CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CÔNG CỤ CỦA THƯƠNG MẠI TÍN DỤNG.doc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
KHOA TÍN DỤNG

TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
THUỘC BỘ MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : ĐẶNG VĂN DÂN
NHÓM 1 NGUYỄN ANH VINH
NGÔ THỊ MỸ LỆ
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG
NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
LÊ THỊ DIỆU HIỀN
NGÔ QUỐC THẮNG
HUỲNH ĐỨC HIỂN
TPHCM, tháng .11.. năm 2011
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
KHOA TÍN DỤNG

TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
THUỘC BỘ MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ĐẶNG VĂN DÂN NHÓM 1
: NGUYỄN ANH VINH
NGÔ THỊ MỸ LỆ
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG
NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
LÊ THỊ DIỆU HIỀN
NGÔ QUỐC THẮNG
HUỲNH ĐỨC HIỂN
2
TPHCM, tháng .11.. năm 2011
3
Mục lục
Mục lục ................................................................................................................. 4
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1 .......................................................................................................... 7
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CÔNG CỤ CỦA THƯƠNG MẠI TÍN DỤNG ................... 7
KHÁI NIỆM: .................................................................................................... 7
ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI ............................................... 7
CÔNG CỤ LƯU THÔNG CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI ........................... 8
Đặc điểm của thương phiếu: ......................................................................... 9
Một số điểm khác nhau giữa hối phiếu và lệnh phiếu: .................................. 12
Tính chất của thương phiếu: ......................................................................... 12
Pháp luật về thương phiếu: ........................................................................... 12
Ích lợi của thương phiếu: ............................................................................. 13
Nhược điểm của thương phiếu ..................................................................... 14
VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ........................................................................................................ 16
Tăng nguồn vốn kinh doanh ......................................................................... 17
Tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ ................................................................ 17
Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, rút ngắn chu kỳ kinh doanh ........... 18
Khuyến khích sản xuất kinh doanh ............................................................... 18
ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI ........................... 19
HẠN CHẾ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI ................................................. 21
CHƯƠNG 2 ......................................................................................................... 22
THỰC TRẠNG TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ
CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................................. 22
THỰC TRẠNG: .............................................................................................. 22
Khó khăn ..................................................................................................... 22
Thuận lợi ...................................................................................................... 23
Các giải pháp khắc phục khó khăn ............................................................... 23
Hướng phát triển tín dụng thương mại ở Việt Nam ..................................... 24
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC ................................................. 25
Tình hình ..................................................................................................... 25
Những vấn đề của TDTM trong nước .......................................................... 26
Cách khắc phục ............................................................................................ 29
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ .......................................................... 31
Tình hình ..................................................................................................... 31
TDTM quốc tế với những vấn đề cần tháo gỡ .............................................. 33
Cách khắc phục ............................................................................................ 35
CHƯƠNG 3 ......................................................................................................... 37
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG CÁC LUẬT ĐỊNH Ở VIỆT NAM .......... 37
Sự cần thiết ban hành luật các công cụ chuyển nhượng ................................... 37
Nội dung cơ bản của luật các công cụ chuyển nhượng .................................... 40
Bố cục ......................................................................................................... 40
Những nội dung cơ bản về hối phiếu ........................................................... 41
4
5
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại nền kinh tế thị trường trở thành một nền kinh tế của toàn cầu
thì doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, là nơi quyết định về
các quá trình sản xuất được đưa ra. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải
sử dụng các đầu vào để sản xuất ra đầu ra (sản phẩm, dịch vụ). Tại sao các doanh
nghiệp lại cần vay vốn trong quá trình kinh doanh? Thứ nhất, quá trình kinh doanh
đòi hỏi phải có khoảng cách thời gian từ khi mua nguyên liệu để đưa vào sản xuất
cho đến khi bán được sản phẩm và thu tiền bán hàng. Trong trường hợp này doanh
nghiệp cần vốn ngắn hạn để mua nguyên vật liệu và đáp ứng các chi dùng thường
ngày khác. Thứ hai, doanh nghiệp cần đầu tư mua sắm máy móc để mở rộng qui
mô sản xuất. Trong trường hợp này doanh nghiệp cần các nguồn vốn dài hạn hơn
để có thời gian thu hồi vốn. Trong trường hợp các nguồn vốn nội tại của doanh
nghiệp không đáp ứng được nhu cầu (ngắn và dài hạn) thì doanh nghiệp cần vay
vốn từ bên ngoài. Nhưng trong tình hình nền kinh tế thế giới và trong nước vừa
trải qua cuộc khủng hoảng tài chính, vấn đề tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức
tín dụng đối với doanh nghiệp bị hạn chế. Mặc dù Nhà nước chủ trương kiềm chế
lãi suất, nhưng lãi suất hiện nay vẫn ở mức cao nên tình hình vay vốn ngân hàng
của doanh nghiệp từ đầu năm 2010 tới nay rất khó khăn. Doanh nghiệp hiện tại
vẫn phải vay vốn với lãi suất từ 14%/năm trở lên. Đây là một gánh nặng, vì các
chính sách mà Chính phủ đã ban hành trong năm 2009 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp,
như hỗ trợ 4% lãi suất, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm 50% thuế suất thuế
giá trị gia tăng…đã hết hạn từ cuối năm 2009. Theo tổng kết sơ bộ 6 tháng đầu
năm 2010 cho thấy, số doanh nghiệp tiếp cận vốn vay chưa tới 50% số hồ sơ mà
các doanh nghiệp có nhu cầu vay. Do đó, việc tiếp cận nguồn tín dụng thương mại
được các nhà kinh doanh quan tâm nhiều hơn. quan hệ tín dụng thương mại được
hình thành trong điều kiện thành phẩm của doanh nghiệp thừa vốn là nguyên,
nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ mua bán chịu được thực
hiện trong một thời hạn nhất định thì cả hai đều có lợi. Vì có sự khác biệt về chu
kỳ sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp, nên việc thừa vốn ở doanh nghiệp
này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CÔNG CỤ CỦA THƯƠNG
MẠI TÍN DỤNG
KHÁI NIỆM:
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình
thức mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh
doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa. Hành vi mua
bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho
người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định, và khi đến
thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới
hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu.
ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
- Vốn cho vay theo tín dụng thương mại là hàng hóa hay một bộ phận của
vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa phải là tiền nhàn rỗi.
- Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những doanh
nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khối
lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu.
7
- Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi hàng hóa
dịch vụ,thông thường không có khâu trung gian đứng giữa người sử dụng vốn và
người có vốn.
- Tín dụng thương mại phát triển và vận động theo chu kỳ sản xuất kinh
doanh và góp phần làm phát triển sản xuất kinh doanh do nó rút ngắn chu kỳ sản
xuất kinh doanh, giảm chi phí sản xuất kinh doanh => quy mô bịhạn chế và thông
thường là tín dụng ngắn hạn.
- Tín dụng thương mại thông thường không mất chi phí sử dụng vốn (cost
of
capital) do hoạt động cấp tín dụng không có lãi trong một khoảng thời gian nhất
định, một số trường hợp bên nợ còn được hưởng lãi chiết khấu trả sớm.
Hình thức thể hiện thông thường của tín dụng thương mại là hợp đồng trả
chậm, thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu). Trong đó, hối phiếu là giấy đòi tiền
vô điều kiện do người bán phát hành, lệnh phiếu là giấy cam kết trả tiền vô điều
kiện do người mua phát hành.
Một điều khoản tín dụng thương mại mà các doanh nghiệp thường thỏa
thuận khi sử dụng hình thức tín dụng này là: “2/10 Net 30” có nghĩa là nếu trả tiền
mặt trong vòng 10 ngày kể từ khi mua hàng, người mua sẽ được chiết khấu 2%
trên giá cả hàng bán, người mua sẽ phải trả toàn bộ giá bán sau 10 ngày và được
trả chậm trong vòng 30 ngày.
CÔNG CỤ LƯU THÔNG CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
Để đảm bảo người mua chịu trả nợ đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người
bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy chứng nhận
quan hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi
tiền, hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “kỳ phiếu thương mại”
hay “thương phiếu”. Vì vậy, thương phiếu ra đời trên cơ sở quan hệ mua bán chịu
giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Trong quá trình phát triển, thương phiếu dần
dần biến đổi tính chất, từ một giấy chứng nhận nợ thông thường trở thành một
công cụ lưu thông tín dụng có thể thực hiện được chức năng phương tiện lưu
thông và phương tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt trong nền kinh tế.
8
Đặc điểm của thương phiếu:
1.1 Dựa trên cơ sở người lập: thương phiếu tồn tại dưới 2 hình
thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
1.1.1. Hối phiếu: là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu
cầu người mua chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian
và ở một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng.
Nội dung hối phiếu:
-Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
-Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất định
-Thời hạn trả tiền.
-Địa điểm trả tiền
-Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện việc thanh
toán
-Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
-Chữ ký người ký phát lệnh phiếu.
9
Hình: Hối phiếu
1.1.2. Lệnh phiếu: là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam
kết trả một số tiền xác định trong một thời gian và ở một địa
điểm nhất định cho người thụ hưởng.
Trên lệnh phiếu kì hạn được quy định rõ
Một lệnh phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát cam kết thanh
toán cho một hay nhiều người hưởng lợi.
Lệnh phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty tài chính để
đảm bảo khả năng thanh toán của lệnh phiếu.
Nội dung lệnh phiếu:
-Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
-Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất định
-Thời hạn trả tiền.
-Địa điểm trả tiền
-Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện việc thanh
toán
-Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
-Chữ ký người ký phát lệnh phiếu.
Lệnh phiếu trả ngay:
10
Lệnh phiếu có kỳ hạn:
1.2 Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng: có thể phân chia thương phiếu
thành ba loại
 Thương phiếu vô danh:là loại thương phiếu không ghi tên người hưởng
thụ.Ai cầm thương phiếu một cách hợp pháp người đó là người hưởng thụ.
 Thương phiếu ký danh:là loại thương phiếu có ghi tên người hưởng thụ

người này được quyền chuyển nhượng cho người khác.
11

New York 24 January 2009
5000 USD
Three months after date I promise to pay David Henry or order the sum of
five thousand US Dollars.
David Cantona


 Thương phiếu định danh: cũng là thương phiếu có ghi tên của người
hưởng thụ nhưng khác với thương phiếu ký danh là không được chuyển
nhượng cho người khác
Một số điểm khác nhau giữa hối phiếu và lệnh phiếu:
+ Hối phiếu do chủ nợ lập, còn lệnh phiếu do người thiếu nợ lập
+ Hối phiếu thông thường có 3 người quan hệ với nhau: Người phát hành
hối phiếu (người phát lệnh), người trả tiền theo hối phiếu (người thu lệnh) và
người hưởng thụ.
+Còn lệnh phiếu thường có 2 người liên hệ: người phát lệnh phiếu và
người hưởng thụ.
+Hối phiếu thường gồm hai bản, lệnh phiếu chỉ có một bản chính do con
nợ phát ra để chuyển cho người hưởng lợi lệnh phiếu đó.
Tính chất của thương phiếu:
- Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát
sinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả, thời hạn trả tiền và
người trả tiền.
- Tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ
hưởng đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền.
- Tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng
sang người khác bằng phương pháp ký hậu, nó có thể chuyển hoá ra tiền khi mang
đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố. tính chất này khiến thương phiếu trở
thành một loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệu lực và
mệnh giá thương phiếu.
Pháp luật về thương phiếu:
Pháp luật về thương phiếu thương mại xuất hiện từ lâu (khoảng cuối thế
kỷ XI đầu thế kỷ XII) ở các nước Phương Tây, đáp ứng các yêu cầu tất yếu, khách
quan từ hoạt thương mại. và ngày nay, thương phiếu được xem là một công cụ tín
dụng, một phương tiện thanh toán hữu hiệu trong hoạt động thương mại.
Xuất phát từ vai trò kinh tế của thương phiếu, các nước đã chú trọng
xây dựng một cách có hệ thống và tương đối cụ thể các quy phạm pháp luật nhằm
tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của thương phiếu. không chỉ dừng
12
lại ở hệ thống pháp luật trong nước, trên phương diện quốc tế, pháp luật thương
mại quốc tế cũng đòi hỏi phải có sự thống nhất về luật pháp liên quan đến thương
phiếu, trong chừng mực có thể đạt được, để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của
thương nhân cũng như để bảo đảm một cách hữu hiệu sự tồn tại và hoạt động của
thương phiếu. Điển hình là Công ước Geneve ngày 7 tháng 6 năm 1930 về hối
phiếu và lệnh phiếu đã được ký kết.
Từ đó đến nay, pháp luật thương mại quốc tế đã có rất nhiều các văn
bản điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương phiếu. Hơn
nữa, điều này nhằm đáp ứng với tình hình phát triển kinh tế thế giới nói chung.
ở Việt Nam, trong thời kỳ áp dụng cơ chế tập trung, bao cấp. Nhà nước can thiệp
rất sâu trong hoạt động kinh tế. Các tổ chức kinh tế, công dân chưa được tự do
kinh doanh: pháp luật kinh doanh nói chung cũng như pháp luật thương mại chưa
được chú trọng. Điều này chỉ thật sự được đổi mới và phát triển từ khi Đảng và
Nhà nước chuyển hướng phát triển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong hoàn cảnh đó, thương phiếu và pháp luật thương phiếu chỉ được
đề cập trong những năm gần đây: Luật Thương Mại 1997. Pháp lệnh Thương
phiếu được UBTVQH thông qua ngày 24/12/1999, có hiệu lực từ ngày
01/07/2000, và Nghị định số 32/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/07/2001 (gọi tắt là
NĐ 32) hướng dẫn chi tiết thi hành pháp lệnh thương phiếu. Tuy nhiên, những văn
bản pháp luật vừa nêu vẫn được coi là chưa đủ để có một mội trường pháp lý
thuận tiện cho thương phiếu hoạt động
Ích lợi của thương phiếu:
Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở thành một
công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiết kiệm tiền mặt và góp phần ổn
định tiền tệ.
Thứ hai, nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo
vệ quyền lợi của các chủ thể trong tín dụng thương mại, loại bỏ được tình trạng nợ
nần dây dưa giữa các doanh nghiệp.
Thứ ba, thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi ngân hàng
nhận chiết khấu hay nhận cho vay cầm cố. Hơn thế nữa, tài sản đảm bảo này lại có
13
tính thanh khoản cao vì ngân hàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm cố
tại NHNN để khôi phục nguồn vốn của mình.
Thứ tư, thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạo điều kiện
cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều hoà khối tiền trong lưu
thông.
Thứ năm, trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng
lệnh phiếu, khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn
bằng cách chuyển nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác. Đây là một giải pháp
chứng khoán hoá các khoản cho vay của ngân hàng.
Và cuối cùng, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ
giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của mình.
Nhược điểm của thương phiếu
Nhược điểm thứ nhất, do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến
tình trạng hai doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thương
phiếu không phát sinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết
khấu hoặc cầm cố. Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là
tín dụng hàng hoá không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không
có cơ sở đảm bảo.
Nhược điểm thứ hai, với những nhược điểm sẳn có của tín dụng thương
mại, khó có thể mở rộng qui mô (khối lượng) và thời gian mua bán chịu hàng hoá
trong trường hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu.
Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát sinh giữa
những doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thường xuyên với nhau.
Tuy vậy, do tín dụng thương mại tồn tại song song với tín dụng ngân
hàng nên những khiếm khuyết nêu trên của tín dụng thương mại và của sự vận
dụng thương phiếu sẽ giảm đến mức xem như không đáng kể.
1. Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức cấp tín dụng. Thương phiếu
là một công cụ tài chính xuất hiện trong mua bán chịu giữa các doanh nghiệp, nếu
14
mọi chuyện xảy ra bình thường, tức là đến ngày đáo hạn thì người thụ hưởng
mang thương phiếu đến đòi con nợ (người có trách nhiệm thanh toán cho tờ
thương phiếu đó) để nhận tiền, thì ngân hàng sẽ chẳng có việc gì ở đây. Nhưng
nếu người thụ hưởng cần tiền và muốn nhận tiền trước thời hạn thì ngân hàng sẽ
tham gia vào và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu bằng cách mua lại tờ
thương phiếu đó với giá thấp hơn giá trị có thể nhận được từ tờ thương phiếu
(phần chênh lệch chính là tiền lãi ngân hàng thu được). Khi ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ này mang lại một số lợi ích cơ bản như sau:
* Đối với ngân hàng:
+ Đây là một nghiệp vụ cấp tín dụng khá an toàn do:
- Tính thanh khoản của thương phiếu cao (ngắn hạn, dễ chuyển đổi),
nên ngân hàng có thể chủ động sử dụng khi nắm giữ thương phiếu, không bị ứ
đọng vốn lâu.
- Theo luật thì ngân hàng có quyền truy đòi tất cả các đối tượng có mặt
trên tấm thương phiếu (kể cả người đã chuyển nhượng thương phiếu đó)chứ không
riêng gì người có trách nhiệm chi trả ghi trong thương phiếu (chiết khấu có truy
đòi). Do đó rủi ro tín dụng sẽ thấp đi do có nhiếu người phải chịu trách nhiệm trả
nợ hơn.
+ Về mặt quản trị ngân hàng thì đây là một dạng dự trữ thứ cấp khá tốt
vừa đảm bảo thanh khoản lại vừa sinh lãi ở mức chấp nhận được.
* Đối với doanh nghiệp:
+ Đảm bảo nguồn vốn kết hợp kinh doanh bình thường: Thương phiếu
không phải là tiền vì cần phải chờ tới ngày đáo hạn người thụ hưởng mới nhận
được tiền, trong khi đó tiền bán chịu chính là doanh thu của doanh nghiệp cho nên
nó cần phải quay vòng nhanh để doanh nghiệp trang trải chi phí và hoạt động bình
thường. Khi doanh nghiệp cần vốn mà tờ thương phiếu lại chưa đến hạn thanh
toán thì doanh nghiệp có thể nhờ ngân hàng chiết khấu tờ thương phiếu đó để có
tiền sử dụng vào sản xuất.
+ Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng quan hệ tín dụng thương mại giữa các
doanh nghiệp: Vì giờ đây với nghiệp vụ CKTP của ngân hàng doanh nghiệp sẵn
15
lòng bán chịu hơn do có thể chiết khấu nhận được tiền trước ngày đáo hạn tờ
thương phiếu khi cần tiền, chứ không cần giữ mãi tờ thương phiếu đó.
+ Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân
hàng cho các doanh nghiệp nhỏ:
Có điều này là do khi ngân hàng chiết khấu thương phiếu thì người thanh
toán thương phiếu mới chính là đối tượng chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khi cấp
tín dụng, mặc dù chính chủ nợ, hay người thụ hưởng mới là người mang thương
phiếu đi chiết khấu. Cho nên nếu người thanh toán là công ty lớn, hoạt động hiệu
quả thì sẽ dễ dàng được ngân hàng chấp nhận chiết khấu. Ví dụ như: Nếu một
công ty ABC (rất nhỏ, chưa danh tiếng) bán chịu một lô hàng cho công ty lớn như
công ty sữa Vinamilk và lập một hối phiếu, sau đó Vinamilk ký bảo đảm lên hối
phiếu đó. Thì khi công ty ABC mang hối phiếu đó đến ngân hàng để chiết khấu, có
thể dựa vào danh tiếng, năng lực hoạt động tốt của Vinamilk thì ngân hàng dễ
chấp nhận tờ hối phiếu đó hơn. Và nhờ đó ABC dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn
lý tưởng bậc nhất trong nền kinh tế là từ ngân hàng mà không tốn quá nhiều chi
phí và thời gian ( còn tại sao nói nguồn vốn ngân hàng là nguồn vốn lý tưởng
trong nền kinh tế thì chắc là các bạn biết rồi).
* Đối với nền kinh tế:
+ Cấp tín dụng bằng CKTP là một hình thức cấp tín dụng an toàn cho
nền kinh tế vì khi cấp tín dụng bằng chiết khấu thương phiếu sẽ đảm bảo nguyên
tắc hàng - tiền do khi tiền tung ra từ ngân hàng thì trong nền kinh tế cũng đã có sẵn
một lượng hàng hoá tương ứng đang luân chuyển, do đó giảm thiểu áp lực lạm
phát. Cũng cần chú ý rằng hàng hoá mua chịu của doanh nghiệp chủ yếu là nguyên
vật liệu phục vụ sản xuất cho nên, cấp tín dụng bằng hình thức CKTP tạo điều
kiện tốt cho sản xuất phát triển gia tăng hàng hoá cho nền kinh tế.
VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các doanh
nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt
đáp ứng được nhu cầu vốn của các doanh nghiệp tạm thời thiếu đồng thời giúp cho
16
các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. Mặt khác sự tồn tại của hình
thức tín dụng này giúp cho các doanh nghiệp khai thác được vốn nhằm đáp ứng
kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tăng nguồn vốn kinh doanh
Nền kinh tế nước ta còn nghèo, vốn cho kinh doanh hạn chế, đòi hỏi phải có
những hình thức tạo vốn. Vấn đề này càng bức thiết hơn với các đơn vị buôn bán
nhỏ. Nhờ có TDTM, sản xuất kinh doanh ổn định và mở rộng. Tuy nhiên không
nên lạm dụng TDTM vì thời hạn tín dụng thương mại và dễ dẫn đễn vỡ nợ hàng
loạt.
Trong tín dụng thương mại, các nhà sản xuất có thể tận dụng được nguồn
vốn nhàn rỗi để sản xuất, làm tăng nguồn vốn kinh doanh trong thời gian ngắn, với
chi phí thấp hoặc chi phí có thể bằng không, tùy theo mối quan hệ giữa người cấp
tín dụng và người sử dụng nguồn vốn đó.
Tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ
TDTM với công cụ là thương phiếu được coi là hình thức lưu thông không
dùng tiền mặt. Nó tiết kiệm chi phí lưu thông và giảm bất trắc trong việc chuyển
tiền.
Sử dụng vốn tín dụng thương mại giúp cho các nhà sản xuất giảm chi phí sử
dụng vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn, thay vì đi vay tại các các ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng khác với mức lãi suất cao, thủ tục phức tạp, phát sinh nhiều chi
phí trung gian từ việc vay vốn, thì nhà sản xuất có thể mua chịu nguyên vật liệu,
hay nhập hàng từ nhà cung ứng với chi phí trả sau và có mức chiết khấu hợp lý
thỏa thuận được. Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng không chỉ có lợi cho nhà sản
xuất mà còn có lợi cho kinh tế về mặt vĩ mô, khi không phải cung ứng thêm lượng
tiền ra lưu thông. Giúp cho ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ dễ
dàng hơn.
17
Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển hàng hóa, rút ngắn chu kỳ kinh doanh
Nhờ có TDTM, quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, không ngắt quãng.
Nhờ đó hiệu quả của sản xuất kinh doanh tăng lên đáng kể.
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các doanh nghiệp
thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứng
được nhu cầu vốn của các doanh nghiệp tạm thời thiếu đồng thời giúp cho các
doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. Nguồn vốn tín dụng thương mại
giúp đáp ứng nhu cầu vốn trong thời vụ sản xuất cao điểm, đáp ứng nhu cầu thị
trường. Đồng thời dưới cơ chế hoạt động của tín dụng thương mại, nhà sản xuất có
thể bán được hàng hóa của mình, giải quyết tình trạng tồn kho, và các chi phí có
liên quan đến tồn trữ hàng hóa. Người sản xuất được cấp tín dụng thương mại sẽ
bắt đầu chu kì sản xuất mới mà không cần chờ đợi đến khi có vốn mới. Như vậy,
tín dụng thương mại đã huy động được nguồn vốn nhàn rỗi vào vòng quay sản
xuất, làm sản xuất hiệu quả hơn, dòng tiền có khả năng sinh lời nhiều hơn. Trong
sản xuất kinh doanh, tín dụng thương mại là một phần không thể thiếu nhằm cung
ứng vốn. Qua đó, còn liên kết các nhà sản xuất với nhau, bởi mối quan hệ của nhà
sản xuất được hiểu là đầu ra của người này là đầu vào của người kia.
Khuyến khích sản xuất kinh doanh
Trong thực tế, TDTM chiếm hơn 40% vốn lưu động của các doanh nghiệp.
Với khối lượng tín dụng đó, các doanh nghiệp có thể mở rộng kinh doanh, có
nhiều cơ hội kiếm lời. Mặt khác nó còn khuyến khích sản xuất kinh doanh vì hoạt
động đó được bí mật tương đối, không phản ánh trên thương phiếu nên rất được
ưa chuộng.
Tín dụng thương mại dưa trên sự tín nhiệm giữa các nhà sản xuất với nhau,
hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất. Thực tế, các nhà sản xuất sử dụng vốn tín
dụng vốn thương mại trong hầu hết các trường hợp mua nguyên vật liệu, nhập
hàng, tiêu thụ sản phẩm… thay vì đi vay tại ngân hàng với thủ tục phức tạp, lãi
suất cao. Trong những giai đoạn lạm phát, chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho
nguồn vốn đến tay các doanh nghiệp khó khăn hơn thì tín dụng thương mại với
cam kết đơn giản giữa các doanh nghiệp, cùng chi phí sử dụng vốn cực thấp lại là
18
biện pháp vốn tối ưu cho các doanh nghiệp, giúp duy trì sản xuất kinh doanh. Tín
dụng thương mại được xem là hình thức tài trợ rẻ tiền, rất linh hoạt trong kinh
doanh. Bên cạnh đó, nó còn tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ với đối tác lâu bền
giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Như vậy, TDTM đặt chúng ta trước sự lựa chọn khó khăn. Nên chẳng hợp
pháp hóa TDTM ở Việt Nam.
ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
1. Trong nước
a. Ưu điểm
-Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại.
-Tín dụng thương mại tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa các doanh
nghiệp một cách trực tiếp mà không thông qua bất kỳ cơ quan trung gian nào.
-Tín dụng thương mại được cấp giữa các doanh nghiệp quen biết, uy tín nên
có lợi thế là thủ tục nhanh, gọn, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và góp phần đẩy
nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp.
-Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu
thông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội.
-Tạo điều kiện mở rộng hoạt động của tín dụng ngân hàng thông qua
nghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngân hàng tăng thu
nhập nhưng ít rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình.
-Trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu,
khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng cách
chuyển nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác. Đây là một giải pháp chứng khoán
hoá các khoản cho vay của ngân hàng.
-Tín dụng thương mại tạo ra thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường
mở, tạo điều kiện cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều hoà khối
tiền trong lưu thông.
-Tạo thuận lợi với doanh nghiệp có quan hệ thường xuyên với nhà cung cấp
19