SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

LuËn v¨n tèt nghiÖp
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 7
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA GI O DÁ ỤC TIỂU HỌC

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM TƯƠNG
TÁC
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ng nh: Giáo dà ục tiểu học


GV hướng dẫn: TH.S: LÊ THỊ THANH
BèNH
SV thực hiện: Phan Thị Thanh Hồng

Vinh, th

ng 5 n
ă
m 2004
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
7
1 Khái quát về sư phạm tương tác 7
1.1 Các tác nhân 7
1.1.1 Người học 7
1.1.2 Người dạy 8
1.1.3 Môi trường 9
1.2 Các thao tác 10
1.2.1 Phương pháp học 10
1.2.2 Phương pháp sư phạm 11
1.2.3 Ảnh hưởng của môi trường 12
1.3 Các nguyên lý 13
1.3.1 Người học - Người thợ 13
1.3.2 Người dạy - Người hướng dẫn 13
1.3.3 Môi trường - Tác nhân ảnh hưởng 14
1.4 Vận dụng phương pháp sư phạm tương tác trong quá trình
dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
14
14.1 Trong quá trình dạy học 14
14.2 Trong môn Tiếng Việt 17
2 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học 17
2.1 Đặc điểm nhận thức 18
2.1.1 Tri giác 18
2.1.2 Chú ý 18
2.1.3 Trí nhớ 19
2.1.4 Tư duy 19
2.2 Đặc điểm nhân cách 20
2.2.1 Tình cảm 20
2.2.2 Tính cách 20
2.2.3 Hứng thú 21
2.2.4 Tự đánh giá và đánh giá 21
2.3 Hoạt động ngôn ngữ 21
3 Thực trạng sử dụng phương pháp sư phạm tương tác
trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
22
3.1 Chương trình sách giao khoa và các tài tài liệu dạy học
Tiếng Việt ở tiểu học
22
3.2 Về phía giáo viên 24
3.3 Về phía học sinh 25
4 Nguyên nhân của thực trạng 26
Chương II: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM
TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
27
1 Phương pháp dạy học 27
1.1 Phương pháp dạy học thảo luận nhóm 27
1.2 Phương pháp trò chơi 32
2 Hình thức dạy học 39
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
2
LuËn v¨n tèt nghiÖp
2.1 Học cá nhân trên lớp 39
2.2 Dạy học theo nhóm 43
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
49
1 Mục đích thực nghiệm 49
2 Đối tượng thực nghiệm, địa bàn thực nghiệm 49
3 Nôi dung thực nghiệm 49
4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 54
5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 54
PHẦN KẾT LUẬN 62
PHẦN PHỤ LỤC 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
LỜI NÓI ĐẦU
Qua việc tìm hiểu phương pháp sư phạm tương tác và việc sử dụng
phương pháp sự phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học chúng
tôi nhận thấy: Nếu được sử dụng hợp lý thì phương pháp sư phạm tương tác
vừa góp phần nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng
giao tiếp cho học sinh Tiểu học, vừa bồi dưỡng cho các em năng lực hợp
tác với bạn, với thầy để giải quyết các nhiệm vụ học tập. Chính vì vậy chúng
tôi chọn đề tài ''Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
3
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Tiếng Việt ở Tiểu học'' với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
Tiếng Việt.
Đề tài được hoàn thành với sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng
dẫn Lê Thị Thanh Bình và bằng sự nỗ lực tìm tòi, học hỏi của bản thân.
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên trong khoa Giáo dục
Tiểu học. Sự giúp đỡ tạo điều kiện của giáo viên và học sinh trường
Hưng Dũng 1 - Thành phố Vinh trong việc nghiên cứu và thực nghiệm.
Nhân dịp này chúng tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo Lê Thị Thanh Bình - người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong
quá trình thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo,
các bạn sinh viên trong khoa Giáo dục Tiểu học và giáo viên, học
sinh Trường Tiểu Học Hưng Dũng 1.
Đề tài được thực hiện trong một thời gian ngắn và là công trình tập
dượt đầu tiên nên gặp không ít khó khăn, do tầm hiểu biết hạn chế nên
không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự chỉ bảo của Thầy cô
và góp ý của các bạn.
Vinh, tháng 5 năm 2004
Tác giả
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Sự phát triển nhanh chóng của xã hội, đặc biệt là khoa học kỹ thuật đã
làm thay đổi mục tiêu đào tạo của nhà trường dẫn đến yêu cầu về sự đổi mới
các yếu tố cấu thành nên quá trình dạy học, trong đó có phương pháp giáo
dục. Đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diện trên mọi
lĩnh vực đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo phải "Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
4
LuËn v¨n tèt nghiÖp
thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương
pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại vào quá trình giáo dục đảm bảo thời
gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh" (Nghị Quyết TW2-1997).
Giáo dục tiểu học là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
là bậc học quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách con
người. Nếu giáo dục phổ thông được xem là nền tảng văn hoá của một đất
nước - là sức mạnh tương lai của dân tộc thì giáo dục tiểu học là cơ sở của cơ
sở ban đầu đó.
Có thể nói những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được hình thành ở bậc tiểu học
rất bền vững, nó đi theo các em suốt cả cuộc đời khó mà thay đổi được. Trong
xã hội hiện nay, lứa tuổi học sinh tiểu học ứng với độ tuổi từ 6 - 11 tuổi. Đây là
lứa tuổi mà lần đầu tiên các em được cắp sách tới trường, được làm quen với
nền văn hoá nhà trường. Đặc biệt là có sự chuyển giao hoạt động chủ đạo là vui
chơi ở lứa tuổi mẫu giáo sang học tập ở lứa tuổi học sinh tiểu học. Hoạt động
chủ đạo này tuy không chiếm phần lớn thời gian của học sinh song nó quyết
định chiều hướng phát triển tâm lý của các em. Đây là hoạt động có mục đích,
kế hoạch và có thể tác động từ bên ngoài, chất lượng của việc lĩnh hội phụ thuộc
vào việc tổ chức mối quan hệ của giáo viên và học sinh môi trường, cụ thể là: Sự
tích cực của học sinh khi tham gia vào quá trình học tập, vai trò lãnh đạo sư
phạm của giáo viên với mục tiêu: "Kéo theo sự phát triển của trẻ, tạo ra sự sống
cho hàng loạt quá trình phát triển mà đứng ngoài dạy học không thể làm được"
(Vu-got-xki)
(1)
trong đó có tính đến ảnh hưởng của yếu tố môi trường.
Môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ, hình thành năng lực ngôn ngữ
cho học sinh tiểu học. Những năng lực ngôn ngữ này chỉ có được khi giáo viên
tổ chức cho học sinh thực hiện thành thục từng thao tác, hành động của quá trình
dạy học Tiếng Việt và hứng thú với việc thực hiện nó. Mặt khác để tổ chức tốt
quá trình giao tiếp cho học sinh trong quá trình dạy học Tiếng Việt thì việc tạo
ra môi trường thuận lợi, xây dựng mối quan hệ hợp tác cùng phát triển giữa học
sinh- học sinh; học sinh - giáo viên là điều quan trọng.
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
5
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Tuy nhiên, thực tiễn dạy học Tiếng Việt ở tiểu học cho thấy về phương
pháp dạy học bên cạnh những thành công còn có nhiều bất cập nhất định. Số
đông giáo viên chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của việc tạo ra môi
trường, điều kiện cho học sinh hoạt động lĩnh hội tri thức; còn coi trọng lối
truyền thụ một chiều theo kiểu "Máy phát" (người dạy) "Máy nhận" (người
học) chưa chú trọng dẫn đến việc tạo điều kiện, cơ hội hứng thú để học sinh
phát huy hết khả năng của mình làm cho các em thụ động lĩnh hội tri thức,
hạn chế tính tích cực nhận thức, tư duy sáng tạo của học sinh, làm cho các em
khó thích nghi với cuộc sống muôn màu muôn vẻ của xã hội sau này.
Hơn nữa sự bùng nổ của nền kinh tế tri thức làm cho trình độ nhận thức
của học sinh ngày càng cao hơn trình độ của học sinh cùng lứa tuổi trước đây.
Vì vậy nhà trường phải rèn luyện cho học sinh tính tích cực, năng động, sáng tạo
bằng cách sớm chuyển sang phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hoá
hành động học tập của học sinh thông qua việc tổ chức cho các em các hoạt
động học tập và giao lưu, hợp tác với bạn với thầy để lĩnh hội kiến thức một
cách sáng tạo, chủ động.
Phương pháp sư phạm tương tác đã đề ra chiến lược dạy học có khả năng
đáp ứng được yêu cầu trên. Đó chính là lý do khiến chúng tôi chọn đề tài nghiên
cứu: "Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở
tiểu học".
2- LỊCH SỬ VẤN ĐỀ :
Phương pháp sư phạm tương tác xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ
XX. Ngay từ khi xuất hiện nó đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu sư phạm trên thế giới và được thể hiện tập trung trong cuốn "Tiến tới một
phương pháp sư phạm tương tác" của hai tác giả là Jean-Marc Denomm'e và
Madeleine Roy. Trong tác phẩm này các tác giả đã thể hiện quan niệm người
học là người “thợ chính” của quá trình đào tạo, người dạy đảm nhiệm chức
năng hướng dẫn người học. Môi trường ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động dạy
của người dạy và hoạt động của người học thông qua các yếu tố bên trong,
bên ngoài của người học và người dạy. Phương pháp này trông chờ vào tính
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
6
LuËn v¨n tèt nghiÖp
năng động do quan hệ qua lại giữa người dạy - người học và môi trường
nhằm phát huy sự phản ứng, trao đổi và điều chỉnh giữa các tác nhân.
Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng mối quan hệ tích cực giữa người dạy-
người học- môi trường được nhiều nhà nghiên cứu, anh chị em sinh viên tham
gia. Mỗi tác giả, mỗi bài viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc
thiết lập mối quan hệ của bộ ba: Người dạy- Người học- môi trường trong quá
trình dạy học Tiếng Việt. Người thì thông qua hệ thống bài tập tình huống,
thông qua việc hình thành phương pháp dạy học, sử dụng phương pháp nêu vấn
đề... Các quan niệm đó được thể hiện trong các bài báo, trên Tạp chí giáo dục
như: "Cải tiến tổ chức hoạt động giáo dục theo phương pháp hợp tác" của
Nguyễn Thanh Bình - Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 3/1998; "Một số phương
hướng và biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của học sinh trong quá
trình dạy học Tiếng Việt ở tiểu học của Ngô Thu Dung - Viện khoa học giáo
dục; "Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác một biện pháp nâng cao tính
tích cực học tập của học sinh" của Vũ Lê Hoa - Tạp chí Giáo dục số 21 tháng
4/1998.
Với luận văn này chúng tôi tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn về các biện
pháp giải quyết mối quan hệ giữa Giáo viên - học sinh và các đòi hỏi của môi
trường bên trong, bên ngoài giáo viên và học sinh với mong muốn góp phần
nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở tiểu học.
3- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học thông
qua việc sử dụng phương pháp sư phạm tương tác một cách hợp lý.
4- KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
4.1- Khách thể : Quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học.
4.2- Đối tượng : Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học
Tiếng Việt ở bậc tiểu học.
5- GIẢ THUYẾT KHOA HỌC :
Có thể nâng cao được chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học. Nếu
sử dụng phương pháp sư phạm tương tác một cách hợp lý.
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
7
LuËn v¨n tèt nghiÖp
6- NHIỆM VỤ:
6.1- Tìm hiểu cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
6.2- Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở
bậc tiểu học.
6.3- Thực nghiệm sư phạm.
7- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nhằm thu thập các thông tin lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2- Phương pháp quan sát, điều tra
Nhằm tìm hiểu thực tiễn dạy học Tiếng Việt hiện nay.
7.3 - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Nhằm xem xét, xác nhận tính
đúng đắn, hợp lý và tính khả thi của việc sử dụng phương pháp sư phạm tương
tác trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học.
7.4 - Phương pháp thống kê toán học: Nhằm sử lý kết quả thu được
qua thực nghiệm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn để đánh giá hiệu quả
của quá trình thực nghiệm.
8- ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt và năng lực sử dụng
Tiếng Việt cho học sinh tiểu học
9- BỐ CỤC ĐỀ TÀI:
- Phần I: Mở đầu.
- Phần II: Nội dung.
Gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương II: Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học
Tiếng Việt ở tiểu học.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
- Phần 3: Kết luận
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
8
LuËn v¨n tèt nghiÖp
- Tài liệu tham khảo.
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Khái quát về phương pháp sư phạm tương tác.
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
9
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Phương pháp sư phạm tương tác là phương pháp dạy học tập trung trước
hết vào người học, xem người học là người “thợ chính” của quá trình dạy học.
Mọi can thiệp sư phạm đều xuất phát từ nhu cầu, tiềm năng và trách nhiệm của
người học đối với quá trình học tập của bản thân. Người dạy trong phương
pháp sư phạm tương tác là người hướng dẫn người học cách học, tạo ra những
điều kiện thuận lợi để người học thực hiện phương pháp học của mình. Môi
trường là yếu tố ảnh hưởng đến cả người dạy và người học, tuy nhiên ở một
mức độ nào đó thì người dạy và người học cũng có những tác động ngược trở
lại đối với môi trường.
Phương pháp sư phạm tương tác được xây dựng căn bản dựa trên các tác
nhân người dạy - người học - môi trường và các thao tác tương ứng với nó.
1.1. Các tác nhân:
1.1.1 Người học:
Người học trong phương pháp sư phạm tương tác bao gồm tất cả các đối
tượng đi học chứ không nhằm nhấn mạnh đến một mối quan hệ thầy trò hay một
cơ sở trường lớp nào cả.
Để có thể tồn tại và phát triển trong xã hội với tư cách là một thành
viên tích cực, thì mỗi cá nhân đều phải được trang bị những năng lực thực
tiễn thể hiện ở khả năng lao động, cư xử trong sản xuất và trong đời sống
hàng ngày. Các năng lực thực tiễn đó đặc trưng cho trình độ văn minh của
xã hội và bao giờ cũng có sẵn trong nền văn hoá xã hội do thế hệ trước tạo
ra, tinh chế và gửi vào các sản phẩm vật chất tinh thần. Để có những năng
lực đó thì người học phải tham gia vào quá trình thu lượm tri thức, kỹ năng
kỹ xảo bằng năng lực của chính mình. Sở dĩ nói như vậy bởi năng lực người
không tự nhiên mà có trong mỗi cá thể, nó cũng không di truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác bằng con đường “tập nhiễm” giống các động vật bậc
thấp. Muốn có nó thì con người phải trải qua một quá trình hoạt động, rèn luyện
lâu dài bằng chính tiềm năng của bản thân để làm "sống" lại những năng lực
thực tiễn đã được gửi vào trong đối tượng từ đó mà tiếp thu, lĩnh hội.
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
10
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Người học theo quan điểm của phương pháp sư phạm tương tác không
phải là cái bình sống để chứa những kiến thức mà người dạy rót sang, cũng
không phải là đối tượng thụ động tuân theo mọi quyết định của người dạy. Trái
lại, người học ở đây là chủ thể tích cực tự giác tham gia vào quá trình học tập
của bản thân để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đồng thời họ có khả năng tự
điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đi đến mục đích cuối cùng. Trong vai trò
là một tác nhân người học được xem xét như là chủ thể đi tìm cách học và tìm
cách hiểu chứ không phải là người được dạy.
1.1.2 Người dạy:
Người dạy trong phương pháp sư phạm tương tác không đóng vai trò là
"cái máy bơm đơn giản bơm tri thức vào đầu học sinh", họ là người bằng tri
thức, kinh nghiệm của mình có trách nhiệm hướng dẫn người học học cách học.
Thật vậy, mỗi đối tượng tồn tại trong xã hội đều chứa đựng những năng lực
người nhất định, chẳng hạn: Cái cốc là vật thể hoá khái niệm "cốc", năng lực
người chứa đựng trong cái cốc đó là khả năng dùng cốc để uống nước. Nhiệm
vụ của người học là phải tham gia vào quá trình tái tạo lại quá trình loài người
đã sáng tạo ra đối tượng để thu về mình những năng lực cần thiết. Mà quá trình
tái tạo đó đạt hiệu quả cao thì người dạy phải sử dụng kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ, năng lực, kinh nghiệm sống của mình để thiết kế, tổ chức lại quá
trình tái sản xuất đó thành một quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường đảm
bảo cho bất kỳ người học nào làm đúng theo quy trình công nghệ ấy thì thế nào
cũng làm ra sản phẩm mà không nhất thiết phải sai, việc lập lại một việc làm đã
được xác định tương đối dễ đối với người học. Nếu người dạy làm được như vậy
thì họ đã thực hiện được nhiệm vụ hướng dẫn người học lĩnh hội kiến thức, kỹ
năng, kỹ xảo. Để làm được điều này người dạy cần phải có tri thức sư phạm và
khoa học để làm chủ nội dung và phương pháp dạy học, ngoài ra còn phải có
khả năng dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong quá trình dạy học để có biện
pháp giúp đỡ kịp thời đối với người học, để họ thực hiện tốt phương pháp dạy
học của mình.
Như đã nói ở trên, để thực hiện trách nhiệm hướng dẫn người học thì
người dạy phải biết thiết kế và tổ chức quá trình tái sản xuất kiến thức theo một
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
11
LuËn v¨n tèt nghiÖp
quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường thì người dạy phải chỉ cho người học
con đường phải đi ,các phương tiện cần sử dụng và cái đích đạt được. Đồng thời
người dạy còn phải tạo cho người học hứng thú, tinh thần trách nhiệm đối với
việc học của bản thân và có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ để cho người học đến
đích. Một điều cốt lõi khi thực hiện các công việc này đối với người dạy, đó là
không bao giờ được làm hộ người học, không bao giờ được đem đến cho người
học những sản phẩm làm sẵn, mà muốn hình thành ở người học năng lực gì thì
người dạy phải tổ chức và tạo mọi điều kiện cho người học có thể tự tạo ra sản
phẩm ấy và làm trước mắt người dạy. Như vậy thì cách truyền đạt đơn thuần
theo lối học thuộc lòng một bài giảng hay cách truyền đạt theo cách truyền đạt
một thông tin khoa học là những cách thức dạy học đi ngược lại tinh thần cơ bản
của phương pháp sư phạm tương tác.
Người dạy theo nghĩa đích thực của từ này là người được đào tạo một
cách chuyên biệt với tư cách là một nghề trong xã hội. Họ là người thực hiện sứ
mệnh vinh quang là vì sự phát triểm của xã hội, của thế hệ tương lai chứ không
phải xã hội sinh ra nghề dạy học để các ông thầy có việc làm. Mặt khác,vì sự có
mặt của người học quyết định sự có mặt của người dạy với tư cách là một thầy
giáo đích thực. Cho nên trong phương pháp sư phạm tương tác người dạy không
phải là chủ thể của quá trình dạy học mà là người phục vụ người học, làm nảy
sinh ở người học với tư cách của một người hướng dẫn.
1.1.3 Môi trường:
Trong phương pháp sư phạm tương tác môi trường bao gồm môi trường
bên trong và môi trường bên ngoài. Môi trường bên trong là tư tưởng tình cảm,
tâm lý, ý thức... của người dạy và người học. Môi trường bên ngoài là toàn bộ
thế giới vật chất tồn tại xung quanh người dạy và người học. Môi trường là một
tác nhân quan trọng có ảnh hưởng đến người dạy, người học. Bầu không khí cởi
mở, thân thiện của người dạy, người học và tập thể, chế độ làm việc hợp lý, cơ
sở vật chất phù hợp có tác động lôi cuốn sự hứng thú, khả năng tập trung và nội
dung dạy học. Ở luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến môi trường bên ngoài
theo nghĩa là môi trường sư phạm trong lớp học bởi đây là môi trường tác
động trực tiếp đến người dạy và người học.
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
12
LuËn v¨n tèt nghiÖp
1.2. Các thao tác:
Tương ứng với các tác nhân trên là các thao tác sau:
1.2.1 Phương pháp học:
Phương pháp học còn là hoạt động học (có chủ định). Nếu các kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo được hình thành thông qua hoạt động vui chơi, lao động chỉ là
sản phẩm phụ của các hoạt động đó và các kiến thức lĩnh hội được chỉ là những
kiến thức kinh nghiệm thì những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo được lĩnh hội thông
qua hoạt động học tập có chủ định là sản phẩm chính của hoạt động học, đó là
những kiến thức khoa học đích thực, có tính chất cẩm nang, nó giống như chiếc
chìa khoá vạn năng giúp người học mở cửa kho tàng tri thức của nhân loại để
lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân mình.
Vì phương pháp học chính là hoạt động học nên để tiến hành hoạt động
học thì người học phải đưa ra các hành động học. Có ba hành động học là phân
tích, khái quát và cụ thể hoá ba hành động này có mối quan hệ biện chứng thống
nhất với nhau. Ban đầu những hành động học tập này là đối tượng lĩnh hội (học
cách học) sau khi đã được hình thành thì nó lại trở thành phương tiện học tập và
góp phần quyết định chất lượng của hoạt động và hoạt động học tập chỉ có thể
được hình thành thông qua các hành động học tập, do đó trong quá trình dạy học
phải lấy hành động học tập làm cơ sở.
Cái đích của hoạt động học tập là hướng tới chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo thông qua sự tái tạo của cá nhân. Cái đích đó sẽ không thực hiện được
nếu người học không được tham gia vào quá trình tái tạo đó. Trái lại người học
phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính năng lực, trí tuệ, và ý
thức tự giác của bản thân dưới sự hướng dẫn của người dạy. Điều đó cho thấy
việc dạy học không phải là một bài độc tấu mà là một vở kịch có người học cùng
tham gia trên con đường đi đến lĩnh hội một tri thức mới.
Khác với hoạt động khác, hoạt động học không làm thay đổi khách thể,
đối tượng của hoạt động mà là hoạt động hướng vào chủ thể của nó. Nếu chủ thể
lĩnh hội được càng nhiều kiến thức - kỹ năng - kỹ xảo thì sức mạnh vật chất, tinh
thần của họ càng tăng lên bấy nhiêu. Vì vậy hoạt động học của người học không
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
13
LuËn v¨n tèt nghiÖp
diễn ra một cách êm ả mà luôn có sự vận động, phát triển để không ngừng đi đến
đồng hoá ngày càng nhiều tri thức mới làm giàu cho vốn năng lực cá nhân của
chủ thể, làm cho chủ thể của hoạt động học có sự biến đổi về chất.
1.2.2 Phương pháp sư phạm:
Như đã biết, phương pháp học của người học chính là hoạt động học có
chủ định, hoạt động đó chỉ có thể thực hiện đạt chất lượng tốt khi có sự hướng
dẫn của người dạy. Công việc hướng dẫn này được tiến hành bởi nhiều người
ngay sau khi trẻ ra đời ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi hoạt động của chúng.
Song chỉ có sự hướng dẫn của những người được đào tạo chuyên biệt thì mới
đảm bảo cho quá trình tiếp thu có tính tự giác và khái quát cao bởi các tri thức
đó không chỉ đúng và thích hợp cho một hoàn cảnh nào đó mà nó còn đúng và
thích hợp cho mọi hoàn cảnh tương tự. Việc hướng dẫn người học thu lượm tri
thức tức là hướng dẫn người học thực hiện phương pháp học. Thực chất đó là
quá trình người dạy tổ chức lại quá trình tái tạo ở người học các tri thức khoa
học, làm cho người học ý thức được đối tượng học, có nhu cầu chiếm lĩnh đối
tượng và biết cách chiếm lĩnh nó. Trong một số trường hợp người dạy có những
can thiệp sư phạm để quá trình đó diễn ra nhanh hơn nhưng đó là sự can thiệp
với tư cách của một người hướng dẫn.
Để tổ chức quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo theo quy trình
công nghệ theo kiểu nhà trường không phải dễ. Bởi những sản phẩm (đồ vật,
khái niệm, hình tượng nghệ thuật ...) được lưu hành trong đời sống chỉ là sản
phẩm cuối cùng, nó để lại sau lưng quá trình sản xuất ra nó. Vì vậy, muốn lặp lại
quá trình làm ra sản phẩm đó người dạy phải huy động toàn bộ những năng lực vốn
có bao gồm kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm ... để thiết kế lại một lần nữa quy trình
thực hiện đã làm ra sản phẩm dưới dạng làm để học, có tính sư phạm cao. Lúc này
quy trình công nghệ đã được tinh chế về mặt sư phạm, đã bị loại bỏ đi tất cả những
gì có thể loại bỏ, chỉ còn giữ lại cái không thể- không có tức là cái logic thuần khiết
của đối tượng. Mặt khác, đối tượng tác động của phương pháp sư phạm là sự phát
triển nhân cách của người học. Cho nên phương pháp sư phạm của người dạy còn
là sự tác động giữa các nhân cách, do đó trong quá trình dạy học phương pháp
sư phạm phải hướng vào "vùng phát triển gần nhất của người học biến cái có thể
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
14
LuËn v¨n tèt nghiÖp
thành cái đã có nhằm tạo nên sự biến đổi về chất ở người học. Để làm được điều
này người dạy phải huy động toàn bộ phẩm chất và năng lực của mình để tác
động vào nhân cách của người học.
1.2.3 Ảnh hưởng của môi trường:
Môi trường ảnh hưởng đến cả phương pháp học của người học và phương
pháp sư phạm của người dạy. Do cả người dạy và người học đều tồn tại trong
một môi trường cụ thể, phong phú, đa dạng, phức tạp với sự tác động của các
yếu tố tâm lý,tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến tâm lý, ý thức của người dạy và
người học. Chẳng hạn: Sự phát triển của nền khoa học kỹ thuật trên thế giới và
công cuộc đổi mới đất nước đã đặt ra những "đơn đặt hàng” có yêu cầu cao hơn
với con người do nhà trường đào tạo ra, điều đó làm thay đổi mục tiêu giáo dục
của nhà trường. Sự thay đổi mục tiêu giáo dục ảnh hưởng đến nội dung dạy học
cũng như phương pháp dạy và phương pháp học của người dạy và người học.
Hoặc nếu người học không hứng thú với việc học, khả năng tập trung, ghi nhớ
kém hay khi người dạy không yêu nghề, mến trẻ thì đều ảnh hưởng đến hiệu
quả của các phương pháp hoạt động của người daỵ và người học. Bên cạnh đó
việc dạy và học trong một căn phòng chật chội, tối tăm, ẩm ướt thì cả người dạy
và người học đều cảm thấy khó chịu dẫn đến chất lượng dạy - học giảm sút.
Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó người dạy và người học có thể có
những tác động làm thay đổi môi trường. Để làm rõ điều này chúng ta hãy xem
xét ví dụ sau: Người học sau khi biết nguyên nhân gây ra bệnh cận thị thì họ sẽ
tìm cách thay đổi môi trường và tập tính của mình đồng thời tìm ta môi trường
thuận lợi cho việc thực hiện phương pháp học của mình mà không bị cận thị.
Như vậy, môi trường là tác nhân có ảnh hưởng đến các phương pháp
riêng của người dạy và người học. Bên cạnh đó người dạy và người học còn có
thể có tác động làm thay đổi môi trường. Trong quá trình dạy học người dạy và
người học phải có ý thức về ảnh hưởng của môi trường, biết cách tận dụng và
tìm ra cái lợi của những ảnh hưởng tốt từ môi trường. Đồng thời phải biết điều
chỉnh những ảnh hưởng tiêu cực từ phía môi trường theo hướng có lợi cho cả
người dạy và người học.
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
15
LuËn v¨n tèt nghiÖp
1.3- Các nguyên lý:
1.3.1- Người học - Người thợ:
Phương pháp sư phạm tương tác xem người học là người thợ chính của
quá trình đào tạo. Điều này khẳng định vai trò trung tâm của người học trong quá trình
học.
Sở dĩ phương pháp sư phạm tương tác xem người học là người thợ chính
của quá trình học bởi ở người học có bộ máy sản sinh ra tri thức (hệ thống thần
kinh trung ương và ngoại biên), có khả năng khai thác kinh nghiệm, tri thức
được tích luỹ trong nền văn hoá vật chất- tinh thần của xã hội. Ngoài ra ở người
học còn có ý thức, trách nhiệm và hứng thú với việc học. Đây chính là tiềm năng
của người học, tiềm năng này là cơ sở để khơi động nội lực của người học.
Nguyên lý này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải xuất phát từ chính
tiềm năng của người học, từ nhu cầu mục tiêu học tập của người học để lựa chọn
nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp. Đồng thời phải
tạo điều kiện cũng như huy động sự tham gia, khơi dậy hứng thú trách nhiệm
của người học nhằm phát huy tối đa tính tích cực, nỗ lực của người học.
1.3.2- Người dạy - Người hướng dẫn:
Phương pháp sư phạm tương tác xem người dạy là người hướng dẫn
người học. Vai trò của người dạy thể hiện ở chỗ người dạy hợp tác và tạo ra
những điều kiện thuận lợi cho người học thực hiện nhiệm vụ học tập.
Tuy đối tượng tác động của người dạy và người học là khác nhau (đối
tượng tác động của người dạy là người học, đối tượng tác động của người học là
tri thức). Song lại thống nhất với nhau về mục đích đó là thực hiện các nhiệm vụ
dạy học. Vì vậy người dạy và người học trong quá trình dạy học phải hợp tác
với nhau để góp phần hoàn thành cùng một công việc. Trong sự hợp tác đó
người dạy đóng vai trò là người dẫn đường có nghĩa là người dạy phải thiết kế,
tổ chức các hoạt động học tập cho người học, còn người học sẽ đóng vai trò thực
thi các thiết kế của người dạy. Không chỉ trong vai trò là người dẫn đường,
người dạy còn phải giúp đỡ, tạo điều kiện cho người học thực hiện phương pháp
học của mình. Để thực hiện nhiệm vụ kép này đòi hỏi người dạy phải có tri thức
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
16
LuËn v¨n tèt nghiÖp
khoa học để làm chủ nội dung và phương pháp dạy học. Ngoài ra còn phải dự
báo những khó khăn mà người học sẽ gặp phải để từ đó đề ra các biện pháp can
thiệp có hiệu quả.
Nguyên lý này đòi hỏi người dạy trong quá trình dạy phải xây dựng kế
hoạch dạy học với tư cách của người hướng dẫn. Đó là: Xây dựng kế hoạch dạy
học, tổ chức thực hiện nó và hợp tác cùng người học trong quá trình người học
thực hiện các kế hoạch do người dạy đề ra.
1.3.3- Môi trường - Tác nhân ảnh hưởng.
Vì cả người dạy và người học đều cùng tồn tại trong một môi trường vật
chất, xã hội nhất định nên môi trường ảnh hưởng đến cả người dạy và người học
cũng như phương pháp sư phạm và phương pháp học của họ. Song sự tác động
này không chỉ là một chiều đơn thuần mà nó còn có chiều ngược lại, đó là người
dạy và người học cùng với phương pháp sư phạm và phương pháp học tác động
trở lại môi trường, làm thay đổi môi trường theo hướng có lợi cho bản thân
mình.
Vì vậy trong quá trình dạy học cả người dạy và người học đều phải hiểu
rõ tác động của môi trường để từ đó khai thác mặt có lợi và hạn chế mặt có hại
thậm chí là điều chỉnh mặt có hạn của nó.
1.4- Vận dụng phương pháp sư phạm tương tác trong quá trình dạy học
Tiếng Việt ở tiểu học:
1.4.1 Trong quá trình dạy học.
Những hiểu biết có tính chất lý luận về phương pháp sư phạm tương tác
trên đây là cơ sở gíup người dạy lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học cũng như can thiệp kịp thời nhằm tạo ra động lực giúp người
học hứng thú và thành công. Sự vận dụng phương pháp sư phạm tương tác trong
quá trình dạy học thể hiện ở các khía cạnh sau :
Thứ nhất: Phương pháp sư phạm tương tác bắt nguồn từ sự nhận thức
đúng đắn vai trò và quan hệ của người dạy, người học và môn học (một trong
những yếu tố của tác nhân môi trường). Các yếu tố này có vai trò quan trọng cấu
thành quá trình dạy học của bất kỳ một môn học, một cấp học. Nhưng mục đích
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
17
LuËn v¨n tèt nghiÖp
chính của dạy học là sự phát triển tính nhân cách của người học, vì vậy nếu thiếu
người học thì quá trình dạy học không có ý nghĩa. Nhận thức được điều này
phương pháp sư phạm tương tác đặt ra yêu cầu tổ chức tốt mối quan hệ giữa
người dạy và người học theo hướng lấy người học làm trung tâm. Đây cũng là
mục tiêu mà các chiến lược dạy học hiện đại, tiến bộ hướng tới. Dạy học theo
hướng lấy người học làm trung tâm nghĩa là phát huy tính tích cực của người
học trong mọi hoạt động, mọi khả năng của quá trình dạy học nhằm làm cho quá
trình tái sản xuất của người học đạt hiệu quả cao nhất. Điều đó cũng đồng nghĩa
với người dạy phải từ bỏ vị trí trung tâm, cai quản trong dạy học để hướng dẫn,
cố vấn, khuyến khích người học hoạt động và trao đổi qua lại giữa người học
các tài liệu bài tập. Có thể nói đây là định hướng cơ bản nhất của phương pháp
sư phạm tương tác đối với quá trình dạy học, định hướng này chi phối sự lựa
chọn chiến lược, phương pháp, nội dung, hình thức tổ chức dạy học và các hình
thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Phương pháp sư phạm tương tác đòi hỏi quá trình dạy học phải thông qua
hoạt động, làm để học và học để tự hoạt động bởi nghe thì sẽ quên, nhìn chỉ biết
và làm mới hiểu. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học người dạy phải tạo ra các
điều kiện để người học tự hoạt động, để làm được điều này người dạy phải tổ
chức, hướng dẫn người học tự học, tự phát hiện và chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt
động của chính mình, phải tạo cho người học cơ hội được chia sẻ, hợp tác, bày
tỏ, thể hiện và tự khẳng định mình. Lúc này phương pháp sư phạm của người
dạy được đánh giá không phải trên cơ sở chất lượng của bài diễn thuyết mà anh
ta trình bày trước người học mà là những công việc mà người học đã làm được
trong và sau giờ học.
Thứ hai: Xuất phát từ ý tưởng cơ bản là xem người dạy là "người thợ"
chính của quá trình dạy học. Để phát huy tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động
của người học trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo thì việc tổ
chức dạy học theo nhóm nhỏ - thảo luận nhóm tỏ ra là phương pháp, hình thức
dạy học đem lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó thì việc dạy học tự phát hiện, tự đánh
giá, hợp tác với thầy, cô để tự nhận thức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
18
LuËn v¨n tèt nghiÖp
phát huy tối đa sự tham gia của người học và hạn chế sự áp đặt không cần thiết
của nhân dân trong quá trình dạy học.
Thứ ba: Phương pháp sư phạm tương tác đặt ra yêu cầu, sử dụng nhiều
phương pháp dạy học khác nhau, theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức
người học. Để làm được điều này thì việc tạo ra môi trường giáo dục- dạy học
thuận lợi để có thể thực hiện tốt hoạt động sư phạm của mình có ý nghĩa quan
trọng. Môi trường giáo dục, dạy học thuận lợi đó bao gồm các phương tiện dạy học
đảm bảo tính khoa học và thẩm mỹ, là không gian lớp học đảm bảo yêu cầu về ánh
sáng, độ ẩm, tiêu chuẩn về không khí, trang thiết bị trong lớp học. Đặc biệt là
hệ thống bàn ghế phải dễ di chuyển để phục vụ cho thảo luận nhóm; Môn
học phải phù hợp với mục tiêu dạy học, với các phương pháp dạy học mới và
phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người học.
Do khả năng tập trung, chú ý của học sinh tiểu học kém, hoạt động vui
chơi ở lứa tuổi mẫu giáo còn chiếm ưu thế nhất định nên trong quá trình dạy học
người dạy phải tạo ra bầu không khí học tập thoải mái, nghiêm túc, lành mạnh
tránh sự căng thẳng không cần thiết đối với cả người dạy lẫn người học.
Tạo sự chủ động cần thiết cho người dạy trong việc thực hiện chương
trình, phương pháp dạy học như cung cấp đủ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,
có biện pháp giúp người dạy nắm vững mục tiêu chương trình, nội dung,
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học và các biện pháp kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của người học. Không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, tạo điều kiện và có biện pháp phát huy tính năng động
sáng tạo của người dạy trong quá trình dạy học, phải xem việc lấy người học
làm trung tâm không có nghĩa là coi nhẹ vai trò của người dạy.
Thứ tư: Phương pháp sư phạm tương tác đòi hỏi phải thay đổi cách đánh
giá kết quả dạy học. Cụ thể là: Phải dựa vào mục tiêu dạy học đã đặt ra làm
cơ sở để đánh giá kết quả học tập về hình thức kiểm tra đánh giá khác nhau
như viết, trắc nghiệm, thực hành ... trong đó phương pháp trắc nghiệm được
coi trọng đặc biệt vì nó tránh được tình trạng học viết, làm cho quá trình kiểm
tra, đánh giá trở nên khách quan hơn. Người dạy không phải là người duy
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
19
LuËn v¨n tèt nghiÖp
nhất có quyền đánh giá chất lượng học tập của người học mà phải tạo điều
kiện cho người học tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
Kiểm tra, đánh giá có ý đánh giá có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình
dạy học vài đổi mới người dạy đó là sự thu lại kết quả phản hồi từ phía người
khác. Còn đối với người học, còn đổi mới người học thì nó có tác dụng kích
thích hứng thú học tập cũng như điều chỉnh hoạt động của mình sao cho nó đi
đúng hướng.
Để có kết quả kiểm tra đánh giá chính xác thì người dạy phải nắm được
trật tự tuyến tính của việc làm để khi người dạy đưa ra kết quả sai từ khâu nào
cũng như khi người học gặp khó khăn thì người dạy cũng không biết các em đã
gặp những khó khăn gì. Do đó việc đánh giá kết quả học tập của người học dựa
vào kết quả cuối cùng mà không chú ý đến quá trình làm ra nó sẽ dẫn tới hậu
quả tai hại bởi nó làm cho việc dạy học không phải lúc nào cũng đi đến thành
công, kết quả đạt được dù tốt cũng chỉ là ngẫu nhiên, may rủi, nằm ngoài tầm
kiểm soát của người dạy.
1.4.2 Trong môn Tiếng Việt:
Hiện nay ở tiểu học đang sử dụng cả hai chương trình là chương trình
CCGD và chương trình sau năm 2000 (Chương trình này đã được thực hiện ở
lớp 1 và 2).Với mục tiêu đặc thù của môn học được xác định là dạy tiếng Việt
nhằm hướng tới mục đích giao tiếp và thông qua giao tiếp, chương trình này chi
phối việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức kiểm tra đánh giá. Điều
này đòi hỏi người giáo viên trong quá trình dạy học tiếng Việt theo chương
trình mới bên cạnh việc sử dụng các phương pháp đặc trưng của bộ môn còn
phải sử dụng những phương pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh trong quá trình học tập như thảo luận nhóm, trò chơi học tập...với các hình
thức dạy học phong phú và phương pháp kiểm tra, đánh giá đa dạng như không
chỉ đánh gía qua mức độ lĩnh hội kiến thức mà còn đánh giá qua mức độ hoạt
động, hợp tác với bạn, với thầy...giáo viên không còn là người duy nhất có
quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh mà phải tạo điều kiện để học sinh
được tham gia vào quá trình đánh giá sản phẩm của chính mình. Tất cả những
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
20
LuËn v¨n tèt nghiÖp
điều này là điều kiện thuận lợi để áp dụng phương pháp sư phạm tương tác trong
quá trình dạy học Tiếng Việt.
2. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA LỨA TUỔI HỌC SINH TIỂU HỌC .
Học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển, đây là giai đoạn đặt nền
móng quan trọng cho sự phát triển của các giai đoạn tiếp theo. Trong giai đoạn
hiện nay lứa tuổi học sinh tiểu học từ 6÷11 tuổi là một giai đoạn phát triển có
những đặc trưng riêng với hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo. Hoạt động
năng quy định nhiều hướng phát triển tâm lý của trẻ. Vì vậy việc tổ chức tốt các
hoạt động này sẽ thu được những kết quả mới cao hơn so với các giai đoạn
trước, đó và điều này hoàn toàn có thể thực hiện được (từ phía nhà trường), trên
cơ sở áp dụng những thành tựu mới nhất của tâm lý học lứa tuổi.
Việc nghiên cứu đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học là cả một quá trình
lâu dài. Nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi không đặt ra cho mình nhiệm vụ đi
sâu nghiên cứu đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học mà chỉ nghiên cứu một
mặt nào đó có liên quan đến đề tài: Cụ thể là:
2.1. Đặc điểm nhận thức:
2.1.1- Tri giác:
Hoạt động tri giác ở học sinh tiểu học (lớp 1, 2) có nhiều điểm giống trẻ
mẫu giáo. Tri giác đượm màu cảm xúc, số lượng các chi tiết tri giác ít, trẻ chú ý
đến các chi tiết ngẫu nhiên mà chưa có khả năng tổng hợp, khả năng quan sát
tinh tế. Việc tri giác chưa có mục đích, kế hoạch. Lên lớp 4, 5 trẻ đã biết tìm dấu
hiệu đặc trưng của sự vật, biết phân biệt các sắc thái chi tiết riêng lẻ. Những đặc
điểm này cho thấy trong quá trình dạy học Tiếng Việt giáo viên không chỉ hàng
ngày dạy học sinh tri giác ngữ liệu mà còn là người tổ chức hoạt động tri giác
cho học sinh một cách có mục đích, có kế hoạch. Để làm được điều này giáo
viên cần tạo điều kiện cho từng học sinh và từng nhóm học sinh tiếp xúc trực
tiếp với ngữ liệu, cùng nhau phân tích ngữ liệu qua đó mà tổ chức, điều khiển
hoạt động tri giác của học sinh, từ đó mà giúp các em tiếp nhận kiến thức mới được
rút ra từ ngữ liệu một cách dễ dàng, hiệu qủa.
2.1.2- Chú ý:
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
21
LuËn v¨n tèt nghiÖp
Đặc điểm cơ bản của sự chú ý của học sinh tiểu học là chú ý không chủ
định, khả năng điều khiển chú ý còn hạn chế. Sự chú ý của học sinh tiểu học vẫn
còn gắn với một động cơ ngắn chẳng hạn: Siêng phát biểu để được cô giáo khen,
được điểm 10 để bố mẹ thưởng ...Đặc điểm chú ý ở lứa tuổi này chưa bền vững
do quá trình ức chế còn yếu. Vì vậy mà đối với học sinh tiểu học các em không
thể tập trung chú ý lâu vào công việc mà rất dễ bị phân tán. Ví dụ đang ngồi học
mà nghe tiếng máy bay hoặc thấy người đi ngoài cửa thì các em sẽ không chú ý
học nữa...
Sức chú ý tốt nhất (tập trung) của học sinh tiểu học chỉ kéo dài trong một
thời gian nhất định. Đối với học sinh lớp 1, 2, 3 là 20÷25 phút. Đối với học sinh
lớp 4 - 5 là 30÷35 phút. Vì vậy trong quá trình dạy học ở tiểu học nói chung và
quá trình dạy học môn Tiếng Việt nói riêng cần đa dạng hoá các phương pháp
dạy học và luân phiên chúng một cách hợp lý theo hướng kích thích khả năng
tự học và hợp tác trong môi trường sư phạm thuận lợi nhằm duy trì sự chú ý
và hứng thú học tập của học sinh.
Để việc học tập của học sinh đạt kết quả tốt đòi hỏi bản thân các em phải
thường xuyên được rèn luyện chú ý có chủ định. Để làm được điều này thì trong
quá trình dạy học giáo viên cần tổ chức, điều khiển sự chú ý của của các em một
cách tự giác sao cho trẻ tập trung hoạt động, học tập không chỉ vì cái các em
thích mà còn vì cả những cái các em không thích.
2.1.3- Trí nhớ:
Ở học sinh tiểu học phát triển cả trí nhớ có chủ định lầm trí nhớ không
chủ định. Riêng ở các lớp cuối cấp trí nhớ có chủ định phát triển mạnh hơn. Tuy
nhiên việc ghi nhớ không chủ định vẫn đóng vai trò quan trọng. (Các em chỉ dễ
nhớ và nhớ lâu, nhớ nhanh những gì mình thích, những gì gây ấn tượng, cảm
xúc mạnh mẽ). Các em thường có khuynh hướng học thuộc tài liệu theo đúng
từng câu, từng chữ. ở giai đoạn này giáo viên cần hướng dẫn cho các em ghi nhớ
một cách hợp lý, tránh học vẹt để tăng hiệu quả ghi nhớ.
Trí nhớ có chủ định dần phát triển ở các lớp trên, năng lực ghi nhớ tăng
dần, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định phụ thuộc vào mức độ hoạt động trí
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
22
LuËn v¨n tèt nghiÖp
tuệ. Vì vậy trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt cần tăng cường tổ chức cho
học sinh hoạt động học tập thông qua giao lưu, trao đổi với bạn, với thầy để các
em nắm kiến thức một cách chủ động và vững chắc bởi nghe chỉ nhớ, nhìn chỉ biết
và làm mới hiểu.
2.1.4- Tư duy:
Tư duy của học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh đầu cấp còn mang tính
trực quan, cụ thể hoạt động phân tích, tổng hợp còn mang nhiều dấu vết của tư
duy trẻ mẫu giáo như khi đọc bài các em hay đọc to, lên lớp 3 - 4 trẻ có thể đọc
bài mà không cần đọc to thành tiếng. Trong hoạt động khái quát hoá học sinh
lớp 1, 2 thường căn cứ vào dấu hiệu bên ngoài cụ thể: trực quan để phân loại và
khái quát. Học sinh lớp 4, 5 tư duy trừu tượng phát triển hơn, trẻ đã biết căn cứ
vào các dấu hiệu bản chất bên trong, những dấu hiệu chung của hàng loạt sự vật,
hiện tượng để khái quát thành khái niệm, quy luật. Ví dụ: Trẻ lớp 1, 2 khi định
nghĩa từ "dũng cảm" các em thường cho rằng dũng cảm là nhảy xuống sông cứu
bạn. Nhưng đối với học sinh lớp 4, 5 thì dũng cảm theo các em là không sợ khó
khăn, nguy hiểm, sẵn sàng hoàn thành công việc. Từ đặc điểm trên ta thấy đối
với học sinh tiểu học dạy học Tiếng Việt cần dựa trên cơ sở những yếu tố trực
quan bao gồm trực quan lời nói và trực quan vật thật, tăng cường tổ chức
cho học sinh học tập theo nhóm để các em chiếm lĩnh kiến thức bằng năng
lực của bản thân.
2.2 - Đặc điểm nhân cách:
2.2.1- Tình cảm:
Đối với học sinh tiểu học tình cảm có vai trò đặc biệt vì nó là khâu trọng
yếu gắn liền với nhận thức và hoạt động của các em. Đối tượng gây cảm xúc cho
học sinh tiểu học thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể, sinh động vì ở các
em hệ thống tín hiệu 1 vẫn còn chiếm ưu thế. Do đó những bài giảng khô khan,
khó hiểu, nặng về lý luận thường gây cho các em sự mệt mỏi, chán trường. Nói
chung, hoạt động trí tuệ của các em đượm màu cảm xúc các em suy nghĩ bằng
hình thức "xúc cảm", "âm thanh"; các quá trình nhận thức của các em đều chịu
sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc, đều đượm màu sắc cảm xúc. Tình cảm của
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
23
LuËn v¨n tèt nghiÖp
các em chưa bền vững, chưa sâu sắc, các em đang ưa thích đối tượng này nhưng
lại dễ dàng bị lôi cuốn vào một đối tượng khác hấp dẫn hơn và quên mất đối
tượng cũ. Vì vậy trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt có thể khơi dậy ở các
em xúc cảm học tập thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập cá nhân,
nhóm phong phú, đa dạng thông qua đó phát huy tính tích cực, sáng tạo trong
nhận thức của các em, nâng cao hiệu quả dạy học.
2.2.2- Tính cách:
Học sinh tiểu học thường dễ bị kích động bởi những kích thích bên trong
và bên ngoài. Do vậy các em thường có những hành động bột phát, các em ở lứa
tuổi này thường hồn nhiên trong mối quan hệ với người lớn, với thầy cô, bạn bè.
Chính vì vậy các em tin vào sách vở, tin vào người lớn, bạn bè, tin vào năng lực
bản thân, nhưng niềm tin đó chưa có lý trí soi sáng. Trong quá trình dạy học
tiếng Việt cần tạo điều kiện cho học sinh có nhu cầu trao đổi hiểu biết của mình
cho người khác và lĩnh hội những hiểu biết của người khác.
2.2.3- Hứng thú:
Vì học sinh tiểu học có hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo nên hứng
thú học tập dần dần chiếm ưu thế hơn so với hứng thú vui với. Muốn cho việc
dạy học Tiếng Việt nói riêng và dạy học các môn học khác nói chung đạt hiệu
quả thì việc gây hứng thú học tập cho học sinh trong từng tiết học, môn học là
việc làm quan trọng bởi "Ở học sinh tiểu học hứng thú học có liên quan chặt chẽ
tới thành tích học tập. Chúng mang lại cho học sinh niềm vui, sự thoả mãn. Điều
đó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập đạt kết quả cao" (Vũ Thị Nho)
(2)
.Một trong
những biện pháp gây hứng thú học tập cho học sinh tiểu học có hiệu quả là xây
dựng bầu không khí học tập có tính cạnh tranh lành mạnh.
2.2.4- Tự đánh giá và đánh giá:
Ở học sinh tiểu học việc đánh giá còn nặng về cảm tính chứ chưa đi sâu
vào tiêu chuẩn hiện thực. Với các em thầy cô giáo là thần tượng, lời thầy cô là
chân lý, việc làm của thầy cô là chuẩn mực. Vì vậy trong quá trình dạy học cần
giúp các em biết đánh giá và tự đánh giá là hết sức quan trọng bởi nó sẽ là sức
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
24
LuËn v¨n tèt nghiÖp
mạnh tinh thần để giúp các em cố gắng tự mình vượt lên mọi khó khăn trong
học tập và cuộc sống.
2.3 - Hoạt động ngôn ngữ:
Ngôn ngữ ở học sinh tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và
từ ngữ. Đây là điều kiện cần thiết để các em học tập môn Tiếng Việt có hiệu
quả. Học sinh ở các lớp 4 - 5 đã nắm được ngữ âm song hiện tượng phát âm sai
vẫn còn tồn tại, phổ biến ở các lớp 1, 2. Khi đi học các em đã nắm được hình
thức mới của hoạt động ngôn ngữ là ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và một số quy
tắc cơ bản khi nói và viết. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng các em vẫn còn nói
- viết sai ngữ pháp, vốn từ ngữ của học sinh tiểu học sẽ phong phú, chính xác và
giàu hình ảnh hơn nếu các em được tham gia nhiều hoạt động, tiếp xúc rộng rãi
với nhiều người xung quanh và được tiếp thu tri thức thông qua các môn học
khác.
* Tóm lại từ nghiên cứu về những đặc điểm tâm lý trên của học sinh tiểu
học cho thấy học sinh tiểu học hoàn toàn có khả năng thực hiện được những
hoạt động học tập do giáo viên đưa ra trong quá trình sử dụng phương pháp
sư phạm tương tác để dạy học Tiếng Việt. Đây cũng là một trong những nhân
tố quan trọng đảm bảo cho sự thành công của nhà giáo dục trong việc sử dụng
phương pháp sư phạm tương tác. Hiệu quả của công việc sử dụng phương
pháp này trong dạy học Tiếng Việt có sự đóng góp rất lớn của việc hiểu đúng
đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học.
3. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC:
3.1. Chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu dạy học Tiếng Việt ở tiểu học:
Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học xác định một trong những mục tiêu
quan trọng của dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học là dạy cho học sinh các kỹ năng
giao tiếp như đọc với nghe, viết. Chương trình này được cụ thể hoá bằng bộ
sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học (165 tuần). Bộ sách này thể hiện cố
gắng lớn của người soạn sách trong việc thực hiện mục tiêu trang bị các kiến
thức Tiếng Việt và phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh
Phan ThÞ Thanh Hång -41A2 - GDTH
25