Phân tích tình hình cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà tại NHTM công thương chi nhánh Đà nẵng (2).doc

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA NHÀ TẠI NGÂN
HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG .............................. 15
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
LỜI MỞ ĐẦU
---    ---
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã phải đối mặt với bao khó khăn, thử thách:
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực; những thiên tai nặng nề
liên tiếp xảy ra. Vượt lên trên mọi khó khăn thử thách đó, Việt Nam ta vẫn hoàn thành
công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, vững bước
đưa Việt Nam trở thành con rồng Châu Á.
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng chung của nền kinh tế Việt Nam là tiến hành
CNH - HĐH, đẩy mạnh sự phát triển đất nước và tăng cường hòa nhập với kinh tế khu vực
và thế giới. Với vai trò là “trái tim” của nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng đang trở mình
trong công cuộc đổi mới và đa dạng hoá các nghiệp vụ Ngân hàng. Tuy nhiên, trong môi
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc các Ngân hàng phải “gồng mình” để hoàn thiện
và phát triển các hoạt động nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp
qua đó góp phần thực hiện mục tiêu chung của cả nước.
Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, đời sống của
người dân ngày càng được nâng cao kéo theo nhu cầu cũng tăng cao. Mặt khác sự gia tăng
dân số đã tạo ra sức ép về vấn đề giải quyết nhu cầu nhà ở cho người dân. Trong chủ
trương xây dựng và phát triển đất nước, nhiều kế hoạch giải tỏa mặt bằng, giải tỏa các khu
dân cư để làm đường, xây dựng các công trình cơ bản, các khu đô thị mới đã tác động đến
nhu cầu nhà ở của tầng lớp dân cư. Nhận thấy nhu cầu cấp thiết đó, NHTMCP Công
thương đã áp dụng hình thức cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở nhằm đáp ứng
tốt nhất nhu cầu nhà ở cho người dân.
Đây là hoạt động cho vay mới và là hoạt động cho vay có nhiều triển vọng của
Ngân hàng, mặc dù đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng nhưng tính rủi ro cao. Để nghiên cứu
kỹ và có giải pháp nâng cao hơn nữa hoạt động cho vay này em quyết định chọn đề tài:
“Phân tích tình hình cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà tại NHTM công
thương chi nhánh Đà nẵng”.
Đề tài gồm có ba chương:
Chương 1: Hoạt động cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà của NHTM.
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà tại chi
nhánh Đà nẵng
Chương 3: Một số giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay mua nhà;
xây dựng và sửa chữa nhà tại chi nhánh Đà nẵng
Để có thể hoàn thành chuyên đề này, em xin tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô bộ môn
đã cung cấp những kiến thức nền tảng. Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Đức Hậu
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn chỉnh khóa luận. Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến ban lãnh đạo, các anh chị ở các phòng, ban của VPBank - Bình Định đã chỉ
dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian thực tập để em có thể tiếp cận thực
tế một cách tốt nhất.
Mặc dù trong quá trình hoàn thành đề tài em đã rất cố gắng nhưng do còn nhiều hạn
chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
Vì vậy, rất mong nhận được sự giúp đỡ của quý cơ quan và các thầy cô để em có thể hoàn
thành tốt chuyên đề tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHO VAY MUA
NHÀ; SỮA CHỬA NHÀ Ở TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Ngân hàng thương mại
1 Định nghĩa Ngân hàng thương mại
Theo luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12
năm 1997, định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này còn định nghĩa: Tổ chức tín
dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo qui định của Luật này và theo các qui
định khác của Pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội
dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, Nghị định Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 có nêu: “NHTM là
ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác
có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà
nước”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán.
2 Chức năng của NHTM
 Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian :
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian tài chính khi ngân hàng đứng ra
tập trung, huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và sử dụng nguồn
vốn này để cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các ngành kinh tế và vốn tiêu dùng
trong xã hội. Trong chức năng này ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người
cho vay.
 Ngân hàng thương mại vừa là thủ quỹ vừa là trung gian thanh toán của khách hàng
:
Trong quan hệ kinh doanh thương mại, nếu khối lượng giao dịch lớn thì việc thanh toán
sẽ gặp khó khăn và cần có một tổ chức đứng ra đảm nhiệm công việc này. Ngân hàng tiến
hành nhập tiền hay chi trả tiền theo lệnh của khách hàng, với chức năng này ngân hàng
thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ từ đó làm tiết
kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội.
 Ngân hàng thương mại với chức năng tạo tiền:
Chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu
chuyển và phát triển nền kinh tế.
Chức năng trung gian tài chính và chức năng tạo tiền là hai chức năng cơ bản của ngân
hàng thương mại.
3 Đặc điểm của NHTM
- Đối tượng kinh doanh là tiền
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
- Hoạt động của NH có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau và các khách hàng
hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau
- Các NH hoạt động mang tính thống nhất
- Rủi ro trong kinh doanh lớn
- Hoạt động của NHTM chịu sự thống chế của NHNN về giá cả và lãi suất
4 Nghiệp vụ của NHTM
4.1 Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ)
Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân Ngân
hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, NHTM được phép sử dụng những
công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi
trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.
Thành phần nguồn vốn của NHTM gồm:
- Vốn điều lệ
- Các quỹ dự trữ
- Vốn huy động
- Vốn đi vay
- Vốn tiếp nhận
- Vốn khác
4.1.1Vốn điều lệ và các quỹ
* Vốn điều lệ và các quỹ của Ngân hàng được gọi là vốn tự có của Ngân hàng, là
nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động.
* Vốn điều lệ Ngân hàng trước hết dùng để: Xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc,
mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của Ngân
hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vay trung và dài hạn.
Các quỹ dự trữ của Ngân hàng: Đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình
tồn tại và hoạt động của NH, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ quy định trên số lợi
nhuận ròng của NH bao gồm: Quỹ dự trữ, quỹ dự phòng rủi ro, quỹ phát triển kỹ thuật
nghiệp vụ, quỹ khen thưởng phúc lợi.
Vốn tự có của NH là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy quy mô của
NH vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của NH đối với khách hàng.
4.1.2Vốn huy động
Đây là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền của các sở hữu chủ
mà NH tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi
khách hàng yêu cầu. Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:
• Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
• Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
• Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
• Tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
• Các khoản tiền gửi khác
Đối với tiền gửi của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất, thì nhu cầu giao dịch với những
tiện lợi nhanh chóng và an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn tiền này.
Đối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu tố quyết
định và người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục đích kiếm lời.
4.1.3Vốn đi vay
Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NTHM. Thuộc loại
này bao gồm:
- Vốn vay trong nước
+ Vay NHTW: NHTW sẽ tiếp vốn cho NHTM thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết
khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu có chất lượng. Làm như
vậy, NHTW sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với NHTM
+ Vay các NHTM khác thông qua thị trường liên Ngân hàng (Interbank Market)
- Vốn vay Ngân hàng nước ngoài.
4.1.4 Vốn tiếp nhận
Đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính NH, từ ngân sách Nhà nước… để tài
trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh… nguồn vốn
này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định.
4.1.5 Vốn khác
Đó là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của NH (đại lý, chuyển tiền,
các dịch vụ Ngân hàng…)
4.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn - Tài sản Có (cấp tín dụng và đầu tư)
Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến
khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận
chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của Ngân hàng. Thành phần tài sản Có của Ngân
hàng bao gồm:
• Dự trữ
• Cho vay
• Đầu tư
• Tài sản Có khác
4.2.1 Dự trữ
Hoạt động tín dụng của NH nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải đảm bảo an
toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng. Muốn có được sự tin cậy về phía khách
hàng, trước hết phải đảm bảo khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu cầu rút tiền của
khách hàng. Muốn vậy các NH phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để sẵn
sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ. NHTW được phép
ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiền gửi dự
trữ bắt buộc do Chính phủ quy định. Dự trữ bao gồm:
• Dự trữ sơ cấp
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
• Dự trữ thứ cấp
4.2.2 Cấp tín dụng
Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các NHTM
NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm:
• Cho vay: Là tín dụng nghiệp vụ của NHTM. Trong đó NHTM sẽ cho người đi vay
vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay
phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá
trình sử dụng vốn. Người đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến
việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay. Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất
lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn… do chủ quan
hoặc khách quan. Do đó khi cho vay các Ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm
vốn vay: thế chấp, cầm cố…
• Chiết khấu: Đây là nghiệp vụ cho vay gián tiếp mà NH sẽ cung ứng vốn tín dụng
cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho NH. Các đối tượng trong
nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác.
• Cho thuê tài chính: Là loại hình tín dụng trung, dài hạn. Trong đó, các công ty cho
thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị
theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. Người
đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi kết thúc hợp
đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết
bị cho bên cho thuê.
• Bảo lãnh Ngân hàng: Trong loại hình nghiệp vụ này khách hàng được NH cấp bảo
lãnh cho khách hàng nhờ đó khách hàng sẽ được vay vốn ở NH khác hoặc thực hiện hợp
đồng kinh tế đã ký kết
• Các hình thức khác
4.2.3 Đầu tư
Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nó mang lại
khoản thu nhập lớn và đáng kể của NHTM. Trong nghiệp vụ này, NH sẽ dùng nguồn vốn
ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như:
• Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty; hùn vốn mua cổ phần chỉ
được phép thực hiện bằng vốn của NH
• Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty…
Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác
nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động NH sẽ được phân tán, mặt khác đầu tư
vào trái phiếu Chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp
4.2.4 Tài sản Có khác
Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu là tài sản lưu động nhằm
xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị máy móc,
phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ… Ngoài ra còn có các khoản phải
thu, các khoản khác…
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
4.3. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ của Ngân hàng
Những dịch vụ NH ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp
vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho NH bằng
các khoản tiền hoa hồng, lệ phí … có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay
của NHTM. Các hoạt động này gồm:
• Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch
vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán…)
• Nhận bảo quản các tài sản quý giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng của công
chúng
• Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng
• Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc, đá quí
• Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu...
II Tổng quan về tín dụng ngân hàng
1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi
được thực hiện dưới hình thức bằng tiền hoặc bằng hàng hóa.
Đối với NHTM: “Tín dụng ngân hàng là một quan hệ giao dịch về tài sản giữa hai chủ
thể trong đó một bên là người cho vay (ngân hàng) chuyển giao một lượng giá trị (tiền
hoặc hàng hóa) cho người đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, và các chủ thể khác) sử dụng
trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận đồng thời bên đi vay phải cam kết hoàn trả
vô điều kiện vốn gốc kèm theo một khoản lợi tức khi đến hạn thanh toán”.
Tóm lại, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế, và các tầng lớp dân cư được thực hiện thông qua việc sử dụng
tiền tệ lẫn nhau dựa trên nguyên tắc hoàn trả vốn gốc và tiền lãi vay.
2. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
- Sự tin tưởng: đây là nghiệp vụ được thực hiện dựa trên sự tin tưởng về khả năng trả
nợ của ngân hàng thương mại đối với khách hàng cũng như sự tin tưởng vào tiềm lực tài
chính cũng như những ưu điểm vào ngân hàng của khách hàng.
- Tài sản: biểu hiện cho vốn dưới các hình thức chính: tiền, tài sản tài chính, hàng hóa,
thiết bị.
- Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị ban đầu: gốc và lãi
- Cam kết hoàn trả đúng hạn: quy mô, kỳ hạn
- Thu nhập từ các khoản cho vay là tiền lãi mà người đi vay trả cho ngân hàng. Chỉ có
tiền lãi thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh,
chi phí quản lý, các khoản phí và chi phí rủi ro đầu tư.
- Khoản mục cho vay chiếm quá nữa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 tổng
thu của NHTM nên cho vay là hoạt động chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Rủi ro
trong khoản mục cho vay rất lớn, rủi ro này có thể gây nên những hậu quả rất lớn, kể cả
nguy cơ phá sản.
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
- Kinh tế càng phát triển thì lượng cho vay của ngân hàng càng tăng nhanh và loại hình
càng đa dạng. Cho vay là lĩnh vực phức tạp và thường xuyên thay đổi theo biến động của
nền kinh tế. Do đó quản trị rủi ro tín dụng là rất quan trọng.
- Vấn đề mà NHTM cần quan tâm khi cấp tín dụng là: sẽ cho ai vay; sẽ đầu tư vào lĩnh
vực nào; lợi tức có cao không; có an toàn không.
3. Nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Nguyên tắc cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu đảm bảo cho ngân
hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. Muốn vậy, hoạt động cho vay của ngân hàng
phải lành mạnh và có hiệu quả. Cụ thể, các tổ chức tín dụng phải thực hiện tốt việc kiểm
tra khả năng hoàn trả của người xin vay trước khi cho vay, đảm bảo tính độc lập trong quá
trình kiểm tra, kiểm soát, tuân thủ quy trình cho vay, cho vay chỉ tiến hành trên cơ sở đảm
bảo theo đúng quy định.
Xuất phát từ bản chất của tín dụng là phải hoàn trả đúng hạn cả vốn và lãi. Hoạt động
tín dụng phải dựa trên các nguyên tắc sau:
- Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả: để đảm
bảo nguyên tắc hoàn trả và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối, thì khi cho vay, cần
phải biết người vay sử dụng vào mục đích gì, có khả năng thu hồi nợ hay không, lợi nhuận
tạo ra có đủ trang trải nợ gốc và lãi vay không, mức độ mạo hiểm như thế nào. Mục đích
của tín dụng thể hiện ở chỗ lựa chọn đối tượng cho vay, bao gồm cả hai mặt: cho ai vay và
cho vay cái gì. Cho vay có mục đích không chỉ giới hạn trong việc cho vay phải nhằm
đúng các đối tượng cụ thể, mà phải hướng việc cho vay vào những khâu mấu chốt nhằm
tạo hiệu quả. Khi việc cho vay được thực hiện một cách có mục đích thì khả năng mang lại
hiệu quả là điều gần như chắc chắn .
- Vay vốn phải hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả vốn và lãi: nguyên tắc này thể hiện đầy
đủ của tín dụng là sự hoàn trả trọn vẹn, đầy đủ về mặt giá trị và có thêm lợi tức theo công
thức vận động của quỹ cho vay. Nó cũng đảm bảo tôn trọng quy luật lưu thông tiền tín
dụng: tiền tín dụng thường xuyên quay trở lại nơi phát hành ra nó. Để thực hiện nguyên tắc
này đòi hỏi phải sử dụng công cụ kỳ hạn nợ hợp lý, tổ chức thu nợ nhanh chóng kịp thời,
… điều đó vừa đảm bảo cho hoạt động tín dụng được tiến hành thường xuyên liên tục, vừa
thúc đẩy các tổ chức đi vay quan tâm hoàn thành đúng thời hạn kế hoạch và hợp đồng kinh
tế.
- Vốn vay phải có bảo đảm: thực chất của nguyên tắc này là sự đảm bảo khả năng thu
hồi nợ cho tổ chức tín dụng. Có nhiều hình thức đảm bảo khác nhau: thế chấp, tín chấp,
bảo lãnh, cầm cố... Hiện nay vấn đề cho vay có bảo đảm ở nước ta được xem xét ở nhiều
góc độ. Trong một chừng mực nào đó sự bảo đảm tốt nhất cho một khoản vay chính là khả
năng tài chính của người vay và tính khả thi của phương án vay vốn. Vì thế việc thẩm định
khả năng tài chính và phương án cho vay có tầm quan trọng hàng đầu.
III Nghiệp vụ cho vay mua nhà của ngân hàng thương mại
1. Khái niệm
Cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở là một hình thức cho vay được thực
hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó khách hàng sử
dụng tiền vay để mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở, và có trách nhiệm phải hoàn trả
đầy đủ vốn gốc và lãi theo quy định trong hợp đồng tín dụng.
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
2. Mục đích cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở của ngân hàng
- Cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở là một hình thức cho vay của ngân
hàng nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của ngân hàng.
- Sản phẩm tín dụng ra đời ngày càng nhiều và càng đa dạng đáp ứng cho nhu cầu
của khách hàng ngày càng mở rộng. Tạo điều kiện cho khách hàng cải thiện tình trạng nhà
ở và đáp ứng một cách kịp thời cho người dân.
- Thông qua hoạt động cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở nhằm đáp
ứng nhu cầu cho những khách hàng có nhu cầu thấp, hoặc chưa có đủ vốn để mua, xây
dựng một căn nhà mới.
3. Đặc điểm cho vay mua nhà mại
• Hạn mức vay: Mức cho vay không vượt quá 70% giá trị tài sản thế chấp
• Tài sản đảm bảo của khoản vay:
- Tài sản cầm cố hoặc thế chấp thuộc sở hữu khách hàng vay vốn (nhà, quyền sử dụng
đất, sổ tiết kiệm...)
- Tài sản đảm bảo chính là căn nhà định xây mua sửa chữa hoặc diện tích đất được
chuyển nhượng
• Loại tiền vay: VND
• Lãi suất cho vay: qui định trong từng thời kỳ
• Thời hạn vay:
- Vay trả góp mua nhà: Tối đa 10 năm
- Vay trả góp mua nền nhà theo đất đã được quy hoạch để xây dựng nhà mới, mua căn
hộ, hoặc xây dựng, sửa chữa, nâng cấp nhà tối đa 5 năm
• Phương thức trả nợ: Trả lãi hàng tháng và vốn trả vào cuối kỳ (nếu vay ngắn hạn)
hoặc trả dần (vốn + lãi) hàng tháng (nếu vay trung dài hạn).
4. Các nguyên tắc trong cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở của Ngân
hàng Thương mại
4.1 Nguyên tắc cho vay
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: Khách hàng vay vốn phải sử dụng đúng
mục đích như đã cam kết trong hợp đồng vay vốn và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về những hành vi sai trái trong quá trình sử dụng vốn.
- Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi theo đúng thời hạn cam kết: Nguyên tắc
này định ra nhằm đảm bảo cho các NHTM hoạt động một cách bình thường. Mặt khác
nguồn vốn cho vay chủ yếu là nguồn vốn huy động nên Ngân hàng phải quản lý là sử dụng
sao cho vừa đảm bảo an toàn vừa mang lại lợi cho Ngân hàng. Ngân hàng hoạt động chủ
yếu trên nguồn vốn của người khác, đó là khoản tiền ngân hàng tạm thời quản lý và sử
dụng, khi khách hàng cần rút Ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng ngay. Nếu khoản tín dụng
không được hoàn trả đúng hạn thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả cũng như uy tín của
Ngân hàng.
- Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị tương đương: Thông thường các khoản cho
vay mua nhà đất thường khá lớn, và mang tính rủi ro cao bên cạnh những lợi ích có được.
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
Vì vậy để đảm bảo chắc chắn đối với khoản mục cho vay thì Ngân hàng yêu cầu khách
hàng thực hiện nguyên tắc đảm bảo giá trị bằng giá trị tài sản tương đương.
4.2 Đối tượng cho vay
Mỗi cá nhân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không bị mất trí, không bị truy
cứu trách nhiệm hình sự. Có nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo hoặc nâng cấp nhà ở có
hộ khẩu thường trú trên địa bàn NH đóng trụ sở đều có thể tham gia vay vốn của Ngân
hàng để đáp ứng nhu cầu của mình.
4.3 Phương thức cho vay
Nếu là mua nhà thì NH cho vay theo thể thức tay ba. Tức là cho vay bằng cách trả
thẳng cho người bán căn cứ trên giá cả thực tế do hai bên mua, bán thỏa thuận trong hợp
đồng mua, bán có chứng nhận của phòng công chứng.
Nếu là xây dựng mới thì NH cho vay theo tiến độ xây dựng phù hợp với những điều
trong hợp đồng mà người vay và người xây dựng đã ký (nếu có).
Nếu là cải tạo và sửa chữa nhà có thể phát tiền vay một hoặc nhiều lần tùy theo yêu
cầu của khách hàng.
4.4 Điều kiện cho vay
- Khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu là 30% tổng nhu cầu vốn cần vay.
Có tài sản đảm bảo hoặc bảo lãnh của bên thứ 3 theo quy định của NHTM và NHNN.
- Khách hàng phải có thu nhập ổn định đủ để đảm bảo trả nợ.
- Gía trị cho vay không vượt quá 70% giá trị tài sản thế chấp.
- Khách hàng phải mở tài khoản giao dịch tại NH cần vay vốn.
- Có hộ khẩu thường trú tại địa bàn mà NH đó đang hoạt động.
- Ngôi nhà mua; xây dựng hoặc sửa chữa phải có nguồn gốc rõ ràng và hợp pháp, hoặc
những vị trí thuận tiện, dễ bán và dễ chuyển đổi.
- Khách hàng phải cam kết thực hiện đầy đủ các quy định trong hợp đồng và các quy
định của pháp luật.
4.5 Cách trả nợ vay
- Thời hạn trả nợ và kỳ hạn trả nợ do Tổng Giám Đốc (Giám Đốc) của NHTM quy
định cụ thể.
- Ngân hàng bắt đầu thu nợ sau 3 tháng kể từ khi phát món vay cuối cùng.
- Số tiền trả nợ cụ thể hàng ky cho Ngân hàng và người đi vay thỏa thuận.
- Người đi vay có thể trả nợ vay trước thời hạn vay ghi trên khế ước.
- Người vay trả xong nợ trước hạn được Ngân hàng giảm lãi suất cho vay nhưng tối đa
không quá 1%/năm. Lãi được tính trên số dư còn lại và được thu cùng lúc với việc trả nợ
gốc.
IV. Những chỉ tiêu để phân tích tình hình cho vay mua nhà; xây dựng & sửa
chữa nhà ở của Ngân hàng Thương mại.
1. Phân tích theo mục đích sử dụng
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
Dựa vào mục đích sử dụng của khách hàng, có thể phân tích theo các chỉ tiêu: cho vay
để mua nhà, xây dựng hay sửa chữa nhà ở. Mục đích của việc phân chia này là để nắm rõ
từng nhu cầu trong từng lĩnh vực của khách hàng. Qua đó có thể biết được với mục đích
vay nào của khách hàng chiếm tỷ trọng cao và mục đích sử định nào vẫn chưa phát triển.
Từ đó Ngân hàng có thể đưa ra kế hoạch và phương hướng hoạt động cụ thể hơn đạt được
kết quả kinh doanh tốt nhất.
2. Phân tích theo thời hạn vay
Ta phân tích tình hình cho vay xây dựng và sửa chữa nhà ở của ngân hàng theo thời hạn
vay nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý theo dõi tình hình cho vay
của Ngân hàng về các khoản nợ một cách hiệu quả hơn. Thông thường các ngân hàng
thường chia thành các thời hạn là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việc xác định đúng thời
gian sẽ giúp cho ngân hàng thu được nợ đúng hạn, theo dõi kỹ các thời kỳ trả nợ gốc, lãi
của khách hàng nhằm hạn chế thấp nhất các rủi ro.
3. Phân tích theo hình thức bảo đảm.
Một trong những vấn đề mà bất kỳ ngân hàng nào cũng quan tâm khi cho khách hàng
vay vốn đó là sự an toàn của vốn. Trong hoạt động cho vay của ngân hàng thì vấn đề được
quan tâm nhất đó chính là rủi ro và lợi nhuận. Hai vấn đề này luôn có mối quan hệ với
nhau, nếu lợi nhuận cao sẽ dẫn đến rủi ro cao và ngược lại nếu rủi ro thấp thì lợi nhuận đạt
được sẽ thấp. Vì vậy, muốn cho vay cán bộ tín dụng phải thẩm định rất kỹ và cân nhắc một
cách thân trọng. Để đảm bảo an toàn cho ngân hàng khi cho vay, khách hàng cần có tài sản
để đảm bảo cho khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Hoạt động cho vay xây
dựng và sửa chữa nhà ở là hình thức mang lại lợi nhuận cao, đồng thời rủi ro cũng rất lớn,
vì tình hình nhà đất và giá nguyên liệu vật liệu xây dựng luôn biến động. Ngân hàng đã
đưa ra các hình thức nhằm đảm bảo sự an toàn về vốn khi cho vay. Có 2 hình thức bảo
đảm:
- Thế chấp bằng căn nhà, đất dự định xây dựng, sửa chữa hoặc bất động sản khác thuộc
quyền sở hữu của người đi vay.
- Cam kết bảo lãnh của bên thứ ba. Có thể là các cá nhân sở hữu bất động sản cam kết
bảo lãnh cho người đi vay nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân
hàng.
4. Phân tích theo đối tượng cho vay.
Việc phân tích tình hình cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở theo đối tượng
vay giúp cho ngân hàng theo dõi được các khoản vay một cách chặt chẽ hơn. Ngân hàng có
thể xác định được các khách hàng của ngân hàng thuộc vào nhóm đối tượng nào có đảm
bảo được khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn hay không. Từ đó ngân hàng có thể đưa ra
các kế hoạch cho vay phù hợp và đáp ứng được nhu cầu về vốn của khách hàng, khi cho
vay cán bộ tín dụng giãi quyết và đưa ra các phương án vay hợp lý, đem lại hiệu quả cao
cho cả ngân hàng và khách hàng.
V Những chỉ tiêu đánh giá tình hình cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa
nhà ở
1. Chỉ tiêu doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ:
Doanh số cho vay trong một thời kỳ (thường tính theo quý/năm) phản ánh lượng vốn
mà ngân hàng đã giãi ngân cho khách hàng là bao nhiêu. Con số và tốc độ của doanh số
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
cho vay qua các năm phản ánh quy mô và xu hướng của hoạt động tín dụng là mở rộng hay
thu hẹp.
Doanh số thu nợ cho biết lượng vốn mà ngân hàng thu hồi được trong một thời kỳ nhất
định (quý, năm), phản ánh tình hình thu nợ của khách, so sánh con số này với doanh số cho
vay để xem hoạt động thu nợ của ngân hàng có hiệu quả hay không, từ đó cho thấy chất
lượng của khoản vay giúp ta quan sát được diễn biến hoạt động của ngân hàng.
Dư nợ phản ánh lượng vốn mà khách hàng sử dụng của ngân hàng tại một thời điểm cụ
thể, là con số này mà tăng trưởng để và ổn định qua các năm chứng tỏ quy mô hoạt động
cho vay tăng lên, điều đó đồng nghĩa với việc hiệu quả cho vay được nâng cao, tình hình
hoạt đồn của ngân hàng tiến triển tốt.
2 Chỉ tiêu về nợ xấu.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi đã quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này đánh giá chất lượng của khoản vay, nếu tỷ lệ này thấp có nghĩa là chất lượng
khoản vay này cao và ngược lại, nếu tỷ lệ này cao thì chất lượng của khoản vay thấp. Ngân
hàng nào cũng phải duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp. Chúng ta đều biết ngân hàng
là một tổ chức đi vay để cho vay. Nếu ngân hàng cho vay mà không đòi được được nợ thì
sẽ không trả được nợ cho khách hàng gửi tiền cũng như cho những tổ chức, cá nhân khác
mà ngân hàng đã vay tiền. Điều đó sẽ dẫn tới uy tín của ngân hàng bị giảm sút, thậm chí bị
phá sản.
Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên, bên cạnh đó là những khoản nợ
cơ cấu có thời hạn trả nợ dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại.
3 Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
Nợ xấu
Tổng dư nợ
Đây là một tỷ lệ để đánh giá chất lượng cho vay. Cũng giống như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ
này càng thấp thì chất lượng cho vay của ngân hàng càng cao và ngược lại.
VI. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay mua nhà; xây dựng và sửa
chữa nhà của Ngân hàng Thương mại
1. Sự tăng trưởng về dân số
Tăng trưởng dân số là làm tăng mọi nhu cầu của xã hội và theo đó nhu cầu về nhà ở
tăng lên. Lượng cầu về nhà ở là một đại lượng tỷ lệ thuận với yếu tố dân số, đặc biệt khi
dân số càng tăng cao sẽ gây ra những đột biến về cầu nhà ở của người dân. Như vậy, sự
tăng trưởng dân số là yếu tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay mua nhà; xây dựng và
sửa chữa nhà của NHTM.
2. Thu nhập của dân cư
Nhu cầu về nhà ở là nhu cầu cơ bản thiết yếu không thể thiếu với mỗi người dân. Do
vậy, cầu về nhà ở tối thiểu sẽ tăng lên tương ứng với tốc độ tăng của thu nhập. Khi mức
thu nhập tăng lên qua giới hạn đói nghèo, cầu về nhà ở thiết yếu bắt đầu tăng nhanh. Tuy
nhiên, khi thu nhập tiếp tục tăng thêm, nhu cầu nhà thiết yếu có xu hướng giảm dần và cầu
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
về nhà ở cao cấp tăng lên. Như vậy, dù mức thu nhập tăng quá nhanh hay giảm mạnh đều
ảnh hưởng đến hoạt động cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà của NHTM.
3. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế, Việt Nam đang từng bước
hoàn thiện cơ cấu nền kinh tế, thực hiện chính sách tăng trưởng trong mọi ngành, mọi lĩnh
vực… Đất nước ngày càng phát triển thì đời sống của người dân ngày càng được nâng cao,
nhu cầu về một ngôi nhà khang trang cũng là điều tất yếu. Vì vậy, hoạt động cho vay mua
nhà; xây dựng và sửa chữa nhà nói riêng và hoạt động tín dụng nói chung của NH sẽ thuận
lợi.
4. Dự kiến quy hoạch
Việc phát triển mạnh các khu công nghiệp và tăng mức độ thu hút đầu tư bên ngoài vào
các đô thị sẽ làm tăng mức cầu về mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở. Việc thực hiện
các dự án cải tạo cơ sở hạ tầng tại các đô thị hiện hữu hoặc tại các khu đô thị mới có thể
tác động nhanh chóng làm tăng mức cầu về mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở của
người dân.
Ngoài ra, việc tăng nhanh tốc độ đô thị hoá là một yếu tố vừa tác động đến cả yếu tố
cung cũng như cầu về mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở làm ảnh hưởng đến hoạt động
cho vay mua nhà; xây dựng và sửa chữa nhà ở của NHTM.
5. Thị trường
Thị trường cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của NHTM, yếu tố thị
trường tác động đến đầu vào đầu ra của sản phẩm, của hàng hóa, trong sản xuất kinh
doanh. Đôi lúc nó tác động bất lợi đến tiêu thụ sản phẩm gây khó khăn cho ngươi sản xuất,
từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của Ngân hàng vì người sản xuất vay vốn của Ngân
hàng.
6. Thiên tai
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, người sản xuất kinh doanh vay vốn của Ngân
hàng gặp phải những rủi ro như: nắng hạn kéo dài, mưa lũ, chăn nuôi bị dịch bệnh…,
không được thu hoạch nên không có vốn trả nợ vốn vay gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
cho vay của Ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, còn phải kể đến một số yếu tố khác ảnh hưởng không nhỏ tới quy mô và tính
chất của cầu về nhà ở đó là trình độ phát triển sản xuất, sự chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế,
tác động của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế v.v..
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA NHÀ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
I Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và Ngân hàng Công
thương Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng
1. Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Tên đầy đủ: NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM.
Tên đầy đủ (Tiếng Anh): VietNam Bank for Industry and Trade
Tên giao dịch quốc tế: VietinBank
Trụ sở chính: 108 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.9427933 Fax: 04.9427937
Web Site: http://www.vietinbank.vn
Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT VN) được thành lập năm 1988, trên cơ sở
Vụ Tín dụng Công nghiệp và Vụ tín dụng Thương nghiệp thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
Ngân hàng Công Thương Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mại hàng
đầu ở Việt Nam. Đến nay, mạng lưới hoạt động của Vietinbank đã hoạt động rộng khắp
56/64 tỉnh thành phố trong cả nước với 3 sở giao dịch, 141 chi nhánh và trên 700 phòng
giao dịch, quỹ tiết kiệm.
NHCT Việt Nam hiện là chủ sở hữu của các công ty hạch toán độc lập: Công ty Cho
thuê Tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản,
Công ty TNHH Bảo hiểm và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin và
Trung tâm Thẻ, Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Là sáng lập viên và đối tác liên doanh của Ngân hàng INDOVINA.
Có quan hệ đại lý với trên 850 ngân hàng lớn trên toàn thế giới.
Ngân Hàng Công Thương Việt Nam là một Ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp
chứng chỉ ISO 9001:2000.
Là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội các ngân hàng Châu Á,
Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), Tổ chức Phát hành và
Thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế.
Là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thương mại điện tử
tại Việt Nam.
Không ngừng nghiên cứu, cải tiến các sản phẩm, dịch vụ hiện có và phát triển các sản
phẩm mới nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu của khách hàng.
• Sứ mệnh
Là tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng, cung cấp
sản phẩm và dịch vụ theo chuẩn mực quốc tế, nhằm nâng cao giá trị cuộc sống.
• Mục tiêu
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Đức Hậu
Trở thành tập đoàn tài chính ngân hàng hiện đại, hiệu quả hàng đầu trong nước và quốc
tế.
• Giá trị cốt lõi
- Mọi hoạt động đề hướng tới khách hàng;
- Năng động, sáng tạo, chuyên nghiệp, tận tâm, minh bạch, hiện đại;
- Người lao động được quyền phấn đấu, cống hiến làm việc hết mình - được quyền
hưởng thụ đúng với chất lượng, kết quả, hiệu quả của cá nhân đóng góp - được quyền tôn
vinh cá nhân xuất sắc, lao động giỏi.
• Triết lý kinh doanh
- An toàn, hiệu quả, bền vững và chuẩn mực quốc tế.
- Đoàn kết, hợp tác, chia sẻ và trách nhiệm xã hội.
- Sự thịnh vượng của khách hàng là thành công của ViettinBank.
• Sologan: Nâng giá trị cuộc sống
Đến với ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, quý khách sẽ hài lòng về chất
lượng sản phẩm, dịch vụ và phong cách phục vụ chuyên nghiệp, nhiệt tình với phương
châm: “Tin Cậy, Hiệu Quả, Hiện Đại”
1.2 Giới thiệu chung về Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Đà
Nẵng
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng Công Thương Việt Nam chi
nhánh Đà Nẵng.
- Tên đầy đủ: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng.
- Tên tiếng Anh: VietNam Bank for Industry and Trade – Danang Branch.
- Tên viết tắt : Vietinbank
- Thay đổi logo thương hiệu từ Incombank sang Vietinbank từ 15/4/2008.
- Ngày thành lập: 01/11/1988
Ngân hàng Công thương Đà Nẵng có trụ sở tại 172 đường Nguyễn Văn Linh, thành
phố Đà Nẵng.
Chi nhánh hoạt động dưới sự điều hành chỉ đạo trực tiếp từ ngân hàng Công thương
Việt Nam, mọi kế hoạch cân đối tín dụng thuộc chi nhánh đều phải được tổng giám đốc
ngân hàng Công thương Việt nam phê duyệt, chi nhánh có điện báo định kỳ về hoạt động
kinh doanh của mình cho ngân hàng Công thương Việt Nam.
Hiện nay ngân hàng công thương Đà Nẵng có hai chi nhánh trực thuộc đóng tại quận
Liên Chiểu và quận ngũ Hành Sơn.
Các nghiệp vụ kinh doanh: Huy động nguồn vốn các tổ chức, cá nhân bằng VNĐ và
ngoại tệ, Dịch vụ mở tài khoản, nhận tiền gửi thanh toán, chuyển tiền qua NH, dịch vụ
Ngân hàng quốc tế, dịch vụ thẻ, bảo lãnh, dịch vụ ngân quỹ, kiều hối, ngoại hối, tư vấn đầu
tư…
1.2.2 Chức năng nhiệm vụ:
SVTH: Phạm Xuân Tuấn - Lớp 08CDN1 16