Bàn về chế độ hạch toán TGHĐ ngoại tệ

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập, nền kinh tế nước ta đang không ngừng
phát triển, mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới. Do vậy các giao dịch kinh
tế của các doanh nghiệp ở nước ta diễn ra với rất nhiều đối tượng khác nhau, đơn vị
tiền tệ được sử dụng cũng rất đa dạng. Nhưng trong kế toán, doanh nghiệp phải sử
dụng thống nhất một đơn vị tiền tệ để hạch toán, để đảm bảo tính thống nhất và tính
so sánh được của các số liệu kế toán. Việc quy định thống nhất một phương pháp
hạch toán chênh lệch TGHĐ phát sinh giữa đồng tiền hạch toán và đồng tiền giao
dịch là rất cần thiết. Mặt khác, các doanh nghiệp lớn ở nước ta hiện nay đang ngày
càng có nhiều hoạt động ở nước ngoài, cơ sở ở nước ngoài, nhằm khẳng định vị trí
của mình, thúc đẩy quá trình hội nhập và nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh. Để
xác định chính xác kết quả của hoạt ở nước ngoài và cơ sở ở nước ngoài cần phải
chuyển đổi các báo cáo tài chính về đồng tiền hạch toán của đơn vị. Nhưng chuyển
đổi như thế nào, sử dụng tỷ giá nào để các báo cáo này chính xác và trung thực là một
vấn đề cần giải quyết. Chênh lệch TGHĐ còn ảnh hưởng lớn tới việc phán ánh đúng
giá vật tư, hàng hóa, chi phí, doanh thu và kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp.
Ta có thể thấy ảnh hưởng của chênh lệch TGHĐ đến kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, đến tính chính xác của các báo cáo tài chính là rất lớn. VAS
10-Ảnh hưởng của việc thay đổi TGHĐ đã đáp ứng được việc hạch toán chênh lệch
TGHĐ. Tuy vậy vẫn còn một số vấn đề cần bàn. Vì vậy, em chọn đề tài “Bàn về chế
độ hạch toán TGHĐ ngoại tệ” nhằm đi sâu tìm hiểu và đưa ra một số ý kiến để hoàn
thiện việc hạch toán chênh lệch TGHĐ.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Đề án môn học Kế toán Tài chính
CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN VỀ CHÊNH LỆCH TGHĐ
1.Chế độ kế toán chênh lệch TGHĐ trước khi có VAS 10
Việc hạch toán chênh lệch TGHĐ được thực hiện theo hướng dẫn của
TT44/TC-TCDN ngày 08/7/1997 và thông tư 77/1998/TT-BTC.
1.1 Thông tư TT44/TC-TCDN
Theo thông tư TT44/TC-TCDN chênh lệch TGHĐ được hạch toán như sau:
a. Xử lý chênh lệch tỷ giá của nghiệp vụ ngoại tệ trong kỳ:
Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ được bù trừ giữa số tăng và số giảm (trừ chênh
lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ do việc mua bán ngoại tệ), cuối năm được xử lý như
sau:
* Thời kỳ chuẩn bị đầu tư, xây dựng, doanh nghiệp chưa đi vào hoạt động
hoặc công trình chưa hoàn thành bàn giao thì chênh lệch tỷ giá phát sinh luỹ kế đến
thời điểm công trình hoàn thành bàn giao thì:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá tăng (dư có tài khoản 413) được phân bổ đều
vào thu nhập tài chính của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không dưới 5 năm kể từ
khi công trình đưa vào hoạt động.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá giảm (dư nợ tài khoản 413) được phân bổ đều
vào chi phí tài chính của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không dưới 5 năm kể từ khi
công trình đưa vào hoạt động.
* Thời kỳ doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá tăng tính vào thu nhập tài chính trong kỳ.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá giảm tính vào chi phí tài chính trong kỳ.
* Thời kỳ giải thể, thanh lý doanh nghiệp:
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá tăng tính vào thu nhập thanh lý doanh
nghiệp.Trường hợp chênh lệch tỷ giá giảm tính vào chi phí thanh lý doanh nghiệp.
* Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ do việc mua, bán ngoại tệ được hạch
toán trực tiếp vào chi phí hoặc thu nhập hoạt động tài chính.
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
b. Xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ:
Cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp phải quy đổi số dư tiền mặt, tiền gửi, tiền đang
chuyển, các khoản nợ phải thu, nợ phải trả có gốc ngoại tệ ra "Đồng" Việt Nam theo
tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại tời điểm đó. Khoản chênh lệch
giữa tỷ giá sau khi quy đổi với tỷ giá đang hạch toán trên sổ kế toán được xử lý như
sau:
* Đối với chênh lệch tỷ giá phát sinh do việc đánh giá lại số dư cuối năm là:
tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển, các khoản nợ ngắn hạn (1 năm trở xuống) có gốc
ngoại tệ tại thời điểm lập báo cáo tài chính thì không hạch toán vào chi phí hoặc thu
nhập mà để số dư trên báo cáo tài chính, đầu năm sau ghi bút toán ngược lại để xoá
số dư.
* Đối với chênh lệch tỷ giá phát sinh do việc đánh giá lại số dư cuối năm của
các khoản nợ dài hạn (trên 1 năm) có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập báo cáo tài chính
thì được xử lý như sau:
- Đối với các khoản nợ phải thu dài hạn:
Trường hợp tỷ giá quy đổi số dư cuối kỳ cao hơn tỷ giá đang hạch toán trên
sổ kế toán thì không hạch toán vào thu nhập mà để số dư trên báo cáo tài chính đầu
năm sau ghi bút toán ngược lại để xóa số dư. Trường hợp tỷ giá quy đổi số dư cuối
kỳ thấp hơn tỷ giá đang hạch toán trên sổ kế toán thì chênh lệch tỷ giá hạch toán vào
chi phí tài chính trong năm.
- Đối với các khoản nợ phải trả dài hạn:
Trường hợp tỷ giá quy đổi số dư cuối kỳ cao hơn tỷ giá đang hạch toán trên
sổ kế toán thì chênh lệch tỷ giá hạch toán vào chi phí tài chính trong năm. Trường
hợp tỷ giá quy đổi số dư cuối kỳ thấp hơn tỷ giá đang hạch toán trên sổ kế toán thì
không hạch toán vào thu nhập mà để số dư trên bao cáo tài chính, đầu năm sau ghi
bút toán ngược lại để xóa số dư.
- Khi thanh lý từng khoản nợ phải thu, nợ phải trả dài hạn, nếu tỷ giá thanh toán
thực tế phát sinh cao hơn hoặc thấp hơn tỷ giá đang hạch toán trên sổ sách: Trường
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
hợp chênh lệch tỷ giá tăng tính vào thu nhập tài chính trong kỳ; còn trương hợp
chênh lệch tỷ giá giảm tính vào chi phí trong kỳ.
1.2 Thông tư số 77/1998/TT-BTC
Để phán ánh đúng giá vốn của vật tư, hàng hoá, chi phí, doanh thu, thu nhập
và kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Thông tư số 77/1998/TT-BTC
đưa ra hướng dẫn tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra “Đồng” Việt Nam sử dụng trong hạch
toán kế toán ở doanh nghiệp.
* Tỷ giá dùng để quy đổi ngoại tệ ra "Đồng" Việt Nam:
Các doanh nghiệp có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ được quy
đổi ra "Đồng" Việt Nam theo tỷ giá mua vào, bán ra thực tế bình quân trên thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm có
nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc tỷ giá mua vào, bán ra thực tế của nghiệp vụ kinh tế
phát sinh. Trường hợp nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phát sinh vào thời điểm thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng không hoạt động, doanh nghiệp được sử dụng tỷ giá
bình quân của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng ngày hôm trước.
- Tỷ giá mua bán thực tế bình quân liên ngân hàng được dùng để quy đổi các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ ra "Đồng" Việt Nam để phản ánh vào sổ kế
toán và báo cáo tài chính, bao gồm các trường hợp sau đây:
+ Mua vật tư, hàng hoá, TSCĐ bằng ngoại tệ;
+ Nhận và trả vốn góp liên doanh, nhận tiền viện trợ bằng ngoại tệ;
+ Các khoản đầu tư tài chính bằng ngoại tệ như: Góp vốn liên doanh, đầu tư
chứng khoán... bằng ngoại tệ;
+ Các khoản chi phí, doanh thu bán hàng, thu nhập hoạt động tài chính, các
khoản thu nhập bất thường bằng ngoại tệ;
+ Các nghiệp vụ thu, chi vốn bằng tiền ngoại tệ;
+ Các khoản phải thu, phải trả... bằng ngoại tệ;
+ Đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ của các tài khoản vốn bằng tiền, công nợ
phải thu, phải trả.
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
- Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ được quy đổi ra đồng tiền Việt
Nam theo tỷ giá mua bán thực tế trong các trường hợp sau đây:
+ Mua ngoại tệ bằng tiền Việt Nam: Được quy đổi ngoại tệ ra "Đồng" Việt
Nam theo tỷ giá thực tế mua phải trả bằng "Đồng" Việt Nam.
+ Bán ngoại tệ thu bằng tiền Việt Nam: Được quy đổi ngoại tệ ra "Đồng" Việt
Nam theo tỷ giá thực tế bán thu được bằng "Đồng" Việt Nam.
Số chênh lệch giữa tỷ giá bán nêu trên với tỷ giá bình quân ngoại tệ đang hạch
toán trên sổ kế toán được hạch toán vào Tài khoản 711 - Thu nhập hoạt động tài
chính hoặc Tài khoản 811 - Chi phí hoạt động tài chính.
* Những ngoại tệ mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không công bố tỷ giá
mua bán thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng quy đổi ra "Đồng"
Việt Nam thì được quy đổi ra "Đồng" Việt Nam theo tỷ giá áp dụng tính thuế xuất
khẩu và thuế nhập khẩu của "Đồng" Việt Nam so với một số ngoại tệ do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam công bố.
* Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nếu được Bộ Tài chính
chấp thuận cho sử dụng đơn vị tiền tệ nước ngoài để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài
chính thì các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng "Đồng" Việt Nam được quy đổi ra đơn
vị tiền tệ nước ngoài theo tỷ giá mua bán thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Trường hợp doanh
nghiệp sử dụng đơn vị tiền tệ nước ngoài mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không
công bố tỷ giá mua bán thực tế bình quân liên ngân hàng quy đổi ra "Đồng" Việt
Nam thì được quy đổi từ "Đồng" Việt Nam ra đơn vị tiền tệ nước ngoài theo tỷ giá áp
dụng tính thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu của "Đồng" Việt Nam so với một số
ngoại tệ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.
1.3 Nhận xét
Việc hạch toán các khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh tại Việt Nam được
hướng dẫn trong Thông tư 44, Thông tư 77 chưa theo kịp những quy định hiện hành
và thông lệ quốc tế trong việc hạch toán các khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh.
Trong đó, các khoản chênh lệch tỷ giá thực sự phát sinh trong các giao dịch thanh
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
toán công nợ có gốc ngoại tệ (ngoại tệ được hiểu là đồng tiền khác so với đồng tiền
hạch toán), mua bán ngoại tệ được ghi nhận như là một khoản doanh thu/chi phí tài
chính trong kỳ hoạt động. Trong khi đó, các khoản chênh lệch tỷ giá chưa thực sự
phát sinh như chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tài sản tiền tệ có gốc
ngoại tệ, các khoản công nợ có gốc ngoại tệ được hạch toán luỹ kế trên bảng cân đối
kế toán (Tức lại hạch toán trên tài khoản 413).
Hơn nữa, trong thực tế còn xảy ra một số trường hợp đặc thù như một số
doanh nghiệp còn xin cơ chế cho phép họ hạch toán treo một số khoản chênh lệch tỷ
giá đã thực sự phát sinh trên bảng cân đối kế toán và thực hiện phân bổ dần vào lãi/lỗ
kinh doanh. Xảy ra tình trạng này là do các lãi/lỗ chênh lệch tỷ giá làm ảnh hưởng
đáng kể đến kết quả kinh doanh của họ trong kỳ hoạt động. Những trường hợp này
làm giảm tính nhất quán trong việc hạch toán chênh lệch tỷ giá trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân, theo đó làm giảm khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp do áp
dụng các chính sách hạch toán khác nhau.
2.VAS 10 về chênh lệch tỷ giá hối đoái
2.1 Chênh lệch TGH
Đ
Trường hợp doanh nghiệp phát sinh các đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ
chính thức sử dụng trong kế toán và lập báo cáo tài chính, thì khi quy đổi từ đơn vị
tiền tệ khác sang đơn vị tiền tệ sử dụng để hạch toán sẽ phát sinh chênh lệch tỷ giá
hối đoái.
Chênh lệch tỷ giá hối đoái: là chênh lệch từ việc trao đổi thực tế hoặc quy đổi
cùng một lượng ngoại tệ khác sang đơn vị tiền tệ kế toán theo tỷ giá hối đoái khác
nhau.
* Có hai loại chênh lệch TGHĐ:
- Chênh lệch TGHĐ phát sinh trong kỳ(chênh lệch tỷ giá hối đoái đã thực
hiện) ở các doanh nghiệp bao gồm:
Chênh lệch TGHĐ thực tế phát sinh trong kỳ của hoạt động đầu tư xây dựng để hoàn
thành tài sản cố định(giai đoạn trước hoạt động).
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
Chênh lệch TGHĐ thực tế phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh doanh, kể cả hoạt
động đầu tư xây dựng cơ bản của các doanh nghiệp vừa kinh doanh vừa có hoạt động
đầu tư xây dựng.
Chênh lệch TGHĐ do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại
ngày lập bảng cân đối kế toán ở thời điểm cuối năm tài chính bao gồm:
Chênh lệch TGHĐ tại ngày lập bảng cân đối kế toán ở thời điểm cuối năm tài chính
do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ liên quan đến giai đoạn đầu tư
xây dựng(giai đoạn trước hoạt động).
Chênh lệch tỷ giá hối đoái tại ngày lập bảng cân đối kế toán ở thời điểm cuối
năm tài chính do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ liên quan đến
hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.2 Nguyên tắc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ và
đ
ánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại ngày lập bảng
C
Đ
KT ở thời
đ
iểm cuối n
ă
m tài chính.
- Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
bằng ngoại tệ phải thực hiện ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính theo một đơn vị
tiền tệ thống nhất là Đồng Việt Nam, hoặc đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế
toán(nếu được chấp thuận). Việc quy đổi đồng ngoại tệ ra Đồng Việt Nam, hoặc ra
đơn vị tiền tệ chính thức được sử dụng trong kế toán về nguyên tắc doanh nghiệp
phải căn cứ vào tỷ giá giao thực tế của nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc tỷ giá giao
dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế để ghi sổ kế toán.
Doanh nghiệp đồng thời phải theo dõi nguyên tệ trên sổ kế toán chi tiết các
TK: Tiền mặt, Tiền gửi Ngân hàng, Tiền đang chuyển, các khoản phải thu, các khoản
phải trả và TK007 “Ngoại tệ các loại”.
- Đối với TK thuộc loại doanh thu, hàng tồn kho, TSCĐ, chi phí sản xuất kinh doanh,
chi phí khác, bên Nợ các TK vốn bằng tiền,... khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế
bằng ngoại tệ phải được ghi sổ kế toán bằng Đồng Việt Nam hoặc bằng đơn vị tiền tệ
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
chính thức sử dụng trong kế toán theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giao dịch bình
quân liên ngân hàng tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
- Đối với bên có của các TK vốn bằng tiền, khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế
bằng ngoại phải được ghi sổ kế toán bằng Đồng Việt Nam, hoặc đơn vị tiền tệ chính
thức được sử dụng trong kế toán theo tỷ giá ghi trên sổ kế toán (tỷ giá bình quân gia
quyền; tỷ giá nhập trước, xuất trước...)
- Đối với bên Có của các TK nợ phải trả, hoặc bên Nợ của các TK nợ phải thu
Khi phát các nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ khi toán bằng Đồng
Việt Nam hoặc đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán theo tỷ giá giao dịch;
Cuối năm tài chính các số dư Nợ phải trả hoặc dư Nợ phải thu có gốc ngoại tệ được
đánh giá lại theo tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng được công bố tại thời
điểm cuối năm tài chính.
- Đối với bên Nợ các TK nợ phải trả hoặc bên Có của các TK nợ phải thu, khi
phát sinh các nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ kế toán bằng Đồng
Việt Nam, hoặc bằng đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán theo tỷ giá ghi
trên sổ kế toán.
- Cuối năm tài chính, doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có
gốc ngoại tệ theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm lập bảng CĐKT cuối năm tài chính.
- Trường hợp mua bán ngoại tệ bằng Đồng Việt Nam thì hạch toán theo giá thực tế
mua, bán.
2.3 Nguyên tắc xử lý chênh lệch TGH
Đ

- Xử lý chênh lệch TGHĐ phát sinh trong kỳ và chênh lệch đánh giá lại cuối
kỳ liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh:
Toàn bộ chênh lệch TGHĐ phát sinh trong kỳ và chênh lệch TGHĐ đánh giá
lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính hoặc ngày kết thúc năm
tài chính khác với năm dương lịch của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được
ghi nhận ngay vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu tài chính trên Báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh của năm tài chính.
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
Đối với doanh nghiệp vừa có hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa có hoạt
động đầu tư XDCB, nếu phát sinh chênh lệch TGHĐ trong kỳ và chênh lệch đánh giá
lại cuối kỳ liên quan đến hoạt động đầu tư XDCB thì cũng xử lý các chênh lệch
TGHĐ này vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu hoạt động tài chính trên Báo cáo kết
quả hoạt động kinh doanh cua năm tài chính.
Doanh nghiệp không được chia lợi nhuận hoặc trả cổ tức trên lãi chênh lệch
TGHĐ đánh giá lại cuối năm tài chính của các khoản mục có gốc ngoại tệ.
- Xử lý chênh lệch TGHĐ phát sinh trong kỳ và chênh lệch do đánh giá lại
cuối kỳ liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng(giai đoạn trước hoạt động):
Trong giai đoạn đầu tư xây dựng, khoản chênh lệch TGHĐ đã thực hiện và
chênh lệch tỷ giá đánh giá lại cuói năm tài chính các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
tệ phản ánh luỹ kế trên bảng cân đối kế toán.
Khi kết thúc quá trình đầu tư xây dựng, chênh lệch TGHĐ thực tế phát sinh
trong giai đoạn đầu tư xây dựng không tính vào giá trị TSCĐ mà kết chuyển toàn bộ
vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu hoạt động tài chính của năm tài chính có TSCĐ
và các tài sản đầu tư hoàn thành đưa vào hoạt động hoặc phân bổ tối đa là 5 năm (kể
từ khi công trình đưa vào hoạt động).
Chênh lệch TGHĐ đánh giá của khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm
tài chính và ở thời điểm quyết toán, bàn giao đưa TSCĐ vào sử dụng không tính vào
giá trị TSCĐ hoàn thành đầu tư mà phân bổ vào chi phí tài chính, hoặc doanh thu tài
chính của các kỳ kinh doanh tiếp theo với thời gian tối đa là 5 năm ( kể từ khi công
trình đưa vào hoạt động).
- Xử lý chênh lệch TGHĐ phát sinh từ chuyển đổi báo cáo tài chính của hoạt
động ở nước ngoài:
Chênh lệch TGHĐ phát sinh từ chuyển đổi báo cáo tài chính của hoạt động ở
nước ngoài không thể tách rời với hoạt động của doanh nghiệp báo cáo được tính
ngay vào chi phí tài chính hoặc doanh thu hoạt động tài chính trong kỳ.
Chênh lệch TGHĐ phát sinh từ chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở
nước ngoài hoạt động độc lập được phán ánh luỹ kế trên TK 413 và chỉ tính vào chi
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
phí tài chính, hoặc doanh thu hoạt động tài chính khi doanh nghiệp thanh lý khoản
đầu tư đó ở cơ sở nước ngoài.
2.4 Kế toán chênh lệch TGH
Đ
2.4.1 Tài khoản sử dụng
Tài khoản 413 “Chênh lệch tỷ giá hối đoái”: dùng đê phản ánh số chênh lệch
TGHĐ phát sinh trong hoạt động đầu tư XDCB (giai đoạn trước hoạt động); chênh
lệch đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính; khoản
chênh lệch TGHĐ chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở nước ngoài và tình hình
xử lý số chênh lệch TGHĐ đó.
Kết cấu:
Bên Nợ:
- Chênh lệch TGHĐ do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ
(lỗ tỷ giá) cuối năm tài chính của hoạt động kinh doanh, kể cả hoạt động đầu tư
XDCB (nếu có);
- Chênh lệch TGHĐ phát sinh và đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ (lỗ tỷ giá) của hoạt động đầu tư XDCB (giai đoạn trước hoạt động);
- Chênh lệch TGHĐ khi chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở nước ngoài
(lỗ tỷ giá);
- Kết chuyển chênh lệch TGHĐ do đánh giá lại khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ cuối năm tài chính (lãi tỷ giá) của hoạt động kinh doanh vào doanh thu hoạt
động tài chính;
- Kết chuyển chênh lệch TGHĐ phát sinh và đánh giá lại các khoản mục tiền
tệ có gốc ngoại tệ (lãi tỷ giá) của hoạt động đầu tư XDCB (khi kết thúc giai đoạn đầu
tư XDCB) vào doanh thu hoạt động tài chính, hoặc phân bổ dần;
- Kết chuyển chênh lệch TGHĐ khi chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở
nước ngoài (lãi tỷ giá) vào doanh thu hoạt động tài chính khi thanh lý khoản đầu tư
thuần đó ở cơ sở nước ngoài.
Bên Có:
- Chênh lệch tỷ TGHĐ do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D
Đề án môn học Kế toán Tài chính
tệ(lãi tỷ giá) cuối năm tài chính của hoạt động kinh doanh, kể cả hoạt động đầu tư
XDCB(nếu có);
- Chênh lệch TGHĐ phát sinh, hoặc đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có
gốc ngoại tệ(lãi tỷ giá) của hoạt động đầu tư XDCB(giai đoạn trước hoạt động);
- Chênh lệch TGHĐ khi chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở nước
ngoài (lãi tỷ giá);
- Kết chuyển chênh lệch TGHĐ do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ (lỗ tỷ giá) cuối năm tài chính của hoạt động kinh doanh vào chi phí tài chính;
- Kết chuyển chênh lệch TGHĐ phát sinh, hoặc đánh giá lại các khoản mục
tiền tệ có gốc ngoại tệ (lỗ tỷ giá) của hoạt động đầu tư XDCB (khi hoàn thành đầu tư
giai đoạn trước hoạt động) vào chi phí hoạt động tài chính hoặc phân bổ dần;
- Kết chuyển chênh lệch TGHĐ khi chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở
nước ngoài (lỗ tỷ giá) vào chi phí tài chính khi thanh lý khoản đầu tư thuần đó ở cơ
sở nước ngoài.
Tài khoản 413 có thể có số dư bên Nợ hoặc số dư bên Có.
Số dư bên Nợ:
- Số chênh lệch TGHĐ phát sinh, hoặc đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có
gốc ngoại tệ (lỗ tỷ giá) của hoạt động đầu tư XDCB (giai đoạn trước hoạt động, chưa
hoàn thành đầu tư) ở thời điểm lập Bảng CĐKT cuối năm tài chính;
- Số chênh lệch TGHĐ từ chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở nước
ngoài chưa xử lý ở thời điểm lập Bảng CĐKT cuối năm tài chính.
Số dư bên Có:
- Số chênh lệch TGHĐ phát sinh và đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc
ngoại tệ (lãi tỷ giá) của hoạt động đầu tư XDCB (giai đoạn trước hoạt động, chưa
hoàn thành đầu tư) ở thời điểm lập Bảng CĐKT cuối năm tài chính;
- Số chênh lệch TGHĐ từ chuyển đổi báo cáo tài chính của cơ sở ở nước
ngoài chưa xử lý ở thời điểm lập Bảng CĐKT cuối năm tài chính.
Đỗ Thị Nhàn Lớp: Kế toán 46D