô nhiễm chì trong rau xanh ở thành phố Hồ Chí Minh

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 07 - 2007

Trang 53
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM CHÌ (Pb) TRONG RAU XANH
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (TP.HCM)
Nguyễn Thị Ngọc Ẩn
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
(Bài nhận ngày 26 tháng 01 năm 2006, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 27 tháng 02 năm 2007)
TÓM TẮT:Trước sự đô thị hoá, công nghiệp hoá ngày càng cao cùng với việc phát
triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, dân chúng các nơi đổ về ngày càng đông, đã khiến cho diện tích
đất vườn ngày càng bị thu hẹp nên người dân phải tận dụng từng tấc đất để trồng rau cải,
dưa, cà…
Tuy nhiên, do nhu cầu thì lớn, người ta đã chạy theo lợi nhuận nên đã sử dụng thuốc trừ

sâu, diệt cỏ không đúng liều lượng, không đúng lúc, khiến cho lượng thuốc tồn dư cao hoặc
dùng phân bón quá mức khiến cho lượng Nitrat cao, kim loại nặng hiện diện, đó là những mối
quan ngại cho sức khoẻ con người khi phải sử dụng hàng ngày. Trong đề tài này, chúng tôi
nghiên cứu Chì (Pb).
1.GIỚI THIỆU
Nước ta là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa được thiên nhiên ưu đãi nên có nguồn
rau quả dồi dào quanh năm. Rau đượ
c trồng ở nhiều nơi để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng
hàng ngày, trong đó nổi bật cho một số khu vực trồng rau với sản lượng lớn như một số tỉnh ở
phía Bắc, Đà Lạt, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Long An, Tiền Giang, các huyện ngoại
thành của thành phố Hồ Chí Minh như : Hốc Môn, Củ Chi, Bình Chánh…
Tuy nhiên, hiện nay do chạy theo lợi nhuận và để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng,
người ta phải tăng năng suất, tăng sản lượng rau xanh để đạt mức thu nhập cao. Do vậy, người
ta đã sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật, phân bón bao gồm phân hữu cơ và phân vô cơ (phân
hoá học), hiện sử dụng khá nhiều phân hoá học. Một số nơi còn sử dụng nước từ các kênh rạch
có chứa nước thải, từ các xí nghiệp, nhà máy dệt nhuộm để tướ
i rau. Với tình hình này, nó đã
gây hậu quả lớn cho những người tiêu dùng, quan trọng là dư lượng các chất đã được tích luỹ
ở trong rau mà hàng ngày con người sử dụng, trong đó kim loại nặng như Cd, là kim loại nặng
rất độc ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
Nhận thấy được tầm quan trọng của rau xanh và tính độc hại của kim loại nặng đối với sức
khoẻ con người, nên trong ph
ạm vi đề tài này, chúng tôi đã khảo sát hàm lượng kim loại nặng
trong rau xanh để lưu ý những trường hợp có dư lượng vượt mức qui định. Từ đó, tìm ra
những giải pháp hợp lý để có những cải thiện, xây dựng mô hình vườn rau xanh, sạch hơn,
đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng dân cư, và đặc biệt cho người tiêu dùng.
Do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số mô hình trồng rau xanh
ở các xã thu
ộc huyện Hốc Môn, Củ Chi, Bình Chánh của Thành phố Hồ Chí Minh.
1.1. Khái quát về rau an toàn
1.1.1. Khái niệm rau an toàn
Những sản phẩm rau tươi (bao gồm các loại rau ăn lá, củ, thân, hoa, qủa) có chất lượng
đúng như đặc tính của chúng, mức độ nhiễm các chất độc hại và các vi sinh vật gây hại không
vượt quá chỉ tiêu cho phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và nuôi trồng được coi là rau
đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “rau an toàn” (theo Bộ Nông nghiệp và Phát
tri
ển Nông thôn).
Science & Technology Development, Vol 10, No.07 - 2007

Trang 54
1.1.2. Về chất lượng của rau an toàn
Rau an toàn phải đạt được các yếu tố sau
-Chỉ tiêu hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng với yêu cầu từng loại rau,
không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp (tuỳ loại).
-Chỉ tiêu nội chất: Chỉ tiêu nội chất được qui định cho rau tươi bao gồm: Dư lượng hoá
chất bảo vệ thự
c vật; Hàm lượng Nitrat (NO
3
-
); Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu: Cd,
Pb, Cu, Zn…; Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (E.coli, Salmonella…), và ký sinh trùng
đường ruột (Thí dụ: trứng giun đũa). Tất cả các chỉ tiêu trong từng loại rau phải đạt dưới mức
cho phép theo tiêu chuẩn của FAO/WHO (trong khi chờ Việt Nam công bố tiêu chuẩn về các
lĩnh vực này).
1.2. Yêu cầu sản xuất rau an toàn:
Trước thực trạng rau an toàn hiện nay, trước nhu cầu của ngườ
i tiêu dùng và người sản
xuất, việc nghiên cứu rau quả đã được xác định một qui trình chung mang tính nguyên tắc trong
sản xuất rau sạch dựa trên kết quả nghiên cứu của Viện và có nhiều chuyên gia trong nước. Chu
trình này đã được Hội đồng khoa học Bộ NN & PTNT nghiên cứu tháng 4/1996 và được Bộ
Trưởng BNN & PTNT cho áp dụng trong sản xuất theo quyết định số 11208 KHCN / QĐ ngày
15/7/1996 .
- Chọn đất: Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước thích h
ợp với sinh trưởng và phát
triển của rau. Tốt nhất là đất cát pha hoặc thịt nhẹ hay đất thịt trung bình có tầng canh tác dày
(20 - 30 cm), vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải công nghiệp và bệnh viện ít
nhất là 2 km, với chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất là 200m, đất có thể chứa một lượng
nhỏ kim loại nặng nhưng không được tồn dư hoá chất độc hại.
- Nước tướ
i : Vì trong rau xanh, nước chứa trên 90% nên nước tưới ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng sản phẩm, cần sử dụng nước sạch để tưới. Nếu có điều kiện nên sử dụng giếng
khoan, nhất là đối với vùng trồng rau xà lách và các loại rau gia vị. Nếu không có giếng thì
dùng nước sông, ao, hồ nhưng không bị ô nhiễm. Nước sạch dùng để pha các loại phân bón lá,
hoá chất bảo vệ thực v
ật. Đối với các loại rau cho quả, giai đoạn đầu có thể sử dụng nước bơm
từ sông, hồ để tưới.
-Giống: Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khoẻ mạnh, không có mầm bệnh.
Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật. Hạt
giống trước khi gieo cầ
n được xử lý hoá chất hoặc nhiệt, trước khi đưa cây con ra ruộng, cần
xử lý Sherpa 0,1% để phòng trừ bệnh hại sau này.
- Phân bón: Phân chuồng được ủ hoai mục và phân lân hữu cơ vi sinh được dùng để bón
lót. Tuỳ mỗi loại cây có chế độ bón, lượng phân bón khác nhau. Trung bình để bón lót dùng 15
tấn phân chuồng + 300 kg lân hữu cơ vi sinh cho 1 ha. Phân hoá học tuỳ thuộc yêu cầu xử lý
của cây, bón lót 30% N + 50% K, số đạm và kali còn lại dùng để bón thúc.
- Hoá chất bả
o vệ thực vật: Không sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật nhóm I và II. Khi
thật cần thiết có thể sử dụng hoá chất nhóm III và IV, chọn các loại thuốc có hoá chất thấp, ít
độc hại với ký sinh thiên địch. Kết thúc phun hóa chất trước khi thu hoạch ít nhất 5 - 10 ngày,
ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học, các chế phẩm thảo mộc, các ký sinh thiên địch để
phòng bệnh. Ap dụng nghiêm ngặt các biện pháp phòng trừ tổ
ng hợp (IPM) : luân canh cây
trồng hợp lý, sử dụng giống tốt, chống chịu bệnh, chăm sóc cây theo yêu cầu sinh lý, bắt sâu
bằng tay, dùng bẫy sinh học trừ bướm, sử dụng các chế phẩm sinh học, thường xuyên vệ sinh
đồng ruộng, thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để theo dõi phát hiện sâu bệnh, tập trung trừ
sớm…
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 07 - 2007

Trang 55
Sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng: Đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng, đúng cách
và đảm bảo thời gian cách ly.
- Thu hoạch, bao gói: Rau đựơc thu hoạch đúng độ chín, hoặc bỏ lá già, héo, quả bị sâu,
dị dạng… Rau được rữa kỹ bằng nước sạch, để ráo nước, rồi cho vào bao, túi sạch trước khi
mang đi tiêu thụ tại các cửa hàng, trên bao bì phải có phiếu bảo hành, có địa chỉ nơi sả
n xuất
nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu: Rau các loại tuỳ theo mùa vụ, 1kg/mẫu rau, mỗi mẫu phân tích 2 lần: đầu mùa, cuối
mùa, chọn 3 huyện có trồng nhiều rau, trong mỗi huyện chọn xã trồng và cung cấp rau cho
nhân dân thành phố nhiều nhất và cũng thường phun xịt thuốc, sử dụng phân bón nhiều nhất
như ở huyện Hốc Môn có xã Tân Thới Nhì, Bà
Điểm, Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Thượng,
Thới Tam Thôn (nơi trồng rau torng nghĩa địa), Đông Thạnh (nơi cạnh bãi rác); ở huyện Bình
Chánh có xã Đa Phước, Quy Đức, Bình Chánh; ở huyện Củ Chi có xã Tân Phú Trung, Tân
Thông Hội, Tân An Hội, Phước Thạnh.
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện ở 2 nơi:
- Ngoài thực địa:
Muốn công tác có hiệu quả, cần phải đi thực địa khảo sát bên ngoài, ở các hộ nông dân
để
tìm hiểu thêm về các mô hình trồng rau xanh, điều tra về tình hình sâu bệnh, phun xịt thuốc, sử
dụng phân bón, năng suất, sản lượng thu hoạch, diện tích gieo trồng. Đồng thời cũng đi các xã,
phường, huyện để tìm hiểu thêm về tình hình sản xuất ở địa phương, nét đặc trưng của mỗi địa
phương đó.
Lấy mẫu rau về phân tích.
- Trong phòng thí nghiệm: Công tác trong phòng thí nghiệm giúp cho kết quả nghiên c
ứu
được chính xác nhờ các thông số, thông tin từ những cuộc phân tích mẫu.
Sau khi đã có kết quả, chúng tôi đã biên soạn, chuẩn bị viết báo cáo.
3. KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN
3.1. Khảo sát:
Sự lạm dụng hoá chất BVTV, đặc biệt là thuốc trừ bệnh, cùng với phân bón các loại như:
phân rác, phân chuồng từ chăn nuôi công nghiệp, đã làm cho một lượng kim loại nặng bị rửa
trôi xuống mương, ao, hồ, sông, xâm nhậ
p vào mạch nước ngầm, gây ô nhiễm. Các kim loại
nặng tiềm ẩn trong đất trồng còn thẩm thấu, hoặc từ nguồn nước thải thành phố và khu công
nghiệp chuyển tiếp qua nước tưới được rau xanh hấp thụ.
3.2. Kết quả phân tích kim loại nặng: Sau đây là kết quả phân tích kim loại nặng:
Bảng 1: Kết quả phân tích kim loại nặng ở các nơi nghiên cứu
STT Ký hiệu mẫu Địa điểm (xã, huyện) Loại rau
Chỉ tiêu phân tích
Pb (mg/kg)
1. H1 Tân Thới Nhì, Hốc Môn Dền đỏ 0,226
2. H2 Tân Thới Nhì, Hốc Môn Cải ngọt 0,087
3. H3 Tân Thới Nhì, Hốc Môn Cải bẹ dúng 0,076
4. H4 Tân Thới Nhì, Hốc Môn Cải xanh 0,085
5. H5 Tân Thới Nhì, Hốc Môn Húng cây 0,257
Science & Technology Development, Vol 10, No.07 - 2007

Trang 56
STT Ký hiệu mẫu Địa điểm (xã, huyện) Loại rau
Chỉ tiêu phân tích
Pb (mg/kg)
6. H6 Tân Thới Nhì, Hốc Môn Rau lang 0,149
7. H7 Bà Điểm, Hốc Môn Rau muống 0,158
8. H8 Bà Điểm, Hốc Môn Mướp 0,079
9. H9 Bà Điểm, Hốc Môn Cà tím 0,118
10. H10 Bà Điểm, Hốc Môn Rau răm 0,177
11. H11 Bà Điểm, Hốc Môn Khổ qua 0,078
12. H12 Xuân Thới Thượng, Hốc Môn Đậu cô ve 0,125
13. H13 Xuân Thới Thượng, Hốc Môn Húng quế 0,159
14. H14 Xuân Thới Thượng, Hốc Môn Cà tím 0,028
15. H15 Xuân Thới Thượng, Hốc Môn Tía tô 0,060
16. H16 Xuân Thới Thượng, Hốc Môn Rau đay 0,091
17. H17 Xuân Thới Thượng, Hốc Môn Mồng tơi 0,043
18. H18 Xuân Thới Sơn, Hốc Môn Đậu bắp 0,063
19. H19 Xuân Thới Sơn, Hốc Môn Đậu đũa 0,153
20. H20 Xuân Thới Sơn, Hốc Môn Khổ qua 0,031
21. H21 Xuân Thới Sơn, Hốc Môn Dưa leo 0,015
22. H22 Tân Thới Nhì, Hốc Môn Lá lốt 0,264
23. H23 Thới Tam Thôn, Hốc Môn Mồng tơi 0,115
24. H24 Thới Tam Thôn, Hốc Môn Cải bẹ xanh 0,106
25. H25 Thới Tam Thôn, Hốc Môn Giấp cá 0,705
26. H26 Thới Tam Thôn, Hốc Môn Xà lách 0,065
27. H27 Thới Tam Thôn, Hốc Môn Cải ngọt 0,090
28. H28 Đông Thạnh, Hốc Môn Cải xanh 0,084
29. H29 Đông Thạnh, Hốc Môn Dền ớt 0,479
30. H30 Đông Thạnh, Hốc Môn Dền đỏ 0,161
31. H31 Đông Thạnh, Hốc Môn Xà lách 0,020
32. H32 Đông Thạnh, Hốc Môn Dền tiều 0,161
33. H33 Đông Thạnh, Hốc Môn Mồng tơi 0,030
34. M1 Đa Phước, Bình Chánh Dền xanh 0,077
35. M2 Đa Phước, Bình Chánh Dền đỏ 0,059
36. M3 Đa Phước, Bình Chánh Rau đắng 0,065
37. M4 Đa Phước, Bình Chánh Rau muống 0,719
38. M5 Đa Phước, Bình Chánh Húng quế 0,085
39. M6 Qui Đức, Bình Chánh Đậu rồng 0,073
40. M7 Qui Đức, Bình Chánh Rau má 0,092
41. M8 Qui Đức, Bình Chánh Mồng tơi 0,601
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 10, SỐ 07 - 2007

Trang 57
STT Ký hiệu mẫu Địa điểm (xã, huyện) Loại rau
Chỉ tiêu phân tích
Pb (mg/kg)
42. M9 Qui Đức, Bình Chánh Rau muống 0,070
43. M10 Qui Đức, Bình Chánh Cải xanh 0,025
44. M11 Qui Đức, Bình Chánh Húng quế 0,074
45. M12 Bình Chánh, Bình Chánh Húng cây 0,121
46. M13 Bình Chánh, Bình Chánh Tía tô 0,409
47. M14 Bình Chánh, Bình Chánh Rau răm 0,083
48. M15 Bình Chánh, Bình Chánh Giấp cá 0,106
49. M16 Bình Chánh, Bình Chánh Xà lách 0,053
50. M17 Bình Chánh, Bình Chánh Hành lá 0,072
51. M18 Bình Chánh, Bình Chánh Cải ngọt 0,047
52. M19 Bình Chánh, Bình Chánh Húng lũi 0,081
53. M1C Tân Phú Trung, Củ Chi Rau đay 0,090
54. M2C Tân Phú Trung, Củ Chi Hẹ 0,075
55. M3C Tân Phú Trung, Củ Chi Cải bẹ xanh 0,038
56. M4C Tân Thông Hội, Củ Chi Củ cải trắng 0,055
57. M5C Tân An Hội, Củ Chi Rau muống 0,063
58. M6C Phước Thạnh, Củ Chi Cải ngọt 0,062
59. M7C Phước Thạnh, Củ Chi Mồng tơi 0,282
60. M8C Phước Thạnh, Củ Chi Dền đỏ 0,056
61. M9C Phước Thạnh, Củ Chi Húng quế 0,205
Hàm lượng cho phép (mg/kg) 2,00
Phân tích tại Trung tâm Thí nghiệm Môi trường, Đại học Nông Lâm Tp.HCM, 2005
* Ngưỡng giới hạn kim loại nặng (Theo Bộ Y tế Việt Nam, 1995).
Qua kết quả phân tích kim loại nặng cho thấy tất cả 61 mẫu rau ở các xã thuộc 3 huyện
Hốc Môn, Bình Chánh, Củ Chi đều thấp hơn mức cho phép, không vượt ngưỡng, tuy nhiên
cần chú ý 2 mẫu H25 và M4 ở xã Thới Tam Thôn, huyện Hốc Môn và xã Đa Phước, huyện
Bình Chánh, hàm lượng tồn dư Pb cao hơn các mẫu khác nhiều l
ần, thậm chí hàng chục lần
hơn ngay trong cùng một địa điểm nghiên cứu. Sau này có điều kiện, chúng tôi sẽ thử nghiệm
tiếp nhiều lần ở những nơi trồng rau vùng nghĩa địa, bãi rác, và cũng tìm hiểu sâu thêm về tính
hấp thu Pb của rau giấp cá, rau muống…
4. NHẬN XÉT, KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ
4.1. Nhận xét, kết luận
4.1.1. Về hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV)
Như trên
đã trình bày, đa số nông dân sử dụng hoá chất dựa trên cảm tính kinh nghiệm, ít
theo chỉ dẫn và ít theo nguyên tắc 4 đúng là: đúng liều, đúng lúc, đúng cách, đúng thuốc.