Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 1997 đối với những nước Châu á

Lời nói đầu
Có thể nói, cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ khu vực Châu á là sự kiện nổi
bật nhất trong năm 1997. Tính đến nay, cuộc khủng hoảng này đã diễn ra hơn một năm
và cha có dấu hiệu chấm dứt.
Cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ đã bao trùm bầu trời Đông Nam á và Đông
á nổ ra vào khoảng tháng 7/1997 đến nay, gây chấn động trên phạm vi thế giới, thu
hút sự quan tâm chú ý của những nhà lãnh đạo quốc gia cũng nh đông đảo những ngời
dân bình thờng ở Việt nam. Với điểm xuất phát là Thái Lan, khi ngân hàng Thái Lan
chính thức tuyên bố thả nổi đồng Bath đồng tiền Thái Lan lập tức giảm 5 - 7% đến
20%, cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ đã kéo theo những sự kiện quốc tế lớn
chứng minh vai trò của các thế lực tài chính quốc tế và khu vực trong quá trình toàn cầu
hoá nền kinh tế thế giới hiện nay.
Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế đang đi vào sâu rộng dần tới
vấn đề ảnh hởng của cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ Chân á là tất yếu. Khi kinh
nghiệm cho thấy để ngăn chặn mức tàn phá nặng nề và nhanh chóng của các cuộc
khủng khoảng tiền tệ trớc đây, Chính phủ các nớc đã phải chấp nhận những tốn kém
về tiền của, công sức rất lớn.
Do vậy, rất cần thiết phân tích những ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính
trớc tiên đối với những nớc trong khu vực Châu á, hay nói cách khác việc nhận dạng
rõ vấn đề này để đa ra những bài học và hoàn chỉnh các biện pháp chiến lợc, ngăn
ngừa, phòng tránh ảnh hởng của cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế Việt nam hiện
nay ngày càng bức thiết.
1
Phần I
diễn biến Cuộc khủng hoảng Tài chính tiền
tệ khu vực Châu á
1. Diễn biến ở Thái lan:
Có thể nói Thái Lan là nơi châm ngòi cho cuộc khủng hoảng Tài chính
tiền tệ trong khu vực với dấu mốc ngày 2/7/1997 khi Ngân hàng trung ơng
Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng bath. Ngay sau khi đồng bath giảm giá (15 -
20% so với USD) với mức thấp nhất 32 bath/1USD kể từ 20 năm trở lại đây,
kéo theo phản ứng giảm giá dây chuyền đối với các đồng tiền trong khu vực
nh: đô la Xingapore giảm giá 5%. pê xô Philipin 9 - 10% ...Mặc dù Thái Lan
cách đây không lâu đã đợc coi là một trong những nớc ASEAN có tốc độ
phát triển thần kỳ, nhng theo các nhà phân tích kinh tế thì những nguy cơ
tiềm ẩn và cũng là nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khủng hoản Tài chính
tiền tệ tại Thái Lan đã có từ lâu. Đó là khủng hoảng Tài chính tiền tệ và cơn
sóng ngầm đầu cơ phá giá đồng Bath của Thái Lan.
Trớc hết phải kể đến chiến lợc phát triển kinh tế có phần thiên lệch của
Chính phủ Thái Lan, không duy trì đợc thế cân bằng giữa các chính sách
kinh tế vĩ mô, hệ thống Tài chính Ngân hàng không đợc phát triển tơng ứng
dẫn tới tốc độ tăng trởng kinh tế giảm (từ 9% năm 1995 xuống còn 6,4% năm
1996 ) nợ nớc ngoài tăng quá lớn so với dự trữ ngoại tệ ( nợ 90 tỷ USD, trong
đó nợ ngắn hạn chiếm tới 40% ). Việc đầu t ồ ạt vào bất động sản dẫn tới hậu
quả tỷ lệ phòng trống của các nhà cao ốc văn phòng và khu nhà ở lên tới
20%. Điều này đã gây khó khăn lớn cho các nhà đầu t bất động sản dẫn tới
hậu quả tỷ lệ phòng trống của các cao ốc văn phòng và khu nhà ở lên tới
20%. Điều này đã gây khó khăn lớn cho các nhà đầu t bất động sản phải trả
2
nợ ngân hàng khi lãi xuất lại đang ở mức cao (thời điểm này, các Công ty tài
chính và ngân hàng Thái Lan năm tới 30 tỷ USD các khoản vay không trả đ-
ợc của các công ty). Đồng thời Thái Lan dựa chủ yếu vào danh mục đầu t
ngắn hạn của nớc ngòai mà phần lớn trong số này đợc thông qua các ngân
hàng trong nớc và các công ty tài chính. Nh vậy các khoản vay càng trở thành
gánh nặng không chịu nổi với Thái Lan.
Mặt khác việc Chính phủ Thái Lan giữ cố định tỷ giá đồng bath đối
với đồng đô la Mỹ trong suốt 13 năm qua khiến đồng bath trở nên kém linh
hoạt và gây cản trở đối với các nhà xuất khẩu. Đồng bath lên giá đã làm cho
hàng hoá của Thái Lan trở nên quá đắt trên thị trờng trờng Châu Âu và kể từ
giữa năm 1995 khi đồng bath lên giá theo với đồng USD đã làm Thái Lan
mất đi hàng tỷ USD đầu t trực tiếp của nớc ngoài. Nh vậy từ việc mua sản
pẩm và dịch vụ nớc ngoài nhiều hơn là thu nhập từ xuất khẩu và đầu t, Thái
Lan trở thành nớc có mức thâm hụt tài khoản vãng lai cao nhất thế giới (8%
so với GDP năm 1996).
Theo phân tích cho thấy chính sách quản lý ngoại hối của Thái Lan t-
ơng đối tự do, cơ chế chuyển đổi ngoại tệ đồng bath khá dễ dàng, do đó tạo
điều kiện cho các luồng vốn nớc ngoài đổ vào hoặc chảy ra bất cứ lúc nào
theo ý kiến của các nhà đầu t. Chính vì vậy, khi có biến động trên thị trờng
Tài chính tiền tệ, luồng vốn ngoại tệ chuyển ra ngoài tăng mạnh, đã kéo theo
đồng Bath xuống giá. Bối cảnh này càng thúc đẩy giới đầu cơ trong và ngoài
nớc muốn phá giá đồng Bath để kiếm lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá.
Hơn nữa từ những năm trớc, giới đầu cơ tiền tệ đã có xu hớng chú
trọng nhiều vào các đồng tiền ASEAN ( mà đồng Bath là mục tiêu đầu tiên)
nên tới thời điểm này họ đã đồng loạt bán các đồng tiền này ra (ớc tính 10 -
15 tỷ USD ) để kiếm lời về giá cả. Cho nên việc tuyên bố phá giá ở Ngân
hàng trung ơng Thái Lan chẳng qua cũng chỉ là giải pháp cuối cùng nhằm
3
cứu vãn tình thế, nhng trên thực tế lại góp phần đẩy tỷ giá USD/bath tăng
thêm.
Trớc tình hình đó, Chính phủ Thái lan đã phải công bố những giải
pháp u tiên hàng đầu. Đó là sát nhập một số công ty tài chính với nhau (có số
vốn ít nhất là 7,5 tỷ bath) và dùng quỹ của Ngân hàng trung ơng Thái Lan để
cứu vãn tình trạng của khoảng 91 công ty có số nợ trên 200 triệu bath. Chính
phủ Thái Lan cũng kêu gọi sự giúp đỡ về mặt tài chính của các quốc gia
trong khu vực và IMF để có đợc ít nhất là 10 tỷ USD giải quyết cuộc khủng
hoảng Tài chính tiền tệ trầm trọng này.
Tất nhiên cuộc khủng hoảng này tác hại của nó không chỉ giới hạn
trong nền kinh tế Thái lan mà còn nhanh chóng lan sang các nớc khác nh
Malaysia, Indonesia, Philipin ... và đến nay hậu quả của nó đã ảnh hởng đến
thị trờng trờng Tài chính tiền tệ nhiều nớc Châu á, cũng nh có những ảnh h-
ởng nhất định tới các thị trờng tài chính Châu Âu, Bắc Mỹ.
2. ảnh hởng tới một số nớc
- ảnh hởng đến Philippin :
Với những khó khăn nội tại của nền kinh tế nhất là việc thâm hụt lớn
trong cán cân vãng lai(13% GDP ) và tác động khủng hoảng từ Thái Lan, vào
cuối tháng 6 đầu tháng 7/ 1997 , Ngân hàng trung ơng Philippin đã bỏ ra
khoảng 2 tỷ USD để bảo vệ đồng Peso. Ngày 1/7/1997 tỷ giá Peso/USD =
26,37 . Cũng nh Thái Lan do không chịu đợc sức ép quá lớn, ngày 7/7/1997
Ngân hàng trung ơng Philippin đã công bố nới rộng biên độ giao động tỷ giá
đồng Peso so với USD mà thực chất là sự phá giá đồng tiền không chính thức
nh ở Thái Lan. Dự trữ ngoại tệ của Philippin vào tháng 4/1997 chỉ có ở mức
16,3 tỷ USD. Đây quả là ít ỏi để bảo vệ giá trị đồng Peso. Sau khi nới rộng tỷ
giá, tỷ giá đồng Peso so với USD tăng lên 28,1 Peso/ USD và đạt đỉnh cao
4
vào cuối tháng 9/1997 với 34, 2 Peso /1USD. Đến nay tỷ giá vào khoảng 46
Peso/ USD và tỷ lệ mất giá của đồng Peso là 45% so với cuối tháng 6/1997.
- ảnh hởng đến Alayxia :
Năm 1996, một năm thành công đối với nền kinh tế nớc này. Đồng
Ringgit đã mạnh lên với mức 2,53 RM/USD vào giữa quý I/1997 tỷ giá
RM/USD = 2,48, nguyên nhân của sự tăng giá nàylà do sự tăng lên của các
nguồn vốn đầu t từ bên ngoài và do tình hình kinh tế đợc cải thiện và củng
cố. Nhu cầu đồng Ringgit tăng lên. Tuy nhiên, vào giữa tháng 4/1997 có
thông tin cho rằng Ngân hàng Negra Malaysia (BNM) đã can thiệp vào thị tr-
ờng để bảo vệ đồng Ringgit khi mà đồng tiền này bị đầu cơ. Đến cuối tháng
5/1997 lãi suất đã bắt đầu tăng lên và cả tỷ giá , lãi suất đã trở lại mức cuối
năm 1996 và có dấu hiệu mất giá.
- ảnh hởng đến Inđonexia :
Mặc dù đồng Rupi của Inđônêxia không bị sức ép căng thẳng nh đồng
Peso, nhng chính phủ Inđônexia đã công bố nới rộng khung can thiệp tỷ giá
từ 8% lên 12% vào ngày 11/7/1997 . Inđônêxia phải thực hiện giải pháp này
bởi vì qui mô nhỏ bé về dự trữ ngoại tệ của Inđônêxia và điều đó chỉ ra rằng
khả năng bảo vệ đồng tiền của họ chống lại các nhà đầu cơ tiền tệ là rất hạn
chế.
Sau một tuần mở rộng khung can thiệt, tỷ giá tăng lên mức
2520RP/USD và tỷ lệ mất giá của Rupi khoảng 8,2% vợt quá mức độ phá giá
trớc đây ( 4-6 % ). Ngày 13/5/1997 Ngân hàng trung ơng Inđônêxia đã phải
bỏ ra 500 triệu USD để giữ đồng Rupi biến động trong mức 12% . Cuối cùng
đến ngày 14/8/1997 Ngân hàng trung ơng Inđônêxia buộc phải tuyên bố thả
nổi đồng Rupi và giá trị đồng Rupi đã sụt xuống 4,5 % so với ngày hôm trớc.
Vào thời điểm cuối tháng 9/1997, tỷ giá đồng Rupi/USD là 3260. Sau đó tình
hình kinh tế và chính trị Inđônêxia có những biến động rất mạnh, rối loạn,
5
đồng Rupi bị mất giá mạnh. Vào thời điểm 10/1 tỷ giá khoảng 10.000
RP/USD . Giá trị đồng Rupi đã giảm 77% so với cuối tháng 6/1997.
- ảnh hởng đến Hàn quốc:
Trong số các trờng hợp ở các nớc nói trên thì cuộc khủng hoảng ở Hàn
quốc là nặng nề nhất. Đồng Won mất giá liên tục, ngày 3/11/1997 tỷ giá
Won/USD là 966,2 đến ngày 10/12/1997 tăng lên là 1450. Sự mất giá nhanh
chóng của đồng Won đã buộc Ngân hàng trung ơng Hàn quốc công bố thả
nổi đồng Won. Đồng thời có sự cải thiện trong cán cân thanh toán, mức
thặng d tháng 11/1997 là 600 triệu USD, so với mức thâm hụt của cùng kỳ
năm trớc là 2,07 tỷ giá USD, giá của đồng Won đã đợc ổn định hơn, tỷ giá
giảm xuống 1.400 Won/USD . Nh vậy, nếu so với cùng thời điểm trớc cuộc
khủng hoảng tiền tệ ở Đông nam á (cuối tháng 6/1997) thì giá trị của đồng
Won đã bị giảm khoảng 40%. Cùng với sự giảm giá của đồng tiền, giá cổ
phiếu trên thị trờng chứng khoán ở Hàn quốc
Những điều này không có nghĩa cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ
chỉ đa đến nhngc ảnh hởng tiêu cực mà còn đem lại một số tích cực nữa:
6
Phần II
Nguyên nhân khủng hoảng tiền tệ ở chân á
Nguyên nhân.
Nói về nguyên nhân của cuộc khủng hoản này có nhiều ý kiến khác
nhau. Tuy nhiên tổng kết lại có một số nguyên nhân chủ yếu sâu đây:
Tính trạng tăng trởng kinh tế quá nóng
Xét về mặt nguồn gốc thì đây là một nguyên nhân mà cái lợi thu đợc
nhiều hơn cái hại. Hầu hết các nớc trong khu vực đều là các nớc đang phát
triển. Nếu kinh tế còn kém xa hàng vài chục năm so với các nớc phát triển trên
thế giới. Nếu không có tốc độ tăng trởng cao (tốc độ tăng GDP từ 8-10% kéo
dài hàng thập kỷ qua) thì làm sao có thể đuổi kịp các nớc khác. Tốc độ phát
triển cao trong một thời gian dài đã đánh giá là sự thần kỳ của Châu á. Nh-
ng tại sao nó lại là nguyên nhân gây nên khủng hoảng.
Tốc độ tăng trởng cao tuy nhiên lại có sự đầu t mất cân đối và thiếu
hiệu quả, đặc biệt vào các lĩnh vực hạ tầng. Vào những năm 1990 Thái Lan
đã tập trung một lợng vốn lớn vào cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng vợt quả
khả năng tài chính của nớc này. Cơ sở hạ tầng là lĩnh vực đầu t với số lợng
vốn lớn, nền tảng của sự phát triển kinh tế, tuy nhiên nó có thời gian thu hồi
rất dài. Việc đầu t này có thể kích thích tăng trởng kinh tế do đầu t tăng lên
nhng kèm theo nó là gánh nặng nợ của Chính phủ (chủ yếu là nợ nớc ngoài.
Thêm vào đó trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lại đầu
t quá thiên lệch vào thị trờng bất động sản đòi hỏi phải có thời gian dài và rủi
ro của hoạt động này là rất cao. Trong khi các doanh nghiệp Thái Lan lại sử
dụng chủ yếu là nợ ngắn hạn đòi hỏi các doanh nghiệp này phải có độ thanh
khoản cao tức là có lợng vốn lu động, tiền khá lớn mới đảm bản khả năng
chi trả khi cha thể bán ngay đợc tài sản đầu t. Thực tế không phải nh vậy, các
7
ngân hàng sẵn sàng cho các doanh nghiệp vay tiền bằng cách thế chấp bất
động sản. Một điều đặc biệt nguy hiểm, bởi biến động của t tởng này rất khó
dự đoán.
Thực tế đã chứng minh là ở Thái Lan phần vay nơ kinh doanh bất động
sản tăng với tốc độ bàng khoản 10 lần tốc độ tăng trởng kinh tế Thái Lan.
Một sự tăng cũng ồ ạt trong khi sử dụng hết dẫn đến một sự giảm giá của
khu vực bất động sản. Điều này sẽ dẫnđến việc khủng hoảng ở khu vực bất
động sản và ảnh hởng trực tiếp tới khả năng trả nợ của các Doanh nghiệp sau
đó ảnh hởng hàng loạt đến các ngân hàng và Công ty tài chính vào tình trạng
không có khả năng thanh toán.
Nh vậy nguyên nhân đầu tiên cần khẳng định là do sự đầu t mất cân
đối trong nền kinh tế của các nớc này, đặc biệt là Thái Lan.
Khủng hoảng nợ đồng USD.
Trong một thời gian dài, các nớc Đông Nam á đã gắn tỷ giá hồi đoái
của mình với đồng USSD. Các Doanh nghiệp, ngân hàng trong nớc và cả nhà
đầu t nớc ngoài dần dà tin tởng vào sự ổn định của động nội tệ đối với USD.
Thêm vào đó, trong mấy năm qua, các nớc này đã tự do hoá và mở cửa thị tr-
ờng vốn của mình, tào điều kiện để các Doanh nghiệp và ngân hàng trong n-
ớc lần giới đầu t tài chính thế giới cho vay đồng USD lãi suất thấp, cho vay
lại bằng đồng nội tệ suất cao ăn chênh lệch lãi suất mà không phải lo sợ rủi
ro phá giá đồng nội tệ.
Nh vậy dự trữ ngoại tệ đã không đủ để trả nợ nớc ngoài,. Vì dòng chảy
USD vào nhiều nh vậy (thể hiện bằng việc vay ngân hàng nớc ngoài0 nên dù
4 nớc trên gặp thiếu hụt lớn tỏng cán cân thanh toán đơng kỳ 9từ 4% đến 8%
GDP), đồng tiền của nớc họ vẫn ổn định so với USD. Trong năm 1996, xuất
khẩu và tăng trởng kinh tế của các nớc này bắt đầu chậm lại, nhiều ngân
hàng và Công ty tài chính bắt đầu bị khó khăn vì cho vay quá nhiều vào khu
vực địa ốc. Các nhà đầu t tài chính quốc tế vì cậy bắt đầu đặt dầu hỏi về khả
8
năng có thể tiếp tục duy trì lãi suất cao để ổn định tỷ giá hồi đoái của nớc
này. Lãi suất cao sẽ thu hút luồng tài chính từ nớc ngoài vào nhiều cung về
ngoài tệ )USD) nhiều và nh vậy vẫn có khả năng giữ ổn định đợc tỷ giá.
Qua sự phân tích ở trên đây thì có thể thấy đợc việc vay nợ nớc ngoài
có thể giúp các nớc tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tuy nhiên nó cũng
có thể bóp chết các nớc này nếu nguồn vay đó không đợc sử dụng đúng
mục đích và có hiệu quả. Một bài học đặc giá cho việc quản lý nợ nớc ngoài
đối với khu vực t nhân, khu vực mà Chính phủ không kiểm soát đợc hoặc
không có khả năng kiểm soat.
Sự hoạt động yếu kém của hệ thống ngân hàng tài chính.
Đợc sự thông thoáng hơn trong việc vay vốn từ nớc ngoài từ phía
Chính phủ. Các ngân hàng đã huy động vốn USD từ các ngân hàng nớc ngoài
với lãi suất thấp.
Phần lớn số cho vay này nhằm tài trợ các dự án bất động sản (cao ốc
văn phòng, chung c và nhà ở, khách sạn...), các chơng trình đầu t lớn vào các
khu vực hiện trên thế giới đang thừa sức cũng nh hoá dầu, xe ôtô, sắt
thép...hay tài trợ các giới đầu t tài chính trong nớc mua cổ phiếu.
Khi thị trờng địa ốc suy giảm và thị trờng chính khoán bị phá giá
mạnh và các công trình công nghiệp không sinh lợi (vì bị cạnh tranh trên thị
trờng thế giới) thì các bên nợ bị thua lỗ, phá sản; kéo đến làm cho các ngân
hàng và công ty tài chính gặp khủng hoảng. Hiện nay, số d nợ quá hạn (con
nợ không trả lãi từ 6 tháng trở lên) đạt mức 23% của Malaysia, 205 GDP ở
Thái Lan, 115 ở Indonesia và 8% ở Philippine. Để có thể thấy đợc mức độ
của các con số đòi/GDP là 11% và Nhật đã phải trải qua 7 năm tăng trởng
chậm mà vẫn cha thoát ra khỏi khủng hoảng ngân hàng.
Cùng với sai lầm trong việc cho vay, một nhân tố quan trọng ở đây nữa
là tệ nạn tham nhũng trong hệ thống ngân hàng. Các tập đoàn lớn đã thao
9
túng nhiều cán bộ ngân hàng, làm cho số món vay không đợc đánh giá càng
và chính xác ngày một tăng.
Nh vậy một nguyên nhân nữa đã phân tích là sự yếu kém của hệ thống
ngân hàng và các trung gian tài chính. Sự yếu kém thể hiện trong phơng tứch
hay nói cách khác là phơng hớng và mục tiêu kinh doanh đã không đợc xác
định rõ ràng. Họ chỉ nhìn thấy lợi nhuân trớc mắt mà không tính đến tơng lai
phát triển của ngân hàng và sự đóng góp của ngân hàng vào việc phát triển
kinh tế. Một tỷ kệ nợ khó đòi rất cao cúng cha thể nói hết đợc ý nghĩa trong
vấn đề này. Hoạt động của ngân hàng phải theo sự chỉ đạo và mục đích phát
triển của nền kinh tế đất nớc.
Sai lầm trong chiến lợc xuất khẩu
Trong suốt một thập kỷ từ năm 1985 - 1995, đồng USD đã mất giá một
nửa so với các đồng tiền mạnh khác nh DM của Đức và Yên Nhật. Do việc
gắn chặt tỷ giá, hối đoái của mình so với hàng hoá thị trờng Châu á và Nhật.
Từ năm 1995 trở lại đây USD đã tăng gaias khoảng 20% so với DM và Yên,
làm giảm bớt tính cạnh tranh cảu hàng hoá Đông Nam á. đặc biệt là quan
trọng hơn, năm 1994 Trung quốc đã phá giái đồng nhân dân tệ khoảng 30%
làm cho các mặt hàng chế biến của Trung Quốc đã hấp dẫn trên thị trờng thế
giới. Lấn át thị phần của các nớc Đông Nam á. Thêm vào đó, giá kinh doanh
và sinh hoạt ở thủ đô các nớc trong khu vực trong mấy năm qua đã trở thành
đắt nhất thế giới, làm cho các nớc này mất đi lợi thế so sánh giá cả. Tổng kim
gạch xuất khẩu của các nớc Asean sau khi tăng trởng khoản 20% mỗi năm
trong hai năm 1994 - 1995 đã giảm mạnh còn 8% trong năm 1996.
Đồng thời với việc giảm xuất khẩu là việc tăng nhập khẩu, các nớc này
đã theo đuổi chính sách theo hớng xuất khẩu một cách cứng nhắc và tập
trung quá cao vào một vài mặt hàng theo kiểu độc canh đã làm mất dầu
khả năng cạnh tranh trên thị trờng Quốc tế và công nghệ chậm đợc đổi mới
làm cho tốc độ xuất khẩu giảm dẫn và nhập khẩy tăng lên, kết quả thâm hụt
10
tài khoản vãng lai tăng cao (thâm hụt tài khoản vãng lai năm 1996 của Thái
Lan là 8,5% so với GDP, Philippine là 13%. Để bù đắp thiếu hụt ngoại tệ
phải bổ xung bằng vay nợ, mà chủ yếu là vay nợ ngắn hạn nớc ngoài với
những điều kiện không nhuận lợi và lãi suất cao.
Việc chính sách tỷ giá gẵn chặt với đồng USD, cơ chế tỷ giá cố định
duy trì quá lâu nh phân tích ở trên là có lợi cho xuất khẩu khi đồng USD
giảm giá và không lợi khi USD tăng giá. Trong suốt 13 năm qua, tỷ gái đồng
Baht Thai Lan so với đồng USD luôn ở mức 24 - 25 Baht/USD. Chính sách
này trong thời gian gần đây đã vừa kìm hãm xuất khẩu, vừa kích thích tiêu
dùng quá mức. Hậu quả là chính sách hớng về xuất khẩu không những không
thực hiện đợc, còn xu hớng đầu t nớc ngoài để thay thế hàng nhập khẩu lại
bộc lộ khá rõ nét. Tình trạnh này càng làm cho nhập khẩu bị đẩy lên, cán cân
thơng mại thêm thâm hụt và căng thẳng hơn trớc.
Nh vậy nguyên nhân đợc nêu ra ở đây là các nớc này đã đánh mất đi
lợi thế của hàng hoá xuất khẩu do nguồn tài nguyên phong phú cộng với giá
nhân công rẻ hơn so với các nớc khác trên thế giới.
2. ảnh hởng khủng hoảng tiền tệ đến nền kinh tế của các quốc gia
trong khu vực
Tiêu cực
Sự phá giá của đồng bath và các đồng tiền khác của các nớc Đông
nam á gây ra hậu quả rất nghiêm trọng, lâu dài và tác động xấu đến mọi hoạt
động của đời sống kinh tế xã hội của đất nớc.
Trong giai đoạn trớc và trong khủng hoảng, các nớc đều phải tiêu tốn
số lợng ngoại tệ lớn để giữ cho đồng tiền không bị mất giá quá mức. Thái
Lan đã sử dụng 15 tỷ USD trong tổng 33 tỷ USD dự trữ ngoại tệ của Nhà nớc
để cứu nguy cho đồng bath, Philipin cũng đã sử dụng 20% tổng số dự trữ để
11