quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia
đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội. Mỗi gia đình được
xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi
dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng. Nhận định
được vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng quan
tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc qua việc ban hành, hoàn
thiện các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình cho phù
hợp với sự phát triển của xã hội. Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống
tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau, không thể không quan tâm tới đời sống vật
chất. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một
trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng
những nhu cầu về vật chất, tinh thần cho gia đình. Bản chất của quan hệ hôn
nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất
định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá do đó đã làm nảy
sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà quyền sở hữu tài sản
của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia
đình.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, các quy định của pháp luật hiện
nay nói chung và Luật hôn nhân và gia đình nói riêng ở nước ta ngày càng được
hoàn thiện, đáp ứng được đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa. Các quy định đó
từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điều chỉnh, củng cố chế độ
hôn nhân và gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được
thì việc áp dụng quy định của pháp luật vào thực tiễn không tránh khỏi những
vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản
ở các cấp Tòa án. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề quyền sở hữu tài sản của vợ
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
chồng ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo
cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống.
Với mong muốn góp phần vào việc làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn của
quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số vấn đề
về pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện
nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Tài sản của vợ chồng là vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều
người, nên đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học thể hiện qua các bài viết
được đăng trên các tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và pháp luật, tạp chí Tòa
án nhân dân...hay trong các khóa luận tốt nghiệp cử nhân, luận văn thạc sỹ, tiến
sỹ luật học. Gần đây nhất là công trình khoa học “Chế độ tài sản vợ chồng theo
luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” được thầy giáo Nguyễn Văn Cừ bảo vệ
thành công luận án tiến sĩ vào đầu năm 2005. Đây thực sự là những công trình
có giá trị về khoa học và thực tiễn. Mặc dù đây là vấn đề đã được nghiên cứu
nhiều, song liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ chồng luôn phát sinh
những khó khăn phức tạp trong quá trình giải quyết, và những khó khăn đó
không phải có tính chất tương tự nhau giữa các thời kỳ, mà cùng với sự phát
triển của nền kinh tế, những quan hệ liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng
biến động không ngừng và không phải quan hệ nào cũng được pháp luật dự liệu.
Do dó, nghiên cứu quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay vẫn
là một nhu cầu.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về tài
sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng theo pháp luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam hiện hành. Đồng thời qua thực tiễn áp dụng Luật, phát hiện
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
những bất cập và đưa ra những kiến nghị nhằm bổ sung hoàn thiện các quy định
của pháp luật trong lĩnh vực này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khóa luận dựa trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Để đạt được mục đích nghiên cứu tác giả có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
như: phân tích, tổng hợp, so sánh…
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận còn
có phần nội dung được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền sở hữu tài sản của vợ
chồng
Chương 2: Một số vấn đề về pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của
vợ chồng ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền
sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay

Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm tài sản và quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm tài sản
Theo Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS năm
2005): “ tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Trong đó:
- Vật được hiểu là cái có hình khối, tồn tại trong không gian, có thể nhận
biết được.
Vật có thực chính là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao
gồm cả động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng,
khí). Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, vật là bộ phận của thế giới vật chất
(như đất đai, sông ngòi...), có thể đáp ứng được nhu cầu nào đó của con người
(như sản xuất, tiêu dùng và có thể đưa vào làm đối tượng của quan hệ dân sự).
Tuy nhiên, không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là
vật. Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là
vật nhưng ở dạng khác lại không được được coi là vật. Ví dụ: không khí trong tự
nhiên, nước sông, nước biển... không được coi là vật nhưng nếu đóng vào bình
nước hay được làm nóng, làm lạnh... lại được coi là vật [18, tr193].
Bên cạnh đó, vật có thực còn bao gồm cả những vật (hay tài sản) chắc
chắn sẽ có và Điều 175 BLDS năm 2005 đã xác định loại tài sản này là hoa lợi,
lợi tức- đây chính là sự gia tăng của tài sản trong những điều kiện nhất định.
Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng được nhu cầu của con người, vật có thực
với tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng
giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự.
- Tiền là vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy, do Ngân hàng nhà
nước phát hành, dùng làm đơn vị tiền tệ. Tiền đại diện cho giá trị thực của hàng
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
hóa và phương tiện lưu thông trong giao lưu dân sự, có tư cách đại diện cho chủ
quyền của mỗi quốc gia, mỗi chế độ nhà nước.
- Giấy tờ có giá là giấy tờ có giá trị tương đương như tiền mà các
chủ thể dùng để thanh toán trong giao dịch dân sự.
Ví dụ: Thẻ tín dụng, sổ tiết kiệm, trái phiếu, cổ phiếu... mà trong đó có xác định
rõ giá trị của nó tương đương với một khoản tiền nhất định.
- Quyền tài sản: Theo Điều 181 BLDS năm 2005, quyền tài sản là quyền
trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự kể cả quyền
sở hữu trí tuệ.
Ví dụ: Quyền đòi nợ, quyền hưởng nhuận bút của tác giả văn học nghệ thuật,
quyền sử dụng đất hợp pháp...
Như vậy, tài sản là vật, lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ thể.
1.1.2. Khái niệm quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, tài sản của vợ chồng có thể được hiểu
là vật và những lợi ích vật chất khác thuộc quyền của vợ chồng, bao gồm vật có
thực, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Tuy nhiên, nếu hiểu theo khái niệm này, thì tài sản của vợ chồng mới chỉ
nhắc tới tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng mà không bao gồm tài sản nợ
thuộc nghĩa vụ của vợ chồng [22, tr7]. Vì khi tham gia vào các quan hệ dân sự,
họ có thể xác lập các quyền về tài sản, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm về
các nghĩa vụ tài sản phát sinh. Đó có thể là nghĩa vụ chung hoặc nghĩa vụ riêng
của một bên vợ chồng. Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản được bảo đảm bằng tài
sản chung hay bằng tài sản riêng là một vấn đề còn phát sinh nhiều tranh chấp
trong thực tế.
Do đó, tài sản của vợ chồng là vật và những lợi ích vật chất khác thuộc
quyền sở hữu của vợ chồng (bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản) và những tài sản nợ thuộc nghĩa vụ tài sản của vợ chồng.
Pháp luật hôn nhân gia đình quy định về tài sản của vợ chồng nhằm cụ thể
hóa quy định quyền sở hữu tài sản trong BLDS và chế độ tài sản của vợ chồng
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
trong Luật hôn nhân gia đình năm 2000, phù hợp với sự vận động, phát triển của
gia đình, trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Quyền sở hữu tài sản có thể hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng: Quyền
sở hữu tài sản là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại
Điều 163 BLDS. Hoặc theo nghĩa hẹp: Quyền sở hữu tài sản là mức độ xử sự
mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt trong những điều kiện nhất định [18, tr178].
Tóm lại: Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập
tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng,
nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng.
Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ khi
nó được xác lập trên cơ sở những căn cứ do pháp luật quy định nhằm mục đích
xác định tính hợp pháp, hình thức sở hữu tài sản do vợ chồng có được trước khi
kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân, tạo cơ sở xây dựng quy chế pháp lý bảo đảm
việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của vợ chồng.
Việc pháp luật quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng tạo cơ sở pháp
lý để vợ chồng thực hiện quyền dân chủ và bình đẳng trong các quan hệ về tài
sản, tạo điều kiện khuyến khích vợ chồng có trách nhiệm đối với cuộc sống của
gia đình mình, đồng thời giúp họ thực hiện tốt vai trò của một thành viên trong
xã hội.
Quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là cơ sở để phân định quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc tham gia các giao dịch về tài sản, đồng thời
xác định rõ trách nhiệm và khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài sản của vợ
chồng trong các giao dịch đó. Bên cạnh đó, góp phần nâng cao ý thức trách
nhiệm của mỗi bên khi tham gia các giao lưu dân sự với người thứ ba.
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
Ví dụ: A và B ký kết hợp đồng mua bán nhà ở, nếu B biết ngôi nhà này là
tài sản chung của A và vợ là C, thì B sẽ xác định được việc mua bán ngôi nhà đó
cần phải có sự đồng ý của C, nếu không có sự đồng ý của C thì hợp đồng mua
bán nhà sẽ vô hiệu và ảnh hưởng đến quyền lợi của cả hai bên. Như vậy, trong
trường hợp này căn cứ vào quy định của pháp luật có thể xác định vợ chồng A,
C bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với ngôi nhà trên nên
khi tham gia xác lập các giao dịch liên quan đến ngôi nhà đó càn phải có sự
đồng ý của cả hai vợ chồng.
Việc quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng còn có ý nghĩa là cơ sở
pháp lý giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau hoặc với
người khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng hay người thứ
ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Ví dụ: Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn, khi một bên
vợ chồng chết trước cần phải chia tài sản chung hoặc giải quyết các món nợ của
vợ chồng đối với những người khác.
Như vậy, pháp luật quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo
điều kiện để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản trong suốt thời
kỳ hôn nhân, góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại.
1.2. Đăng ký tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng
Đăng ký quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là công nhận và chứng thực
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tài sản nhằm xác định về mặt pháp
lý tài sản đó thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng.
Đây được coi là một trong những biện pháp công khai các quyền về tài sản bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu đối với tài sản đó. Do đó, Điều 167 BLDS
năm 2005 quy định: quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy
định pháp luật, quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký trừ trường
pháp luật có quy định khác. Trên cơ sở này, khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân và
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
gia đình năm 2000 quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của
vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng
nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng. Đây là một trong những quy
định mới của Luật hôn nhân và gia đình 2000 liên quan đến quyền sở hữu của
vợ chồng đối với tài sản chung và những tài sản thuộc tài sản chung của vợ
chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả hai vợ chồng gồm: nhà ở,
quyền sử dụng đất là các loại tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền
sở hữu (khoản 1 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của chính phủ ngày 03
tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000
(sau đây viết tắt là Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)
+ Nhà ở, quyền sử dụng đất là các loại tài sản có tính đặc thù. Theo Điều
12 Luật nhà ở 2005: nếu nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì trong giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải ghi đủ tên của cả vợ chồng, trong trường
hợp một bên vợ hoặc chồng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam
theo quy định của pháp luật thì chỉ ghi tên người có quyền sở hữu nhà ở tại Việt
Nam”.
Điều 48 Luật đất đai 2003 quy định: “khi cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mà quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì giấy chứng
nhận quyền sử dụng phải ghi cả họ tên vợ, họ tên chồng”.
+ Tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu như:
phương tiện giao thông vân tải (ô tô, xe máy, tàu thuyền...), quyền sở hữu trí
tuệ...
Như vậy, BLDS và các luật chuyên ngành đã quy định rõ về đăng ký
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản để xác định chủ sở hữu hay chủ sử
dụng tài sản. Tài sản chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký
quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả hai vợ
chồng. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều trường hợp có những tài sản là tài sản
chung của vợ chồng nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu hay quyền sử
dụng chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng. Việc xác định quyền và nghĩa vụ
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
của các bên vợ, chồng đối với tài sản chung còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là
khi cần chia tài sản chung của vợ chồng. Tình trạng này xuất phát từ nhiều lý do:
- Trước ngày Nghị định số 70/2001/NĐ-CP có hiệu lực thì chưa có văn
bản pháp luật quy định rõ đối với đăng ký quyền sở hữu tài sản vợ chồng về việc
ghi tên chủ hộ hay cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Đối với những tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất: theo luật đất đai
2003, người đăng ký quyền sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất phải có hộ
khẩu thường trú tại nơi có bất động sản. Dẫn đến thực tế, nhiều trường hợp một
bên vợ, chồng không có hộ khẩu thường trú tại nơi có bất động sản nên khi đăng
ký quyền sở hữu, quyền sử dụng chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng. Có trường
hợp vợ hoặc chồng là người nước ngoài không thuộc diện được sở hữu nhà hoặc
không thuộc diện được nhà nước giao đất thì dù nhà ở, quyền sử dụng đất là tài
sản chung của vợ chồng nhưng khi đăng ký vẫn chỉ ghi tên một bên vợ hoặc
chồng. Đối với phương tiện giao thông, thủ tục đăng ký khá phức tạp và liên
quan đến nhiều cơ quan nhà nước gây khó khăn cho việc đăng ký. Đối với tài
sản là quyền sở hữu trí tuệ, thì tài sản đó chỉ do một bên vợ hoặc chồng sáng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân nên theo quy định của pháp luật khi đăng ký chỉ ghi
tên vợ hoặc chồng sáng tạo ra tài sản đó.
- Chưa thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của giấy chứng nhận quyền
sở hữu tài sản đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của vợ chồng [25, tr22].
Xuất phát từ thực tế trên, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, và Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23
tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và
gia đình 2000 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP) đã có
hướng dẫn cụ thể:
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên trong trường hợp tài sản
chung do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải
đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu thường chỉ
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của
vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng
nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do thừa kế riêng, được
tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản có được từ nguồn tài sản riêng.
Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài
sản riêng thì đó là tài sản chung của vợ chồng (điểm 3b Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP).
Hiện nay, có ý kiến cho rằng áp dụng nguyên tắc suy đoán để giải quyết
trình trường hợp này không thỏa đáng, cả hai bên đều phải có nghĩa vụ chứng
minh. Thực hiện theo quan điểm này có thể bảo vệ được quyền lợi ích đúng đắn
của cả hai bên, tuy nhiên trong một số trường hợp có thể là nguyên nhân dẫn đến
quá trình giải quyết tranh chấp kéo dài....Điều đó cũng đòi hỏi cần có sự linh
hoạt trong cách giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể.
Như vậy, các quy định hiện nay thể hiện: giấy chứng nhận quyền sở hữu
tài sản, giấy đăng ký tài sản hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ là loại
bằng chứng có giá trị pháp lý cao nhất trong việc chứng minh tài sản là tài sản
chung của vợ chồng hay tài sản riêng của một trong hai bên. Tuy nhiên, đến thời
điểm hiện nay, các quy định của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP vẫn chưa được
áp dung một cách đồng bộ và hiệu quả. Tức là, giấy chứng nhận quyền sở hữu
tài sản trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam không được xem là loại bằng chứng
có giá trị pháp lý cao nhất để chứng minh tài sản tranh chấp là tài sản chung hay
tài sản riêng của vợ, chồng. Do vậy, trong việc chứng minh nguồn gốc tài sản
bằng việc áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung, các thẩm phán chấp nhận
một cách rộng rãi tất cả các loại bằng chứng có thể có một cách hợp pháp

[21].
1.3. Khái quát về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
1.3.1. Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ
năm 1959
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 quy định: “vợ và chồng đều có quyền sở hữu, sử dụng và hưởng thụ ngang
nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”.
Như vậy, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, tài sản của vợ chồng
gồm tài sản sở hữu chung hợp nhất, không tồn tại tài sản thuộc sở hữu riêng của
vợ chồng. Vợ chồng có quyền bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài
sản chung và luôn có tỷ lệ giá trị tài sản ngang nhau trong khối tài sản chung
hợp nhất đó.
Bên cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 còn quy định hai
trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng. Đó là chia tài sản chung khi vợ
hoặc chồng chết trước và chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn.
Việc quy định quyền sở hữu tài sản vợ chồng theo quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 1959 là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh- tế xã hội
lúc bấy giờ, đặc biệt trong việc bảo vệ lợi ích chung của gia đình, giải phóng
phụ nữ thoát khỏi sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình nói chung và quan hệ
sở hữu nói riêng.
1.3.2. Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ
năm 1986
Sau gần ba mươi năm thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, đất
nước ta bắt đầu bước vào thời kì đổi mới, các quan hệ xã hội ngày càng phong
phú, đa dạng, đặc biệt là về mặt kinh tế. Để đảm bảo thực sự quyền tự định đoạt
của công dân, ngày 29 -12-1986 tại kỳ họp thứ 12 Quốc hội khóa VII đã thông
qua Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 gồm 10 chương 57 điều. Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986 quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng được
thực hiện theo chế độ tài sản pháp định, trong đó có quy định khác về căn bản
so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 (như: dự liệu trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, ghi nhận vợ chồng có quyền có tài
sản riêng...).
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
Các quan hệ liên quan đến tài sản của vợ chồng rất phức tạp, trong khi
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 vẫn mang tính khái quát cao và khó áp
dụng trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng...Tình hình đó
đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 một
cách đầy đủ, toàn diện. Do đó, trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 đã được ban hành và đây cũng chính là văn bản pháp luật
chính, chủ yếu điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện
nay.
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUYỀN
SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng
Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay được quy định
chủ yếu trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và một số văn bản hướng
dẫn áp dụng đó là: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP; Nghị định số
70/2001/NĐ-CP. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, quyền sở hữu tài sản của
vợ chồng được quy định theo chế độ cộng đồng tạo sản với nội dung: vừa quy
định chế độ tài sản chung của vợ chồng, vừa ghi nhận vợ chồng có tài sản riêng,
quy định căn cứ, nguồn gốc, phạm vi xác lập tài sản chung và tài sản riêng của
vợ chồng cùng với các quyền sở hữu của vợ chồng đối với các loại tài sản đó,
các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng.
2.1.1. Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
Để đảm bảo cuộc sống chung của vợ chồng khi quan hệ hôn nhân được
xác lập đòi hỏi cần phải có một khối tài sản đáp ứng thỏa mãn nhu cầu về tinh
thần, vật chất của vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng, nghĩa
vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái.
Kế thừa và phát triển Điều 14, Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm
1986, Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc
được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản
chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế
riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi
tên của cả hai vợ chồng.
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Theo đó, pháp luật đã dự liệu về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài
sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Đặc biệt, pháp luật quy định cả nguyên
tắc suy đoán để xác định những tài sản giữa vợ chồng đang có tranh chấp nhưng
không đủ cơ sở chứng minh là tài sản riêng của vợ chồng thì được coi là thuộc
khối tài sản chung của vợ chồng (khoản 3 Điều 27). Đây là quy định mới của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Như vậy, các căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
- Thời điểm phát sinh tài sản chung của vợ chồng
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khi quy định về tài sản chung của vợ
chồng dựa trên hai nguyên tắc: tài sản chung chỉ hình thành từ khi có sự kiện kết
hôn và sẽ không còn khi hôn nhân chấm dứt. Khi hôn nhân còn tồn tại về mặt
pháp lý, thì tính chất cộng đồng của hôn nhân cũng vẫn còn tồn tại. Tính chất
cộng đồng này dẫn đến vợ, chồng phải chung sức, chung lòng, chung ý chí trong
việc tạo lập khối tài sản chung. Do đó, những tài sản được xác lập trong “thời kỳ
hôn nhân” được xác định là tài sản chung của họ (trừ những tài sản mà pháp luật
quy định thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng).
Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ
ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân (khoản 7 Điều 8 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 ).
Như vậy, thời kỳ hôn nhân được tính từ khi hai bên nam nữ kết hôn, việc
kết hôn đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo thủ tục và các
điều kiện luật định.
Trên thực tế, các trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng mới chỉ
được gia đình tổ chức lễ cưới theo tập quán, mà chưa đăng ký kết hôn theo thủ
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
tục luật định (gọi là hôn nhân thực tế) vẫn còn xảy ra khá phổ biến. Theo Nghị
quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật
hôn nhân và gia đình 2000 thì những trường hợp nam nữ chung sống như vợ
chồng mà chưa đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987, khi Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 có hiệu lực, dù họ có đăng ký kết hôn với nhau hay không,
thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật công nhận và thời điểm xác lập
quan hệ hôn nhân được tính từ ngày họ chung sống với nhau như vợ chồng chứ
không phải từ ngày đăng ký kết hôn.
Ví dụ: Anh A và chị B chung sống như vợ chồng từ ngày 20/05/1986,
nhưng chưa đăng ký kết hôn. Trường hợp này, sau khi Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật, dù A và B có đăng ký kết hôn với nhau
hay không thì quan hệ hôn nhân của họ vẫn được pháp luật công nhận; quan hệ
hôn nhân của họ được xác lập từ ngày 20/5/1986.
Như vậy, thời kỳ hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn, hay ngày
xác lập quan hệ vợ chồng (áp dụng đối với hôn nhân thực tế) và về nguyên tắc,
tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ này đều là tài sản chung của vợ
chồng (trừ những tài riêng mà vợ chồng được tặng cho riêng hoặc được thừa kế
riêng).
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định, quan hệ hôn nhân chấm dứt khi có
những sự kiện pháp lý sau:
+ Khi vợ, chồng chết, hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ hoặc
chồng bị chết khi quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật.
+Trường hợp vợ chồng còn sống thì hôn nhân chấm dứt bằng ly hôn, tính
từ thời điểm phán quyết ly hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật [24, tr131].
Do đó, thời gian vợ chồng sống ly thân do có mâu thuẫn hay thời gian chờ
đợi giải quyết ly hôn, kể cả thời gian bản án hay quyết định của Tòa án về chấm
dứt hôn nhân chưa có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại trước
pháp luật. Những tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
gia đình năm 2000 phát sinh trong thời gian này về nguyên tắc được xác định là
tài sản chung của vợ chồng.
- Dựa vào nguồn gốc tài sản
+ Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng được xác lập dựa vào nguồn gốc tài
sản gồm các tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân: Đây là loại tài
sản phổ biến trong khối tài sản của vợ chồng. Sau khi kết hôn, quan hệ vợ chồng
được xác lập, vợ chồng cùng chung sức, đồng lòng trong việc tạo dựng tài sản
để nuôi sống gia đình, bảo đảm các nhu cầu của đời sống chung, đáp ứng nghĩa
vụ chăm sóc lẫn nhau, nuôi dưỡng và giáo dục các con. Tài sản do vợ chồng tạo
ra, có thể được hiểu là tài sản do cả hai vợ chồng hoặc do một bên vợ hoặc
chồng lao động trực tiếp bằng sức lao động của mình để tạo ra tài sản cho gia
đình (Ví dụ: đóng bàn ghế, giường tủ, xây dựng nhà ở...). Cũng có thể được hiểu
là vợ chồng sử dụng tiền bạc của mình thuê người khác trực tiếp tạo ra tài sản đó
hoặc mua sắm các tài sản đó, chuyển quyền sở hữu từ người khác sang quyền sở
hữu của vợ chồng (mua nhà ở, tivi, ô tô, xe máy ...) thì những tài sản đó cũng
được coi là tài sản do vợ chồng tạo ra.
+ Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những thu nhập hợp pháp của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (đây được coi là loại tài sản chủ yếu thuộc tài
sản chung của vợ chồng). Kế thừa Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986,
khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng là tài sản chung của vợ chồng.
Theo từ điển Tiếng Việt, thu nhập là: “nhận được tiền bạc, của cải vật
chất từ một hoạt động nào đó”, còn theo từ điển thuật ngữ về thuế thì thu nhập
là: “quyền lợi kinh tế, tiền hay giá trị nhận được”.
Như vậy có thể hiểu: thu nhập của vợ chồng là những lợi ích vật chất mà
vợ chồng có được do tham gia lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh như:
tiền công, tiền lương, thành quả lao động hay lợi nhuận do kinh doanh mang lại
cũng như các hoa lợi, lợi tức thu được từ các loại tài sản của vợ chồng trong quá
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
trình sản xuất kinh doanh. Đây được coi là loại thu nhập ổn định, cơ bản và chủ
yếu.
Ngoài ra, tài sản của vợ chồng còn bao gồm các thu nhập hợp pháp khác.
Theo điểm a mục 3 Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTP thì: Thu nhập hợp pháp
khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể hiểu là tiền thưởng, tiền trợ
cấp, tiền trúng thưởng xổ số, mà vợ, chồng có được hoặc tài sản mà vợ chồng
được xác lập quyền sở hữu theo quy định tại các Điều 233, 234, 235, 236, 237,
238, 239,240…BLDS năm 2005 trong thời kỳ hôn nhân.
Bên cạnh đó, hiện nay việc xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản
riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thuộc tài sản chung của vợ chồng
hay không là vấn đề phức tạp còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, do tính chất cộng đồng của quan hệ vợ
chồng cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng tài sản chung nhằm bảo đảm nhu
cầu đời sống chung của gia đình, cho nên một trong những đặc điểm của căn cứ
xác lập tài sản chung của vợ chồng là: Tài sản chung của vợ chồng không nhất
thiết phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra mà chỉ cần một bên vợ chồng
tạo ra được trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản
riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng được coi là tài sản chung của
vợ chồng.
+ Thứ ba, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản mà vợ chồng
được thừa kế chung, được tặng cho chung. Đây là trường hợp xác lập quyền sở
hữu chung hợp nhất của vợ chồng phụ thuộc vào sự định đoạt của chủ sở hữu
hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể được tặng cho chung tài sản
hoặc được hưởng thừa kế chung khối di sản, tức là trong hợp đồng tặng cho hay
trong di chúc của người chết tuyên bố tặng cho hay để lại thừa kế cho hai vợ
chồng mà không phân biệt tỷ lệ tài sản, phần quyền mà mỗi bên được hưởng.
Nếu có xác định rõ tỷ lệ đó từ trước thì về nguyên tắc những tài sản đó sẽ thuộc
tài sản riêng của vợ chồng và chúng chỉ trở thành tài sản chung của vợ chồng khi
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
vợ chồng tự nguyện nhập khối tài sản đó vào khối tài sản chung hay thỏa thuận
đó là tài sản chung.
+ Thứ tư, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà
vợ chồng có được sau khi kết hôn: Quyền sử dụng đất là loại quyền đặc thù, theo
quy định tài Điều 688 BLDS năm 2005: “Đất đai thuộc hình thức sở hữu Nhà
nước, do Chính phủ thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp
nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất
hoặc công nhận quyền sử dụng đất”. Do đó, vợ chồng chỉ có được quyền tài sản
này khi được nhà nước giao đất hay cho thuê đất. Xuất phát từ tính đặc thù, tầm
quan trọng và vị trí đặc biệt của quyền sử dụng đất trong đời sống gia đình, Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có quy định cụ thể về loại tài sản này mà
trước đó Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chưa có quy định: “Quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng trừ
trường hợp được thừa kế riêng”.
Như vậy, cũng có thể hiểu, quyền sử dụng đất mà cả vợ chồng hoặc mỗi
bên vợ hay chồng được Nhà nước giao khoán, cho thuê, hay nhận thế chấp từ
người khác... là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc
chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ,
chồng có thỏa thuận.
+ Thứ năm, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm những tài sản được
vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Trong đời sống chung của vợ chồng, để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia
đình vợ chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung hoặc vợ
chồng đã thỏa thuận tài sản riêng của một trong hai bên là tài sản chung của vợ
chồng. Đồng thời, xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt tài sản
của vợ chồng, khoản 1 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“Vợ chồng có quyền nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”.
Do đó, vợ chồng có thể thỏa thuận: Tài sản có trước kết hôn, tài sản được thừa
kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
chồng trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,
đồ dùng tư trang cá nhân... là tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp
thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng mà theo quy định
pháp luật tài sản đó phải có đăng ký quyền sở hữu thì thỏa thuận đó phải được
lập bằng văn bản có chữ ký của cả hai vợ chồng và phải được công chứng tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
+ Thứ sáu, tài sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng thì nó sẽ
được suy đoán là tài sản chung.
Đây là nguyên tắc xác định tài sản có tính suy đoán pháp lý lần đầu tiên
được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình của nước ta. Việc quy định
nguyên tắc này hiện nay đã khắc phục những khó khăn, phức tạp trong thực tiễn
áp dụng quy định của pháp luật hôn nhân gia đình trong việc xác định nguồn gốc
tài sản của vợ chồng.
Vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được quy định
tương đối cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Tuy nhiên, trong
thực tiễn, một khi đời sống chung giữa vợ chồng càng kéo dài thì không thể
tránh khỏi tình trạng các tài sản lẫn lộn với nhau, đặc biệt khi vợ chồng xác lập
các giao dịch liên quan đến tài sản. Do đó, không phải lúc nào nguồn gốc của tài
sản cũng có thể xác định được theo các quy định về việc xác định tài sản chung
(Điều 27) và tài sản riêng (Điều 32). Trong bối cảnh đó, quy định về việc suy
đoán tài sản chung mà nhà làm luật đặt ra trong khoản 3 Điều 27 có ý nghĩa như
một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấp
giữa vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản, góp phần bảo đảm được sự công
bằng trên cơ sở vì lợi ích chung của gia đình và vợ chồng.
Tuy nhiên, với tư cách là một nguyên tắc suy đoán, tác dụng của nguyên tắc
này chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định
chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ
chồng. Mặt khác, nguyên tắc này còn có ý nghĩa như một trở ngại không những
đối với vợ, chồng trong việc chứng minh tài sản là của riêng, mà còn là trở ngại
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
đối với người thứ ba, cụ thể là các chủ nợ riêng của vợ, chồng (các chủ nợ chỉ
được đảm bảo thanh toán bằng tài sản riêng) trong việc yêu cầu kê biên tài sản
riêng. Các chủ nợ riêng này muốn kê biên tài sản riêng của vợ, chồng mắc nợ,
buộc phải chứng minh tài sản mà họ yêu cầu kê biên là tài sản riêng của người
mắc nợ

[21].
Do đó, để bảo vệ lợi ích gia đình và tạo cơ sở pháp lý để giải quyết tranh
chấp, bảo đảm nguyên tắc công bằng hợp lý, khoản 3 Điều 27 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 đã quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung
của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy
chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
Thực hiện đúng quy định này góp phần công khai, minh bạch khối tài sản
của vợ chồng, bảo vệ quyền lợi đúng đắn của các bên khi phát sinh tranh chấp.
Qua phân tích trên có thể thấy:
+ Tài sản chung của vợ chồng không cần phải do cả hai vợ chồng cùng
trực tiếp tạo ra tài sản đó,
+ Tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc vào điều
kiện vợ chồng ở chung hay ở riêng mà chỉ cần đó là tài sản do vợ chồng tạo ra
trong thời kỳ hôn nhân,
+ Vợ chồng có quyền bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với khối
tài sản chung đó mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp.
Như vậy, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất và theo
pháp luật dân sự đó là hình thức sở hữu chung trong đó phần quyền sở hữu của
mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung. Theo đó, vợ chồng
cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người,
có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo
thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án. Do đó, theo quy định của pháp luật
vợ chồng không thể thỏa thuận thay đổi được chế độ tài sản chung này.
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
Tóm lại, Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định căn cứ
xác lập tài sản chung của vợ chồng là dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc
của các loại tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Những quy định này
có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng đối với tài sản chung.
2.1.2. Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung
Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung
Trên tinh thần Điều 219 BLDS năm 2005, Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 đã cụ thể hóa quyền bình đẳng của vợ chồng đối với sở hữu chung hợp
nhất. Vợ chồng không chỉ bình đẳng trong quá trình tạo lập tài sản chung mà
còn bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, bình đẳng trong việc
phân chia tài sản chung hợp nhất.
Trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt mức thu nhập của người này cao
hay thấp hơn mức thu nhập của người kia, tài sản không nhất thiết phải do cả hai
vợ chồng tạo ra mà chỉ cần do một bên vợ hoặc chồng tạo ra thì tài sản đó cũng
vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, theo khoản 1 Điều 28 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng”.
Xuất phát từ tính chất của cuộc sống chung, mọi vấn đề liên quan đến
cuộc sống gia đình đều phải gắn liền với lợi ích, nhu cầu chung của mọi thành
viên trong gia đình. Do đó, vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản
chung nhằm đảm bảo cuộc sống chung của vợ chồng, bảo đảm nghĩa vụ nuôi
dưỡng con cái cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình.
Do tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và cuộc sống chung của vợ
chồng đòi hỏi vợ chồng phải thực hiện các giao dịch dân sự với những người
khác liên quan đến tài sản chung, nên khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 còn quy định cụ thể: “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy
nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ
chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh
riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này”.
Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP: Tài sản có giá trị lớn
của vợ chồng được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối tài
sản chung của vợ chồng.
Tài sản là nguồn sống duy nhất của gia đình có thể hiểu là tài sản duy nhất
của vợ chồng có giá trị đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống chung của gia đình.
Vì vậy, để đảm bảo lợi ích chung của gia đình, Điều 4 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP đã cụ thể hóa khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 thông qua quy định: Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của
vợ chồng mà có “giá trị lớn” hoặc giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt
tài sản riêng thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào
sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất
của gia đình đều phải có sự thỏa thuận của vợ chồng theo đúng hình thức mà
pháp luật quy định.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các
giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mà không có sự đồng
ý của một bên, thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô
hiệu theo quy định tại Điều 134 BLDS năm 2005 và hậu quả pháp lý được giải
quyết theo quy định tại Điều 137 BLDS. Theo đó, có thể hiểu: đối với những
giao dịch thông thường liên quan đến những tài sản “không có giá trị lớn” nhằm
đáp ứng các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ,
chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được pháp luật coi là có sự thỏa thuận
đương nhiên của cả hai vợ chồng (mặc dù chỉ có một bên vợ, chồng định đoạt tài
sản).
Ví dụ: vợ chồng tham gia giao dịch dùng tài sản chung của vợ chồng đáp
ứng nhu cầu ăn ở, học hành, chữa bệnh... thì các giao dịch này luôn được coi là
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng. Còn đối với tài sản chung có
giá trị lớn như: nhà ở, quyền sử dụng đất, ô tô, xe máy... thì khi định đoạt phải
có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Nếu hợp đồng liên quan đến tài sản chung của
vợ chồng có giá trị lớn mà pháp luật quy định phải được ký kết bằng văn bản thì
hình thức của hợp đồng phải tuân theo quy định của pháp luật (ví dụ: Hợp đồng
mua bán nhà ở, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất...), vợ, chồng phải cùng
trực tiếp ký vào văn bản, nếu chỉ có một bên trực tiếp ký thì phải có giấy ủy
quyền cho vợ, chồng ký thay thì khi đó hợp đồng mới có hiệu lực.
Bên cạnh đó, Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 còn quy định:
“Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp
pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu
của gia đình”. Giao dịch hợp pháp ở đây được hiểu là hợp đồng vay tài sản (tiền,
vàng, ngoại tệ...) hoặc giấy vay tiền, không phân biệt viết tay hay đánh máy do
người có đủ năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện. Nhu cầu thiết yếu của
gia đình có thể hiểu là: ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong
gia đình, việc học hành của con trẻ...
Theo Luật định thì đối với những giao dịch hợp pháp nhằm đáp ứng nhu
cầu chi tiêu, sinh hoạt, tiêu dùng trong gia đình, pháp luật không bắt buộc cả vợ
và chồng cùng ký tên vay hoặc khi vay phải hỏi ý kiến người kia, và khi hậu quả
xảy ra, thì cả vợ và chồng đều phải liên đới trách nhiệm trong việc trả nợ, đó là
nợ chung của vợ và chồng. Trường hợp có tranh chấp, chẳng hạn như một bên
vay để tiêu xài chung mà bên kia không đồng ý liên đới trả nợ, thì người vay
mượn có nghĩa vụ phải chứng minh việc vay mượn là để đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt thiết yếu trong gia đình.
Như vậy, quy định tại Điều 25, Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý trong thực tiễn áp
dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 liên quan đến các quy định về các
giao dịch dân sự trong BLDS.
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
2.1.3. Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng
- Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000)
Theo nguyên tắc chung, chế độ tài sản chung của vợ chồng chỉ tồn tại
trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp vợ chồng vì những lý
do khác nhau muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất
phát từ việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung hoặc do có mâu thuẫn về
mặt tình cảm... nhưng không muốn ly hôn mà muốn độc lập về tài sản).
Xuất phát từ thực tế trên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 29,
Điều 30) trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
(Điều 18) tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân: Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng,
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có
thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn
bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đó, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận
bằng văn bản giữa vợ chồng hoặc bằng bản án, quyết định của tòa án. Khi chia
tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân quan hệ nhân thân giữa vợ
chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt nhất của chế định này so với
chế định ly thân được quy định trong pháp luật của một số nước phương tây.
Việc quy định theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là hoàn toàn phù hợp
bản chất hôn nhân được xác lập dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
Theo quy định trên, các trường hợp vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân là:
+ Chia tài sản chung khi vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng: Đây là trường
hợp khi một bên vợ hoặc chồng muốn tự mình kinh doanh hoặc hợp tác với
người thứ ba nhưng không muốn ảnh hưởng đến khối tài sản chung của vợ
chồng khi thua lỗ, hoặc không đủ vốn, hoặc do một bên muốn đầu tư kinh doanh
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
vào một lĩnh vực nào đó nhưng người còn lại không đồng ý.... Do đó, để thuận
tiện cho việc đầu tư kinh doanh riêng của mình vợ, chồng có thể yêu cầu được
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
+ Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên thực hiện nghĩa vụ dân sự
riêng: Nghĩa vụ phát sinh từ khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác trước
khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân nhưng sử dụng vào mục đích cá nhân,
mà không vì lợi ích chung của gia đình; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vi
trái pháp luật của vợ, chồng; nghĩa vụ cấp dưỡng cho con riêng; nghĩa vụ cấp
dưỡng cho vợ hoặc chồng cũ (rơi vào cảnh khó khăn túng thiếu có yêu cầu cấp
dưỡng)...
+ Chia tài sản chung của vợ chồng khi có lý do chính đáng khác.
Pháp luật không có quy định cụ thể lý do chính đáng khác ở đây là bao
gồm những gì? Xuất phát từ thực tiễn, có thể hiểu: Lý do chính đáng khác trong
trường hợp này là những mâu thuẫn sâu sắc về tình cảm giữa vợ chồng, song do
tuổi cao, địa vị xã hội, nghề nghiệp, danh dự, uy tín trách nhiệm đối với các
con... mà họ không muốn ly hôn.
Về phương diện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,
trên cơ sở kế thừa và phát triển Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 :
“Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại đều
do Toà án quyết định”, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cho phép hai vợ
chồng thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn hoặc yêu cầu tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình không quy định nguyên tắc chia.
Xuất phát từ đặc điểm hình thức sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng,
trong đó tỷ lệ tài sản của mỗi bên vợ chồng trong khối tài sản chung là ngang
nhau. Pháp luật cần phải quy định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ
chồng theo nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng, trong đó có xem xét
công sức đóng góp của mỗi bên vợ chồng để tạo cơ sở pháp lý thống nhất áp
dụng trong thực tiễn.
Đại học Luật Hà Nội