Mối quan hệ giữa tỉ giá hối đoái và cán cân thương mại



1
CHƢƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƢƠNG MẠI.

1.1 Tỷ giá hối đoái và cán cân thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái.
Trong điều kiện của một nền kinh tế mở, thương mại quốc tế trở thành
phổ biến, việc thanh toán giữa các quốc gia nhất thiết phải sử dụng tiền tệ của
nước này hay nước khác. Để thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ các nước, các quốc
gia phải dựa vào tỷ giá hối đoái.
Theo quan điểm kinh tế học, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế
quan trọng trong thương mại, đầu tư quốc tế. Tỷ giá ảnh hưởng tới giá cả và tác
động đến các hoạt động kinh tế xã hội trong và ngoài nước.
Theo các nhà kinh doanh, tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan
giá trị giữa hai đồng tiền phát sinh trong các hoạt động liên quan đến xuất nhập
khẩu hàng hóa, đầu tư, giao dịch tài chính quốc tế… Hoặc tỷ giá là giá cả của
một đồng tiền được biểu thị bằng số lượng đơn vị tiền tệ khác.
Bảng 1.1 Tỷ giá của một số ngoại tệ ngày 28/03/2010
Mã NT Tên ngoại tệ Mua tiền mặt Bán tiền mặt
USD US DOLLAR 19,050.00 19,100.00
EUR EURO 25,122.90 25,198.50
JPY JAPANESE YEN 201.41 207.48
( Theo tỷ giá công bố của Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam – Vietcombank)
1.1.2 Những nhân tố tác động đến tỷ giá
Về dài hạn có 4 nhân tố tác động tới tỷ giá :Năng suất lao động, mức giá
cả tương đối ở thị trường trong nước, thuế quan và hạn mức nhập khẩu, ưa thích
hàng nội so với hàng ngoại.
- Năng suất lao động(NSLĐ)trong nƣớc: đóng một vai trò quan trọng
trong việc ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ. NSLĐ trong nước tăng
lên tương đối so với nước ngoài, đồng nghĩa với việc các nhà kinh doanh có thể



2
hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ của mình tương đối so với hàng ngoại nhập, dẫn
đến sự gia tăng mức cầu của hàng nội địa so với hàng ngoại nhập, làm cho hàng
nội địa vẫn bán tốt. Thực tế trên thị trường thế giới, TGHĐ của đồng tiền phụ
thuộc rất khăng khít vào NSLĐ tương đối của nước đó. Một nền kinh tế phát
triển có NSLĐ cao trong thời kì nào đó thường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự
tăng giá của đồng tiền nước đó.
- Mức giá tƣơng đối ở thị trƣờng trong nƣớc: là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đến TGHĐ. Theo thuyết mức giá cả tương đối, khi mức giá cả
hàng nội địa tăng tương đối so với hàng ngoại nhập thì cầu của hàng nội địa sẽ
giảm xuống và đồng nội tệ có xu hướng giảm giá để cho hàng nội bán được tốt
hơn và ngược lại nó sẽ làm đồng nội tệ có xu hướng tăng giá, bởi vì hàng nội địa
vẫn bán tốt ngay cả với giá trị cao hơn của đồng nội tệ.
- Thuế quan và hạn mức nhập khẩu: là những công cụ kinh tế mà
Chính phủ dùng để điều tiết và hạn chế nhập khẩu. Chính công cụ này nhiều hay
ít đã tác động và làm tăng giá cả của hàng ngoại nhập, làm giảm tương đối nhu
cầu với hàng nhập khẩu, góp phần bảo hộ và khuyến khích tiêu dùng hàng sản
xuất trong nước. Những công cụ mà nhà nước dùng để hạn chế nhập khẩu sẽ ảnh
hưởng và làm cho tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ có xu hướng giảm về lâu dài.
- Ƣa thích hàng nội so với hàng ngoại: Nếu sự ham thích của người
nước ngoài về mặt hàng trong nước tăng lên thì cầu về hàng nội sẽ tăng lên làm
đồng nội tệ tăng giá, bởi hàng nội địa vẫn bán được nhiều ngay cả với giá cao
hơn của đồng nội tệ. Cầu đối với hàng xuất khẩu của một nước tăng lên làm cho
đồng tiền nước đó giảm giá.
1.1.3. Chính sách tỷ giá hối đoái
1.1.3.1 Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ được dùng để tác
động vào quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, từ đó giúp điều
chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính
sách tỷ giá tập trung chú trọng vào giải quyết hai vấn đề lớn: lựa chọn chế độ tỷ
giá hối đoái và điều chỉnh tỷ giá hối đoái.



3
1.1.3.2 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái
Chính sách tỷ giá hối đoái nằm trong hệ thống chính sách tài chính-tiền tệ,
là một trong những hệ thống chính sách cơ bản để thực hiện các mục tiêu cuối
cùng của nền kinh tế.
Trong nền kinh tế mở cửa, động cơ của việc hoạch địch chính sách nói
chung, chính sách tài chính - tiền tệ và chính sách tỷ giá nói riêng là nhằm đạt
được các cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tế. Các cân đối bên trong
và bên ngoài của một nền kinh tế luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tỷ giá
hối đoái là một biến số có khả năng ảnh hưởng đến cả hai cân đối đó lẫn mối
quan hệ giữa chúng. Vì vậy, mục tiêu của chính sách tỷ giá cũng nhằm phục vụ
để đạt được cả hai mục tiêu này.
1.1.3.3 Các công cụ của chính sách tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là một biến số quan trọng có liên quan đến rất nhiều biến
số kinh tế khác nên mọi sự thay đổi của các biến số kinh tế ít nhiều đều có tác
động đến những giao dịch dân cư, Chính phủ một nước với dân cư và nền kinh tế
thế giới và như vậy sẽ có tác động đến tỷ giá hối đoái. Vì vậy, tất yếu sẽ có rất
nhiều các công cụ và thách thức khác nhau để thực hiện cơ chế tác động của
chính sách tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, ngoài các biện pháp có tính chất hành
chính mà các nước thường sử dụng điều chỉnh tỷ giá hối đoái thì có hai công cụ
cơ bản và mang tính kinh tế thuần túy thường được các nước phát triển sử dụng
để can thiệp vào điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Hai công cụ đó là lãi suất chiết khấu
và nghiệp vụ thị trường mở.
- Công cụ lãi suất tái chiết khấu: Cách thức dùng lãi suất tái chiết khấu
để điều chỉnh tỷ giá hối đoái được thực hiện với mong muốn tạo ra sự thay đổi
tức thời về tỷ giá. Lãi suất tái chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều
của lãi suất thị trường, làm thay đổi hướng chảy của các dòng vốn đầu tư bằng
việc các nhà đầu tư trong một nước sẽ chuyển đổi đồng tiền mình đang sở hữu
sang đồng tiền có lãi suất cao hơn, cung - cầu ngoại tệ thay đổi làm cho tỷ giá
thay đổi theo (phân tích trong ngắn hạn). Cụ thể, khi lãi suất trong nước tăng,
dòng vốn ngắn hạn trên thị trường tài chính quốc tế sẽ đổ vào trong nước, các



4
nhà đầu tư trong nước cũng chuyển vốn của mình sang đồng nội tệ. Ngược lại,
khi muốn điều chỉnh tỷ giá hối đoái tăng, ta sẽ tiến hành giảm lãi suất tái chiết
khấu.
- Công cụ nghiệp vụ thị trƣờng mở ngoại tệ: Nghiệp vụ thị trường mở
ngoại tệ thực chất là hoạt động của NHTW can thiệp vào thị trường ngoại hối để
điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Các Chính phủ thực hiện can thiệp vào tỷ giá hối đoái thông qua việc điều
chỉnh mức dự trữ ngoại tệ. Tùy theo mục tiêu muốn tăng hay giảm giá đồng nội
tệ mà NHTW sẽ bán ra hay mua vào đồng ngoại tệ, thay đổi mức dự trữ ngoại tệ
và thay đổi tỷ giá hối đoái. Có hai khả năng có thể xảy ra khi NHTW tiến hành
can thiệp vào thị trường ngoại hối. Đó là, khả năng can thiệp hữu hiệu và khả
năng can thiệp vô hiệu.
Một sự can thiệp hữu hiệu của Chính phủ vào thị trường ngoại hối diễn
ra khi NHTW tiến hành mua, bán đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối, nhờ đó
làm thay đổi cơ số tiền, làm thay đổi mức cung tiền, lãi suất và làm thay đổi tỷ
giá hối đoái.
Sự can thiệp vô hiệu sẽ diễn ra khi hành động mua bán này của NHTW
được phối hợp với nghiệp vụ thị trường mở trên thị trường tiền tệ tương ứng.
Việc mua bán đồng nội - ngoại tệ diễn ra đồng thời với việc mua bán chứng
khoán. Kết quả của sự phối hợp các nghiệp vụ này chỉ dẫn đến sự thay đổi trong
mức dự trữ quốc tế của một nước, chứ không làm thay đổi mức cung tiền và do
đó không dẫn đến sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái và giá trị của các đồng tiền.
Ngoài hai công cụ cơ bản và thuần túy mang tính chất kinh tế trên, các
quốc gia còn sử dụng một loạt các công cụ khác mang tính hành chính như : quy
định quản lý ngoại hối, điều chỉnh các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ trên thị
trường, những điều chỉnh trong chính sách tài chính (thuế khóa, chi tiêu...) để
điểu chỉnh tỷ giá hối đoái .
1.1.4. Cán cân thƣơng mại.
1.1.4.1 Khái niệm cán cân thƣơng mại




5
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân
thanh toán quốc tế. Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu
và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc
năm) cũng như mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng.
Khi mức chênh lệch là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư.
Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt.
Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương
mại. Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại
mang giá trị dương. Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng
dư thương mại mang giá trị âm. Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại.
1.1.4.2 Những nhân tố tác động đến cán cân thƣơng mại
- Ảnh hƣởng của thu nhập quốc dân (GDP): Thu nhập thực tế (đã điều
chỉnh theo lạm phát) tăng làm gia tăng mức tiêu thụ hàng hóa. Một sự gia tăng
trong chi tiêu hầu như phản ánh một mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước
ngoài. Vì vậy, GDP tăng đã làm nhập khẩu có xu hướng tăng. Sự gia tăng của
nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên (MPZ). MPZ là
phần của GDP tăng thêm mà người dân muốn chi cho nhập khẩu.
- Nhập khẩu: có xu hướng tăng khi GDP tăng và thậm chí nó còn tăng
nhanh hơn. Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập
khẩu biên (MPZ). MPZ là phần của GDP có thêm mà người dân muốn chi cho
nhập khẩu. Ngoài ra, nhập khẩu phụ thuộc giá cả tương đối giữa hàng hóa sản
xuất trong nước và hàng hóa sản xuất tại nước ngoài. Nếu giá cả trong nước tăng
tương đối so với giá thị trường quốc tế thì nhập khẩu sẽ tăng lên và ngược lại.
- Xuất khẩu: chủ yếu phụ thuộc vào những gì đang diễn biến tại các quốc
gia khác vì xuất khẩu của nước này chính là nhập khẩu của nước khác. Do vậy nó
chủ yếu phụ thuộc vào sản lượng và thu nhập của các quốc gia bạn hàng. Chính
vì thế trong các mô hình kinh tế người ta thường coi xuất khẩu là yếu tố tự định.
- Tỷ giá hối đoái: là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh
hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị



6
trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của
hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt
đỏ hơn đối với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây
bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu
ròng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi thế
trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên.
1.2. Một số nghiên cứu thực nghiệm điển hình trên thế giới về mối quan hệ
giữa chính sách tỷ giá và cán cân thƣơng mại.
1.2.1 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thƣơng mại, kinh nghiệm
của các quốc gia Châu Á.
Công trình nghiên cứu của các tác giả Khim _Sen Liewa, Kian_Ping Limb
và Huzaimi Hussainc xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân
thương mại, thông qua việc nghiên cứu tình hình thay đổi tỷ giá hối đoái và cán
cân thương mại của Các quốc gia Asean (Thái Lan, Malaysia, Indonesia
,Singapore, Philippin) với Nhật Bản - một quốc gia có mối quan hệ giao thương
chính.
Thế nhưng kết quả thu được không mấy rõ ràng về mối quan hệ giữa tỷ
giá hối đoái và cán cân thương mại. Bởi lẽ theo lý thuyết, khi đồng nội tệ giảm
giá thì thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu từ đó cải thiện cán cân thương
mại, tuy nhiên trong một số mốc thời gian thì lý thuyết này không đúng và không
đưa ra một sự giải thích rõ ràng cho kết quả thu được. Các nhà nghiên cứu đã đưa
ra giả thuyết là có nhân tố khác tác động nhiều hơn đến cán cân thương mại thay
vì sự thay đổi tỷ giá hối đoái. Bài nghiên cứu này đề cập đến yếu tố cung tiền
thực (real money). Những vấn đề về cung tiền thực và hiệu ứng cung tiền thực
được trình bày trong phần phụ lục.
Nghiên cứu cho thấy rằng cán cân thương mại nhạy cảm với cung tiền
thực hơn là nhạy cảm với tỷ giá hối đoái. Thông qua đó, nghiên cứu đã chỉ ra tỷ
giá hối đoái của quốc gia sẽ cải thiện nếu cung tiền thực của chúng nhỏ hơn cung
tiền thực của Nhật . Về mặt logic kinh tế của giả thuyết thì bất cứ khi nào cung
tiền thực của quốc gia nội địa nhỏ hơn cung tiền thực của Nhật , thì sức mua của



7
đồng nội tệ sẽ tăng lên tương đối so với đồng Yên Nhật. Chính vì vậy , hàng hóa
trong nước và dịch vụ được xem là rẻ hơn trong mắt người Nhật, vì thế có sự
tăng lên trong xu hướng là Nhật sẽ nhập khẩu nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn từ
quốc gia nội địa. Mặt khác, người dân trong nước sẽ mua ít hàng hóa và dịch vụ
từ Nhật Bản, vì họ thấy rằng hàng hóa từ Nhật đắt hơn. Từ đó cho thấy cán cân
thương mại của quốc gia nội địa sẽ giảm sút nếu cung tiền thực của nó lớn hơn
của Nhật.
Phân tích thực nghiệm dữ liệu thống kê của nghiên cứu này đề xuất rằng
cung tiền thực có thể giải thích được sự thay đổi của cán cân thương mại giữa các
quốc gia Asean (Malaysia, Singapore, Thái lan và Philippines) với Nhật Bản
trong suốt thời kỳ quan sát. Vì vậy, khi đối mặt với cán cân thương mại thâm hụt,
Chính phủ của các quốc gia Asean nên dùng chính sách đo lường trọng tâm biến
số cung tiền thực. Và một điều quan trọng nữa là tỷ giá hối đoái không chỉ là
chính sách duy nhất đề điều hành chính sách cán cân thương mại của các quốc
gia ASEAN.
1.2.2 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thƣơng mại: đƣờng cong
chữ J
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
được thực hiện bởi các tác giả thuộc đại học Olugbenga Onafowora Susquehann.
Đây là nghiên cứu trong ngắn hạn và dài hạn của hiệu ứng tỷ giá hối đoái thực
lên cán cân thương mại của 3 quốc gia ASEAN trong thương mại song phương
với Mỹ và Nhật Bản với mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số(VECM). Mặc dù có sự
biến đổi trong kết quả nhưng xét tổng thể thì nghiên cứu này vẫn tiến tới đề nghị
là neo đồng nội tệ trong dài hạn mặc dù bị ảnh hưởng bởi tác động của hiệu ứng
đường cong chữ J trong ngắn hạn….
Trong nghiên cứu thực nghiệm này, cả hai phương tiện quan sát là hồi
quy và kinh tế lượng đều được áp dụng cho riêng mỗi quốc gia trong quá trình
nghiên cứu, kết quả cho thấy tỷ giá hối đoái đã ảnh hưởng như thế nào đến sự
thay đổi của cán cân thương mại và sự phát triển của quốc gia. Nghiên cứu còn
chỉ ra một sự khác biệt lớn về mối quan hệ giữa các biến số kinh tế và tác động



8
giảm giá tiền tệ trong việc cải thiện cán cân thương mại của quốc gia. Bởi vậy,
tác động tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại phải cân nhắc kỹ cho câu hỏi từ 2
hướng là phân tích và kinh nghiệm dự báo tương lai. Những kết quả nghiên cứu
gần đây là một sự tiến bộ, một phát hiện mới mẻ trong chuỗi các nghiên cứu về
kinh tế lượng.
Nghiên cứu này xem xét, kiểm định tác động trong ngắn hạn và dài hạn
của tỷ giá hoái đoái thực lên cán cân thương mại của 3 quốc gia ASean : Thái
Lan, Malaysia, và Indonesia với Mỹ và Nhật Bản để xác định có hay không sự
biến đổi trong ngắn hạn của cán cân thương mại. Và dựa vào mô hình nghiên
cứu véc tơ hiệu chỉnh sai số kiểm định tính ổn định của các biến số để khẳng
định lại một lần nữa rằng trong dài hạn thì sẽ có mối quan hệ bền vững và ổn
định giữa cán cân thương mại, tỷ giá hối đoái.
Nghiên cứu tìm thấy trong thương mại song phương giữa Indonesia,
Malaysia với Mỹ, Nhật Bản và giữa Thái Lan với Mỹ có hiệu ứng đường cong
chữ J trong ngắn hạn. Với sự giảm giá của tỷ giá hối đoái ban đầu dẫn đến sự trì
trệ trong cán cân thương mại ở 4 quý trong ngắn hạn, nhưng lại được cải thiện
đáng kể trong dài hạn. Thái Lan đối diện với biến động trong cán cân thương mại
song phương với Nhật : một sự giảm giá đột ngột trong tỷ giá hối đoái ban đầu
giúp cán cân thương mại được cải thiện rồi thâm hụt và sau đó lại được cải thiện.
Tóm lại, theo kết quả nghiên cứu là neo giữ đồng nội tệ trong dài hạn với
mức độ biến đổi của hiệu ứng đường cong J trong ngắn hạn. Những tìm kiếm này
có nhiều ứng dụng cho cán cân của những quốc gia khu vực Đông Á với Nhật và
Mỹ. Điều căn bản đó là tiếp tục giảm giá tiền tệ của các quốc gia Đông Á so với
đồng USD và Yên Nhật để có thể dẫn đến một sự cải thiện trong cán cân thương
mại của họ với Nhật và Mỹ. Dù thế nào đi nữa thì sự cải thiện này cũng sẽ xảy ra
chỉ trong 3 hoặc 4 thời kỳ sau khi có sự giảm giá thực sự.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng chính sách tỷ giá để cải thiện
cán cân thƣơng mại.
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc:




9
Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc được thực hiện có tính nhất
quán gắn trực tiếp với lợi thế thương mại về hàng hóa rẻ và khối lượng lớn của
Trung Quốc.
Trung Quốc luôn theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái trên cơ sở định giá thấp
thực tế đồng nhân dân tệ so với các ngoại tệ khác đặc biệt với đồng đô la Mỹ để
tạo lợi thế thương mại ngắn hạn. Ngày 1.1.1994, đồng Nhân dân tệ chính thức bị
tuyên bố phá giá mạnh từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7 NDT/USD, tương ứng với tỷ
lệ phá giá 50% (8,7/5,8). Kết hợp với tỷ lệ đồng Nhân dân tệ bị đánh giá thấp
0,14% thời kỳ 1990 - 1993, tỷ lệ phá giá thực tế là 50,14%. Có thể thấy rõ đây
chính là sự kết hợp giữa việc điều chỉnh và phá giá đồng Nhân dân tệ trong chính
sách tỷ giá của Chính phủ Trung Quốc.
Kết quả của một loạt những điều chỉnh kết hợp thả lỏng và xiết chặt từng
bộ phận trong chính sách tỷ giá và tiền tệ vào thời điểm này đã có tác động tích
cực nhanh chóng khôi phục lại đà tăng trưởng trong xuất nhập khẩu và nền kinh
tế Trung Quốc (xem bảng 2).
Bảng1. 2 : Tình hình kinh tế Trung Quốc những năm 1994 - 1997.
Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997
Tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu (tỷ
USD)
236.73 280.90 289.90 325.05
Tốc độ tăng trưởng của XN khẩu (%
năm)
20.97 18.65 6.41 12.12
Cán cân tài khoản vốn (Triệu USD) 32,645 38,647 39,966 22,978
Lạm phát (% năm) 24.24 16.90 8.32 2.80
Tỷ giá hối đoái (trung bình NDT/USD) 8.6187 8.3514 8.3142 8.2898
Tốc độ tăng trưởng (% năm) 12.70 10.50 9.50 8.80
(Nguồn: Ngân hàng Phát triển đầu tư Châu Á – ADB)




10
Vào tháng 7/2005, Trung Quốc tiến hành điều chỉnh tỷ giá theo hướng
nâng giá đồng Nhân dân tệ và tỷ giá giữa đồng đô la và Nhân dân tệ vào thời
điểm này là 1 USD = 8.27 CNY sau đó Ngân hàng trung ương tiến hành cải cách
tỷ giá, cho phép thả nổi tỷ giá trong giới hạn biên độ 0.3% so với tỷ giá chính
thức của Ngân hàng Trung ương. Các phản ứng của Trung Quốc về tỷ giá hối
đoái khá linh hoạt và gắn với từng mối quan hệ thương mại cụ thể với từng thời
điểm cụ thể.
Trong điều kiện đồng đô la lên giá, Trung Quốc đã tìm cách để định giá
đồng nhân dân tệ thấp. Với cách thức này, Trung Quốc đã gần như khai thác triệt
để lợi thế thương mại không chỉ với Hoa Kỳ mà còn với các đối tác thương mại
khác.
Cụ thể hơn, trong giai đoạn 2001 – 2005, tốc độ tăng GDP bình quân mỗi
năm đạt 9,5% (năm 2006 đạt 11,5%). Tính theo USD, GDP của Trung Quốc đã
tăng gấp đôi, từ 1.325 tỷ USD năm 2001 lên 2.235 tỷ USD năm 2005. Trước đây,
Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới; sau 5 năm, Trung Quốc đã đứng thứ
3. Chất lượng hàng hóa của Trung Quốc được cải thiện nhiều để đạt tiêu chuẩn
quốc tế và ngành dịch vụ mở rộng với quy mô chưa từng có. Mức tăng trưởng
thương mại của Trung Quốc cũng nhanh nhất thế giới và hiện nay Trung Quốc là
nước có giá trị thương mại lớn thứ 3 sau EU và Mỹ. Kim ngạch thương mại
chiếm 40% GDP năm 2001 đã lên đến 80% GDP năm 2005.
Và có thể thấy trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế Trung Quốc được đánh giá là cao, cùng với sự thặng dư trong cán cân thương
mại, và nguồn dự trữ ngoại tệ khá lớn.
Bảng 1.3: Tình hình kinh tế Trung Quốc những năm 2005-2008
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Tốc độ tăng trưởng nhập
khẩu (% năm)
28.1 28.3 26.7 24.8
Tốc độ tăng trưởng của XN
khẩu (% năm)
34.1 36.5 36.1 33.2
Tỷ giá hối đoái (NDT/USD) 8.1943 7.9734 7.6075 6.9487


11
Tốc độ tăng trưởng (%
năm)
10.4 11.6 13.0 9.0
(Nguồn: Ngân hàng Phát triển đầu tư Châu Á – ADB)
Trung Quốc thực hiện chính sách neo buộc chặt hay nói cách khác cố định
đồng nhân dân tệ với đồng đô la để tiếp tục làm giảm giá đồng nhân dân tệ nhằm
tăng lợi thế thương mại và tiến hành chuyển đổi một phần đô la ra vàng để bảo
hiểm giá trị của lượng dự trữ.
Hình 1.1: Tỷ giá hối đoái giữa đồng Nhân dân tệ với Đô la Mỹ 1980-2010


(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế IMF)
Đầu năm 2010, các đối tác thương mại với Trung Quốc đã thống nhất lên
tiếng yêu cầu Trung Quốc phải nâng giá đồng nhân dân tệ song Trung Quốc vẫn
cố tìm mọi cách thức để tránh phải đáp ứng yêu cầu của các đối tác thương mại
này.
1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan:
Trước khủng hoảng tài chính năm 1997, nền kinh tế Thái Lan đã trải qua
nhiều năm tăng trưởng kinh tế nhanh do có ngành công nghiệp chế tạo phát
triển giúp kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ 9,4% trong một thập kỷ cho



12
đến năm 1996. Các yếu tố mang lại thành công kinh tế đó là nhờ Thái Lan đã
tận dụng được nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động dồi dào và rẻ, chủ nghĩa
bảo thủ tài chính, các chính sách đầu tư nước ngoài cởi mở và sự khuyến khích
lĩnh vực tư nhân, thực hiện chính sách mở cửa kinh tế và phát triển mạnh theo
hướng phục vụ xuất khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan trong những năm gần đây chủ yếu
tăng được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.4: Tỷ giá và cán cân thương mại của Thái Lan từ năm 2003-2008
ĐVT: Triệu USD
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 2008
E(THB/USD) 39.59 41.08 41.03 36.05 33.72 34.90
Cán cân
thương mại
4,496 1,809 -7,983 -49 11,114 -5,291
(Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng phát triển Châu Á ADB)
Có được những thành quả trên, Chính phủ Thái Lan đã có những nỗ lực
cải thiện cán cân thương mại như: cải thiện môi trường kinh tế, cải thiện cơ cấu
chính sách thương mại và phá giá mạnh đồng Bath và tác động đến cán cân thanh
toán quốc tế của Thái Lan.
Do khó khăn về tài chính, thiếu ngoại tệ nghiêm trọng nên trong giai đoạn
trước khủng hoảng, các nước Đông Á neo giữ tỷ giá cố định so với USD. Với
Thái Lan, việc thi hành chính sách tỷ giá hối đoái cố định so với đồng USD đồng
nghĩa với việc đánh giá quá cao giá trị của đồng Baht trong khi giá trị của USD
với JPY và các đồng tiền khác tăng rất mạnh. Tuy tỷ giá chính thức giữa Baht với
USD có tăng lên, nhưng nếu theo học thuyết ngang giá sức mua thì đồng Baht đã
giảm giá khoảng 20% so với USD nhưng chỉ được điều chỉnh rất ít (khoảng 6%).
Do đó, việc đồng Baht bị thả nổi là hiện tượng cần thiết để trả lại giá trị
đích thực của nó.Từ năm 1996, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan giảm
đáng kể, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cũng giảm tương đối.



13
Có nhiều nguyên nhân làm giảm xuất khẩu của Thái Lan trong giai đoạn
này bao gồm: tăng trưởng thương mại toàn cầu suy giảm, tỷ giá hối đoái thực của
các nước Đông Á lên giá, lượng cầu và giá của các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt
là hàng điện tử bị suy giảm. Thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan năm 1996
lên đến 7,9%GDP. Mức thâm hụt này tiếp tục được tài trợ bởi dòng vốn ngắn hạn
nước ngoài chảy vào.Do tài khoản vốn được tự do và những yếu kém trong việc
kiểm soát các khoản nợ vay đã khiến ngày càng nhiều hơn các luồng vốn ồ ạt
chảy vào Thái Lan.
Chỉ trong 10 năm từ 1987-1996, đã có đến 100 tỷ USD đổ vào Thái Lan,
trong đó,vốn vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn do các tổ chức tài chính trong
nước vay để đầu tư dài hạn và bất động sản. Bên cạnh đó, tỷ giá được giữ gần
như cố định ở mức 25 Baht/USD trong thời gian dài cộng với thâm hụt thương
mại kéo dài đã khiến áp lực giảm giá đồng Baht ngày càng tăng.
Hình 1.2: Biến động của tỷ giá Baht/USD trong giai đoạn 1994-2008
tỷ giá hối đoái Thái Lan
0.00
5.00
10.00
15.00
20.00
25.00
30.00
35.00
40.00
45.00
50.00
1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

(Nguồn: Nhóm tác giả, Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB)
Dưới áp lực của những khoản nợ đến hạn và thâm hụt thương mại kéo dài,
mặc dù đã bán ra gần 15 tỷ USD trong gần 40 tỷ USD dự trữ ngoại hối, nhưng
Thái Lan đã không thể duy trì được mức tỷ giá hiện thời. Thái Lan đứng trước
việc đồng Baht bị phá giá và kéo theo đó là cuộc khủng hoảng với những tổn
thương nghiêm trọng đến nền kinh tế.



14
Chỉ trong 1 ngày sau khi Chính phủ tuyên bố phá giá, đồng Baht mất hơn
20% giá trị rồi tiếp tục giảm xuống sau đó. Tỷ giá Baht/USD tăng lên từ 25,61
đến 47,25. Tỷ giá này làm tăng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của Thái Lan
nói chung, nông thủy sản nói riêng, hạn chế nhập khẩu. Kết quả là Thái Lan giảm
nhập siêu từ 9,5 tỷ USD năm 1991 xuống còn 4,624 tỷ USD năm 1997 và thặng
dư là 11,973 tỷ USD năm 2007.
Hình 1.3: Cán cân thương mại Thái Lan giai đoạn 1994-2008
cán cân thương mại Thái Lan
-50000
0
50000
100000
150000
200000
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
xuất khẩu
nhập khẩu
cán cân thương mại

(Nguồn: Nhóm tác giả, Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB)
Ngày 2/7/1997, Thái Lan đã cạn kiệt các nguồn dự trữ ngoại hối trong nỗ
lực bảo vệ đồng Baht tránh bị tác động của một cuộc đầu cơ lớn và buộc phải thả
nổi đồng Baht. Đồng tiền này ngay lập tức giảm giá mạnh. Phản ứng dây chuyền
đã lan rộng khi các nhà đầu tư rút vốn ra khỏi các nước có những triệu chứng
kinh tế tương tự như Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc.
Từ cuối năm 1998 – 2004, tỷ giá Baht/USD đôi lúc giảm và sau đó tăng
nhẹ nhưng nói chung duy trì ở mức ổn định. Tỷ giá tăng nhẹ từ 39,06 năm 2004
lên 41,03 năm 2005 nhưng cho tới nay, tỷ giá giảm do USD giảm giá. Mặc dù
luôn chú trọng tới xuất khẩu, nhưng Thái Lan đã phải chấp nhận để tỷ giá của nội
tệ tăng hơn 20% so với USD và duy trì ở mức lạm phát trung bình là 3% từ năm
2006 tới nay do Chính phủ Thái Lan nhận thức được rằng trong bối cảnh kinh tế
thế giới hiện nay, nội tệ tăng giá so với USD là chính sách có lợi hơn.





15
1.3.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc:
Chỉ hơn 25 năm sau, vào cuối thập kỷ 80, từ một nước nông nghiệp nghèo
nàn, GDP đầu người chỉ khoảng 87USD thì giờ đây Hàn Quốc đã đạt được
những thành tựu kinh tế được cả thế giới biết đến như “Kỳ tích trên sông Hàn”.
Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm quản lý, điều tiết
nền kinh tế, trong đó đặt trọng tâm là hướng về xuất khẩu.
- Chính sách hƣớng về xuất khẩu: Trong những năm 60, nền kinh tế
Hàn Quốc đang phải đối mặt với những khó khăn lớn; không có thị trường trong
nước cho các loại hàng hóa sản xuất, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Để đối
phó với vấn đề này, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách hướng về xuất
khẩu với 2 bước đi quan trọng đó là khuyến khích và tăng cường tiết kiệm thông
qua việc tăng lãi suất, cải thiện thâm hụt thương mại bằng việc phá giá đồng nội
tệ. Bên cạnh đó, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện hàng loạt biện pháp nhằm hỗ
trợ xuất khẩu như giảm thuế nhập khẩu, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp
xuất khẩu một cách hợp lý, ưu đãi về tài chính cho các ngành công nghiệp mũi
nhọn, điều chỉnh chế độ tỷ giá linh hoạt.
Hình 1.4: Cán cân thương mại Hàn Quốc giai đoạn 1994-2008
Cán cân thương mại Hàn Quốc
-100000
0
100000
200000
300000
400000
500000
600000
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
CCTM
xuất khẩu
nhập khẩu

(Nguồn: Nhóm tác giả, Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB)
Sau hàng loạt những chính sách của Chính phủ, kết quả đạt được là hết
sức khả quan. Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia có tốc độ phát triển



16
kinh tế nhanh nhất thế giới. Cán cân thương mại đã được cải thiện đáng kể.
Trong giai đoạn từ năm 1994-1996, nhập khẩu tăng, sản xuất trong nước chưa
đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, cán cân thương mại bị thâm hụt. Từ
sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 cho đến nay, thì cán cân
thương mại của Hàn Quốc luôn thặng dư, tốc độ tăng ổn định. Trong suốt giai
đoạn 2001-2008, xuất khẩu tăng với tốc độ rất cao.
- Thành công từ chính sách tỷ giá: Để có được những kết quả trên, Hàn
Quốc đã khá thành công trong việc sử dụng công cụ tỷ giá hối đoái hướng vào
xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế.
Hình 1.5: Xu hướng biến động tỷ giá KRW/USD giai đoạn 1994-2008
tỷ giá hối đoái của Hàn Quốc
0.00
200.00
400.00
600.00
800.00
1000.00
1200.00
1400.00
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008

(Nguồn: Nhóm tác giả, Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB)
Hàn Quốc kiên nhẫn theo đuổi chính sách phá giá tiền tệ để tăng trưởng
xuất khẩu. Đối với một quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu các mặt hàng
máy móc, nguyên liệu, thiết bị và công nghệ cũng như vay nợ nước ngoài để đầu
tư thì việc phá giá tiền tệ có thể làm giảm tăng trưởng do tác động làm cản trở
đầu tư lớn hơn khuyến khích xuất khẩu.
Tuy nhiên, sự khôn ngoan của Hàn Quốc chính là việc mở rộng xuất khẩu
ở quy mô lớn kết hợp với các nhân tố khác làm giảm chi phí nhập khẩu và gánh
nặng nợ. Thực tế cho thấy, sau khi phá giá mạnh đồng Won, Hàn Quốc đã tăng
cường năng lực sản xuất và đẩy mạnh xúc tiến thương mại nên đã đạt tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu cao.



17
Tỷ giá KRW/USD được điều chỉnh theo hướng giảm giá trị đồng nội tệ
trong một thời gian dài song song với quá trình Hàn Quốc chuyển từ chế độ tỷ
giá cố định sang thả nổi.
Nghệ thuật phá giá tiền tệ ở Hàn Quốc chính là nhờ sử dụng linh hoạt các
yếu tố thị trường và chỉ điều chỉnh khi cần thiết. Chính phủ Hàn Quốc đã rất chủ
động tạo ra các điều kiện thuận lợi để đảm bảo tỷ giá KRW/USD không cản trở
tới hoạt động xuất khẩu: khi USD lên giá, chính phủ để thị trường tự điều tiết,
còn khi USD giảm giá, Chính phủ đã tăng cung đồng KRW nhằm có lợi cho xuất
khẩu.
1.3.4 Bài học sử dụng chính sách tỷ giá nhằm cải thiện cán cân thƣơng mại
đối với Việt Nam:
Qua nghiên cứu các bài học kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc,
Thái Lan , một số bài học kinh nghiệm được rút ra cho Việt Nam như sau:
- Cần có phản ứng chính sách linh hoạt về tỷ giá trong những tình huống
cụ thể và cần có định hướng rõ ràng về tỷ giá trong dài hạn làm căn cứ cho các
điều chỉnh ngắn hạn. Do đó, cần có cơ chế giám sát và theo dõi chặt chẽ sự biến
động của tỷ giá cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài để nhận dạng
xu hướng vận động của tỷ giá hối đoái đặc biệt giữa các đồng tiền đại diện cho
các trung tâm kinh tế lớn và toàn cầu như đồng đô la, đồng EUR …
- Cần có sự phối hợp đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô trong cải cách.
Trong chính sách tỷ giá hối đoái, việc điều chỉnh tỷ giá có ảnh hưởng đến giá cả
trong nước và quốc tế, thay đổi tỷ giá cũng là điều kiện tiên quyết trong thay đổi
chính sách thương mại, đặc biệt trong điều kiện mở cửa. Tuy nhiên, không có
thay đổi trong chính sách thương mại thì việc thay đổi tỷ giá sẽ vận hành không
có hiệu quả. Trong sự phối hợp với các lĩnh vực khác của nền kinh tế, việc điều
chỉnh theo hướng thay đổi tỷ giá không mang tính chất cứng nhắc mà được xem
như là phù hợp với các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế.
- Phải duy trì một chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với chiến lược phát
triển kinh tế của quốc gia trong từng giai đoạn. Một chính sách tỷ giá hối đoái
được coi là phù hợp bao gồm:



18
+ Lựa chọn thời điểm phá giá đồng nội tệ phù hợp. Thành công trong
việc phá giá tiền tệ thể hiện rõ nét ở thời điểm phá giá và mức điều chỉnh tỷ giá
hối đoái. Nhờ sự nhạy bén của các công cụ trong chính sách tỷ giá mà Trung
Quốc đã đạt được sự ổn định giá cả trong nước và cân bằng tài chính tiền tệ với
bên ngoài.
+ Duy trì tỷ giá phù hợp với mục tiêu phát triển theo hướng nâng cao
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy việc
duy trì tỷ giá trong thời gian dài cùng với sự phá giá hợp lý CNY đã tạo ra sự
phát triển tối ưu cho nền kinh tế và áp dụng những biện pháp hỗ trợ khôn khéo để
giảm bớt tác động ngược chiều. Đảm bảo cung ứng ngoại tệ được duy trì thường
xuyên, liên tục đảm bảo cho sự thành công trong việc điều hành chính sách tỷ
giá. Điều hành chính sách tỷ giá hối đoái phải luôn hướng tới mục tiêu hỗ trợ tốt
nhất cho chính sách xuất khẩu, từ đó cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng
dự trữ ngoại tệ, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
+ Không nên neo giữ quá lâu đồng bản tệ với một đồng ngoại tệ
mạnh. Tỷ giá cần được xác lập trên cơ sở thiết lập một rổ ngoại tệ để tránh được
cú sốc trong nền kinh tế. Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm
1997 cho thấy một trong những nguyên nhân chính gây ra khủng hoảng là trong
giai đoạn đó, các nước trong khu vực về cơ bản thực hiện chủ trương ổn định tỷ
giá so với USD. Ngoài ra, cần thận trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ
trước những tác động bên ngoài. Khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 cho
thấy chính sự hoang mang của các nhà đầu tư đã dẫn đến sự rút vốn ồ ạt, gây nên
sự sụp đổ trong hệ thống tài chính ở các nước này.










19
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống các vấn đề lý luận về tỷ giá hối đoái
và cán cân thương mại, đề cập đến các nghiên cứu điển hình trên thế giới về mối
quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại, cùng với việc xem xét các chính sách
điều hành tỷ giá của các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc và Thái Lan … Và
tác giả cũng đã rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc điều
hành chính sách tỷ giá để cải thiện cán cân thương mại.

























20
CHƢƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở
VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN CÁN CÂN
THƢƠNG MẠI

2.1. Chính sách điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam và những tác động đến
xuất, nhập khẩu:
Các quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến việc quản lý, lựa chọn cơ chế
hay chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp nhằm phát huy tính hiệu quả trong việc ổn
định thị trường tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trong
nước đối với hàng hóa nước ngoài.
Đối với Việt Nam, việc lựa chọn một chính sách tỷ giá hối đoái thích hợp
cũng đã và đang là vấn đề được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế
tăng trưởng có nhiều dấu hiệu chưa bền vững và tình hình lạm phát gia tăng.
Trong thập niên 80: tỷ giá và lạm phát cao với sự đóng cửa với thị
trường thế giới.
Từ năm 1990-2006, cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam có nhiều thay
đổi hơn trước, theo hướng linh hoạt, bám sát cung cầu thị trường, nhất là từ năm
1999 đến nay.
- Năm 1991-1996: cố định tỷ giá với mức 1$=11.000VND
- Năm 1996-1998:giảm giá dần đồng nội tệ do chịu ảnh hưởng của khủng
hoảng tiền tệ châu Á 1997
- Ngày 26/2/1999:Nhà nước chấm dứt tỷ giá chính thức và giảm biên độ tỷ
giá xuống còn 0.1%. Và biên độ tỷ giá được nới rộng dần từ năm 1999 đến nay.
Từ 26/2/1999-30/6/2002: áp dụng biên độ giao động 0,1%. Năm 1999, tỷ
giá giữa đồng VN và USD khá ổn định, tỷ giá liên ngân hàng tăng 1%, tỷ giá trên
thị trường tự do tăng 1,1% so với năm 1998. Năm 2000 tỷ giá giao dịch trên thị




21
trường liên ngân hàng tăng 3,45%, tỷ giá trên thị trường tự do tăng 3,18% so với
năm 1999. Năm 2001 tỷ giá tăng 3,9% so với cuối năm 2000. Trong năm 2002 tỷ
giá bình quân VND/USD trên thị trường liên ngân hàng tăng 1,97%, so với năm
2001. Năm 2003 tỷ giá tăng khoảng 1% so với năm 2002.
Hình 2.1: Xu hướng biến động tỷ giá giai đoạn từ năm 1999-2002
Tỷ giá danh nghĩa VND/USD
13000
13500
14000
14500
15000
15500
16000
Q1/1999
Q2/1999
Q3/1999
Q4/1999
Q1/2000
Q2/2000
Q3/2000
Q4/2000
Q1/2001
Q2/2001
Q3/2001
Q4/2001
Q1/2002
Q2/2002
Q3/2002
Q4/2002

(Nguồn: Nhóm tác giả, Ngân hàng phát triển Châu Á – ADB)
Tuy nhiên, giai đoạn này (1999 – 2002), mặc dù tỷ giá tăng nhưng mức độ
giảm giá trị của Việt Nam đồng vẫn còn thấp hơn nhiều so với một số nước trong
khu vực nên tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
làm cho tăng dần mức thâm hụt trong cán cân thương mại.
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu vĩ mô giai đoạn 1999 – 2002
Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002
Lãi suất (%) 7,2 6,24 6,84 7,8
Dự trữ ngoại tệ kể cả vàng (tỷ USD) 2.711 3.030 3.387 3.692
Cán cân TKVL (%GDP) 2,6 2,1 1,5 -1,9
( Nguồn: NHNN, IMF, Tổng cục thống kê)



22
Bên cạnh đó, sự ổn định của của đồng Việt Nam so với đồng đô la Mỹ, kết
hợp với cơ chế lãi suất tự do ổn định, qua đó dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng từ
2.711 tỷ USD năm 1999 đến 3.692 tỷ USD năm 2002 (tăng 36,19%). Tình hình
cán cân tài khoản vãng lai được cải thiện từ thâm hụt 3,9% năm 1998 sang thặng
dư 2.6% năm 1999 và 2.1% năm 2000 đã tiếp tục cải thiện được cán cân thanh
toán quốc tế.
Ngày 1/7/2002, Ngân hàng Việt Nam công bố nới rộng biên độ lên 0.25%
so với giá giao dịch bình quân trên thị trường bình quân liên ngân hàng. Đối với
các ngoại tệ khác không phải là USD, các NHTM được quyền chủ động tự định
tỷ giá giữa VND và ngoại tệ đó.
Từ năm 2002-2006: biên độ 0.25% được cố định, tỷ giá năm 2003 tăng
3% so với năm 2002 và ổn định với việc đồng Việt Nam được định giá thấp đã
cải thiện rõ rệt tình trạng thâm hụt cán cân thương mại từ -12,8% GDP năm 2003
xuống còn -8,8 %GDP năm 2006, góp phần cải thiện cán cân tài khoản vãng lai
từ -4,9 % GDP năm 2003 xuống còn -0,3 % GDP năm 2006, đã tiếp tục cải thiện
được cán cân thanh toán quốc tế, qua đó dự trữ ngoại tệ tiếp tục tăng. Đồng thời,
sự ổn định của tỷ giá đã góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài, từ đây các
nhân tố lạm phát được nuôi dưỡng, tốc độ tăng trưởng GDP ổn định.
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam từ 2003 đến 2006
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006
Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 7,3 7,8 8,4 8,2
Lạm phát (%) 4,3 7,8 8,4 6,6
FDI (tỷ USD) 3,15 4,22 6,34 10,2
Cán cân thương mại (%GDP) -12,8 -12,1 -8,1 -8,8
Cán cân TK vãng lai (%GDP) -4,9 -3,4 -0,9 -0,3
Dự trữ ngoại tệ (tỷ USD) 5,6 6,3 8,5 11,5


23
( Nguồn: NHNN, IMF, Tổng cục thống kê)
Đầu năm 2007, có những biến động lớn trong điều hành tỷ giá của ngân
hàng Nhà nước:
Nới rộng biên độ tỷ giá: Ngày 02/01/2007, NHNN đã nới rộng biên độ tỷ
giá ngoại tệ từ + 0,25% lên so với tỷ giá liên ngân hàng. Việc điều chỉnh này
được cho là mở đường cho sự giảm giá của VND so với USD.
Sự can thiệp vào chính sách tỷ giá của +0,5% NHNN:
- Trong ngày 2 và 3 tháng 01 năm 2007, NHNN đã mua ngoại tệ của các
NHTM với số lượng nhiều hơn nhằm giảm bớt tình trạng thừa USD trên thị
trường.Ước tính trong 2 ngày, NHNN đã mua vào trên 140 triệu USD.
- Tỷ giá VND/USD bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp
dụng cho ngày giao dịch do Ngân hàng Nhà nước công bố có cao hơn một chút
(nếu ngày 26.1.2006 là 16.090 thì ngày 2.1.2007 là 16.101, ngày 3.1 là 16.096,
ngày 4.1 là 16.100);
- Tỷ giá VND/USD do ngân hàng thương mại (Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam) bán ra vẫn cơ bản ổn định ở mức trên dưới 16.055 một chút và thấp
hơn tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày (tương ứng ngày
26.12.2006 là 16.050, ngày 2.1.2007 là 16.051, ngày 3.1 là 16.055, ngày 4.1 là
16.055).
- Tỷ giá VND/USD trên thị trường tự do cũng cơ bản ổn định và chỉ cao
hơn không đáng kể so với tỷ giá do các ngân hàng thương mại bán ra và cũng
thấp hơn tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố hằng ngày (ngày 2.1.2007 là
16.070, ngày 3.1 là 16.070, ngày 4.1 là 16.070).
- Ngày 10.10.2007, giá bán ra đô la Mỹ của ngân hàng là 16.084 đồng,
nhưng cũng ngày này tháng trước thì giá bán ra là 16.244 đồng. Diễn biến này
nếu xem tỷ giá của Việt Nam là tự do biến động theo thị trường thì chúng ta gọi




24
là tiền đồng Việt Nam tăng giá (appreciation) 160 đồng, hay ngược lại đô la Mỹ
giảm giá.
Ngay từ đầu năm 2007, NHNN đã quyết định mở rộng biên độ dao động,
nhưng tỷ giá VND/USD vẫn giảm, ngay những tháng đầu năm, tỷ giá giảm
0,33%. Tỷ giá giao dịch ở các NHTM cũng như ở thị trường tự do đều thấp hơn
tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước
công bố.
Khi kinh tế Việt Nam tăng trưởng ổn định ở mức cao, tỷ giá giảm, đồng
Việt Nam có xu hướng lên giá đã tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Chính vì thế, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (FDI) năm 2007 đạt mức
kỷ lục 21,3 tỷ USD và 6 tháng đầu năm 2008 đạt mức 31,6 tỷ USD vượt xa mốc
21,3 tỷ USD của cả năm 2007. Dự trữ ngoại tệ 09 tháng đầu năm 2008 đạt 22,3
tỷ USD đạt hơn 20 tuần nhập khẩu. Nhưng cán cân thương mại và cán cân tài
khoản vãng lai thâm hụt và mức lạm phát tương đối lớn là27,9 %.
Ngày 24/12/2007 Ngân hàng Nhà nước quyết định mở rộng biên độ từ +/-
0.5% lên +/-0.75% nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường và tăng cường sự
linh hoạt của tỷ giá trong bối cảnh nguồn vốn đổ vào Việt Nam ngày càng lớn,
tạo điều kiện cho dòng vốn ra và vào nhịp nhàng hơn. Theo NHNN, việc mở
rộng biên độ lần này nằm trong chủ trương tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam
thích nghi với mức độ mở cửa, hội nhập nền kinh tế thế giới.
Tỷ giá có tính thị trường hơn, nhưng khi mà cung lớn hơn cầu thì điều đó
đồng nghĩa với việc tỷ giá sẽ phải giảm. Sau gần 10 ngày kể từ khi NHNN chính
thức nới rộng biên độ, tỷ giá đã mất hơn 30 VND/USD, tụt xuống dưới ngưỡng
16.000 VND/USD.
Tóm lại, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2007, VND đã giảm giá danh
nghĩa khoảng 14% so với USD do Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tỷ giá
theo hướng khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Tuy nhiên, trong bối




25
cảnh đồng USD đang giảm giá so với các ngoại tệ mạnh và các dòng vốn lớn
đang vào Việt Nam làm phức tạp thêm nỗ lực ngăn cản VND lên giá.
Từ tháng 10/2007 đến 04/04/2008, nhất là sau khi NHNN nới lỏng biên
độ dao động tỷ giá từ 0,75% lên 1%, tỷ giá danh nghĩa USD/VND giảm khoảng
1,2% (VND lên giá), tỷ giá ngày 04/04/2008 là 1USD =15.960 VND. Kim ngạch
xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2008 đạt 23,39 tỷ USD tăng 27,2% so với cùng kỳ
năm 2007. Trong khi 5 tháng đầu năm 2008, nhập khẩu đạt 37,81 tỷ USD, tăng
67,0% so với cùng kỳ năm 2007.
Như vậy, 5 tháng đầu năm 2008, nhập siêu đạt mức quá cao (14,4 tỷ
USD), cao hơn mức nhập siêu cả năm 2007 (14 tỷ USD).Nửa đầu năm 2008 lạm
phát và nhập siêu gia tăng đã khiến nhiều người dân và doanh nghiệp chuyển tài
sản từ VND sang USD. Tỷ giá hối đoái trên thị trường tự do có lúc đã lên đến
mức 19.000 VND/USD, thậm chí 20.000VNĐ, trong khi đó giá USD trong các
ngân hàng thương mại vẫn là trong khoảng 16.000 – 17.000 VND. Việc VNĐ
được giao dịch trong biên độ hẹp đã làm mất tính thanh khoản của thị trường.Do
đó nới rộng biên độ tỷ giá hối đoái là hoàn toàn phù hợp.
Trong năm 2008 Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần điều chỉnh biên độ tỷ giá,
một thời gian ngắn chưa từng có trong lịch sử. Với mục đích điều hành chính
sách tỷ giá linh hoạt giúp cho các tổ chức kinh tế và tổ chức tín dụng thích nghi
tốt hơn với những biến động của kinh tế thế giới.
Trong nửa cuối của năm 2008, khi lạm phát đang có xu hướng giảm cùng
với giá cả hàng hoá trên thế giới và dẫn đến giảm tình trạng đầu cơ tích trữ
nguyên vật liệu và nhập siêu thì nền kinh tế Việt Nam lại phải đối mặt với một
vấn đề hoàn toàn khác - nguy cơ suy giảm tăng trưởng kinh tế do tác động của
suy thoái toàn cầu dẫn đến giảm xuất khẩu.
Tuy nhiên, việc nới lỏng tiền tệ đã khởi động lại làn sóng tích trữ USD và
tỷ giá trên thị trường tự do đã tăng trở lại, có lúc đạt mức 17.400 VND/USD. Do
mức giảm lãi suất và điều chỉnh tỷ giá chưa đạt đến kỳ vọng của thị trường (xuất