MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRONG VIỆC DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH


MỘT SỐ BIỆN PHÁP
TRONG VIỆC DUY TRÌ SỈ SỐ HỌC
SINH

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
uất phát từ thực tế, hiện tượng học sinh bỏ học có thể được xem là
một vấn đề bức xúc nhất của Huyện Ba tri nói chung và xã Vĩnh hoà nói
riêng, mặc dù trong mấy năm qua, việc phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ
tuổi, PC THCS của xã đã đạt và phát triển mạnh, nhưng thường khi đến mùa
vụ thu hoạch thì học sinh lại bỏ học để phụ giúp gia đình, hoặc theo làm ở các
cơ sở chế biến, hoặc gần tới tết nguyên đán thì theo gia đình lên Thành Phố
buôn bán………. Đây là một công việc rất khó khăn đối với những người làm
công tác phổ cập giáo dục. Dưới góc độ làm công tac phổ cập như chúng tôi
( Thượng Phương Anh phụ trách trung học cơ sở, Phạm văn Thạnh phụ trách
tiểu học) quản lý một xã, tôi thấy mình cần phải làm gì, làm thế nào để hạn
chế việc bỏ học của học sinh, nhằm làm giảm nhẹ gánh nặng cho xã hội và
cùng góp phần giữ vững danh hiệu xã văn hoá. . .Và đó cũng chính là vấn đề
thúc đẩy tôi đến với đề tài nầy .
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ :
Nhìn chung, hầu hết tất cả học sinh trường THCS Vĩnh Hoà đều có thái độ
học tập đúng đắn, đạo đức tác phong tốt, có tinh thần cầu tiến, chuyên cần,
ham học hỏi.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh chưa xác định đúng
đắn động cơ học tập như :
- Ham chơi hơn ham học dễ dẫn đến nguy cơ học kém, bỏ học. Đồng thời
vẫn còn một số hộ gia đình ít đất canh tác, còn thiếu thốn về kinh tế nên cho
con em nghỉ học khi vào mùa vụ để đi làm thuê, buôn bán ở các tỉnh
thành, . . .
- Cha mẹ lơ là trong việc quản lý, đôn đốc, nhắc nhở con em mình
trong vấn đề học tập, điều này cũng tạo cho nguy cơ bỏ học của học sinh tăng
cao.
Công tác chủ nhiệm của giáo viên cũng là một vấn đề cần phải sớm
chấn chỉnh :
- Giáo viên chỉ biết lý do học sinh bỏ học, nhưng bản thân họ chưa
biết cách nào để giúp các em có điều kiện trở lại lớp, như đến gia đình cùng
phụ huynh tìm cách tháo gỡ; tham mưu Ban Giám hiệu, Hội Cha mẹ học sinh .
. . để kịp thời giúp đỡ cũng như vận động các em trở lại lớp.
- Vào đầu năm học, giáo viên chưa nắm chắc được đối tượng học sinh có
nguy cơ bỏ học để kịp thời có biện pháp ngăn chặn. Mặt khác, chính đối tượng
này thường có học lưc yếu nên thường xuyên bị thầy cô la rầy,vô tình giáo
viên tạo khoảng cách với các em ngày một lớn hơn, và khi các em đã bỏ học
thì rất khó vận động trở lại.
Vậy vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải làm gì để hạn chế, ngăn chặn
nguy cơ bỏ học của học sinh trong suốt năm học?
Dưới đây là một số biện pháp tôi đã áp dụng qua thực tiễn và thu được
một số kết quả nhất định như sau ( xin lấy số liệu năm học 2007 – 2008 để dẫn
chứng ):
II/. PHÂN LOẠI HỌC SINH :
Đầu năm học 2007 -2008 trường có 13 lớp với 455 học sinh.
Vào những ngày đầu năm học, bên cạnh việc phân loại học sinh về mặt
học lực, tôi còn tiến hành cho phân loại học sinh về mặt chuyên cần, dựa theo
số ngày nghỉ của học sinh ở năm học trước, đồng thời tiếp xúc với gia đình
2
học sinh, nhằm phân loại học sinh thành những nhóm khác nhau, như : nhóm
“không có nguy cơ bỏ học” và nhóm “có nguy cơ bỏ học”.
Đối với nhóm học sinh “có nguy cơ bỏ học” tôi chia ra thành các dạng
sau :
Dạng 1 :
Học kém, hỏng kiến thức, nhóm nầy có 25 học sinh, chiếm tỉ lệ
5,4%,trong đó ở ấp Bến Vựa có 10 em, ấp Bảo Hoà có 6 em, ấp Vĩnh Đức
Đông có 9 em.
Dạng 2 :
Ham chơi thường hay trốn học , gia đình quản lý không chặt chẽ, nhóm
nầy có 4 học sinh , chiếm tỉ lệ 0,87% trong đó ở Bảo Hoà có 02 em, Vĩnh Đức
Đông có 02 em.
Dạng 3 :
Gồm những học sinh có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt như : gia đình
nghèo, cha ghẻ, mồ côi, nhóm nầy gồm có 12 học sinh ,chiếm tỉ lệ 2,6 %
trong đó ở Bến Vựa có 06 em, Bảo Hoà có 04 em, Vĩnh Đức Đông có 02 em.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Sau khi đã phân chia nhóm, tôi tiến hành các biện pháp khác nhau để
hạn chế học sinh bỏ học như sau :
* ĐỐI VỚI DẠNG I
Đối với các em học sinh ở dạng nầy do hỏng kiến thức cơ bản của
những năm học trước nên việc tiếp thu kiến thức mới bị hạn chế, chưa thật sự
cố gắng trong học tập, chưa có phương pháp học tập đúng đắn, dẫn đến tình
trạng yếu kém về kiến thức, từ đó dễ có tư tưởng bỏ học. Đối với những học
sinh nầy tôi tiến hành các biện pháp như sau :
1/-Phân tích cho các em hiểu tầm quan trọng của việc học. ( Giáo viên nói,
giảng cho các em biết tình hình kinh tế, xã hội hiện nay chỉ có những con
người có trình độ, có kiến thức khoa học, có đạo đức mới có thể đảm bảo
được đời sống và con người đó mới có ích cho xã hội…)
2/-Củng cố, hệ thống hóa lại các kiến thức cơ bản mà các em đã hỏng .(Về
vấn đề nầy, đầu năm Ban giám hiệu chỉ đạo giáo viên lập ra danh sách các em
học sinh yếu kém ở 3 môn Văn, Toán, Tiếng Anh–qua kiểm tra chất lượng
đầu năm- để phụ đạo – mỗi tuần 3 tiết và có kế hoạch giảng dạy hợp lý cho
đối tượng này).
3/-Hướng dẫn các em có phương pháp học tập đúng đắn, tổ chức các
nhóm học tập, đôi bạn học tập, phân công các bạn giỏi kèm cặp.( Đây là một
vấn đề rất khó khăn, cần có sự kiên trì của giáo viên phụ trách lớp vừa động
viên các em học yếu , vừa thuyết phục các em học khá giỏi để giúp đỡ nhau ,
3
cùng nhau tiến bộ.Các em nầy phải đến lớp sớm 15 phút để được kiểm tra bài
đầu giờ ).
4/-Giáo viên bộ môn phải thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm
để báo tình hình kết quả học tập của các em để giáo viên chủ nhiệm báo về
phụ huynh học sinh nắm bắt kịp thời nhằm động viên, nhắc nhở con em mình
trong học tập.( Giáo viên chủ nhiệm có ghi số điện thoại gia đình các em hoặc
số điện thoại ở gần nhà các em đó trong sổ điểm lớn để tiện liên lạc và theo
dõi – nhanh, thường xuyên).
5/- Kịp thời thông báo với phụ huynh học sinh những biểu hiện lơ là như
đi học trễ, nghỉ học (có phép cũng như không phép ), nhằm nâng cao tối đa tỉ
lệ chuyên cần của các em và cũng từ đó nhằm giảm tối đa nguy cơ bỏ học của
các em.
Đối với những em học sinh ở dạng nầy, chủ yếu giáo viên chủ nhiệm
phải tìm mọi cách để củng cố, nâng cao kiến thức của các em, giúp các em
đuổi kịp với các bạn và vượt lên trong học tập. Từ đó, tạo cho các em lòng
mong muốn chiếm lĩnh tri thức, hăng say trong học tập, nhằm loại bỏ hẳn suy
nghĩ bỏ học (nếu có) trong tư tưởng của các em.
* ĐỐI VỚI DẠNG II .
Đối với các em học sinh ở dạng nầy có thể học lực từ trung bình trở
lên nhưng ham chơi thường trốn học, đồng thời gia đình quản lí không chặt
chẽ. Những học sinh thuộc dạng nầy thường có những thái độ bất cần, ít nghe
lời thầy cô, vô phép, trong lớp ít chú ý nghe giảng, bài học học không được kỹ
lắm và ít khi làm bài đầy đủ, từ đó mất phương hướng trong học tập dẫn đến
nguy cơ bỏ học. Đối với những học sinh nầy tôi tiến hành các biện pháp như
sau :
1/- Giáo viên gặp riêng các em thường xuyên, trao đổi nhỏ to tâm sự, phân
tích cho các em hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, nâng cao trí tuệ
cũng như trong phát triển nhân cách và tùy từng tình huống mà dùng biện
pháp nhẹ nhàng hay nghiêm khắc.
2/- Quản lý chặt chẽ các em trong suốt buổi học, về vấn đề nầy giáo viên
phụ trách cũng phải thường xuyên hỏi han các giáo viên có giảng dạy các bộ
môn lớp mình.
3/- Kết hợp với phụ huynh của các em, cách ly các học sinh nầy với những
bạn xấu, đề nghị phụ huynh học sinh quản lý chặt chẽ các em ở nhà. Riêng
ở lớp, giáo viên chủ nhiệm xếp cho các em ngồi đầu bàn (nơi giáo viên dễ
quan sát ) cùng nhóm với những những em học sinh ngoan, học khá giỏi.
4/-Kết hợp với các tổ chức giáo dục trong nhà trường như tổ chức Đoàn,
Đội, tổ chức các buổi sinh hoạt vui chơi lành mạnh để hướng các em vào các
4
hoạt động bổ ích. (Với nam, giáo viên giới thiệu các em vào đội bóng đá mi ni
của trường để các em được vui, khỏe trong học tập.Với nữ, cho các em vào
đội văn nghệ của lớp…)
5/- Giao cho các em một số công việc nhất định trong lớp và theo dõi đôn
đốc các em hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ở đây, giáo viên phụ trách giao
cho các em làm tổ phó của các tổ, xem về việc giữ trật tự trong giờ học, vệ
sinh của tổ…
6/- Đề nghị với phụ huynh các em( nếu có thể được) vì một lý do nào đó
mà con em mình nghỉ học thì phải trực tiếp xin phép hoặc điện thoại với giáo
viên phụ trách, hạn chế việc viết đơn xin phép nghỉ học của con em, nếu có
phải có chữ ký của cha mẹ học sinh.
Đối với những em học sinh ở dạng nầy ngoài việc kết hợp với phụ
huynh học sinh với các tổ chức giáo dục trong nhà trường nhằm giáo dục để
phát triển nhân cách cho các em. Giáo viên phụ trách cần phải nâng cao chất
lượng học tập của các em như đối với các em học sinh ở dạng một, từ đó điều
chỉnh những hành vi, thái độ không phù hợp, giúp các em hòa đồng với các
bạn và nhận thấy tầm quan trọng của việc học, có như thế mới giảm thiểu
được nguy cơ bỏ học của các em.
* ĐỐI VỚI DẠNG III:
Những em học sinh ở dạng nầy vì hoàn cảnh gia đình nghèo, đang
gặp khó khăn cần phải phụ giúp gia đình nên ít có điều kiện trong học tập, các
em không yên tâm trong học tập, thường nghỉ học để phụ giúp gia đình hoặc
giữ nhà,trông em, nếu giáo viên phụ trách không tạo điều kiện giúp đỡ thì
nguy cơ bỏ học sẽ dễ đến đối với các em. Đối với những em học sinh ở dạng
nầy tôi tiến hành các biện pháp như sau :
1/-Giáo viên liên hệ và hướng dẫn gia đình điều kiện để được miễn các
khoản đóng góp về học phí, cơ sở vật chất,.. . .. Đây là việc làm ở đầu năm
học, giáo viên phải khẩn trương xem xét tỉ mỉ, chu đáo.
2/- Liên hệ với tổ chức Đoàn, Đội, Hội khuyến học xã Vĩnh Hoà, hội phụ
nữ xã, Hội bệnh nhân nghèo và người tàn tật Huyện Ba Tri, các mạnh thường
quân trong và ngoài xã . . . . giúp đỡ các em về vật chất như viết, tập, cặp,
tiền , . . . trong năm học 2006 – 2007 đã nhận được viết, cặp, vở, sách,
tiền . . .. tổng trị giá 89.547.000đ ( Tám mươi chín triệu năm trăm bốn mươi
bảy nghìn đồng ). Tổng phụ trách đội đã động viên các đội viên của trường
tặng sách cũ, giấy vụn, dụng cụ học tập . . .
3/-Giáo viên liên hệ với thư viện trường cho các em mượn sách . Giáo
viên phụ trách lập danh sách gửi cho cán bộ thư viện trường những ngày đầu
năm học, và các em đã mượn được đầy đủ tất cả sách giáo khoa .
5