86 Phương hướng hoàn thiện mô hình tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Thương mại – Du lịch có qui mô lớn trên địa bàn Tiền Giang

LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
[\

ĐOÀN VĂN PHƯƠNG
Đề tài:
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN MÔ HÌNH
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI –
DU LỊCH CÓ QUI MÔ LỚN TRÊN ĐỊA BÀN
TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ







Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 2005


_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 1
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________



MỤC LỤC
¾ Lời cảm ơn
¾ Lời mở đầu
Chương I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở CÁC DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI – DU LỊCH ....................................................................... 01
1. Đặc điểm quản lý và tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp thương mại du lòch

2. Cơ chế kinh doanh hiện nay và mối quan hệ của nó với vấn đề tổ chức công
tác kế toán.
2.1. Đặc trưng cơ bản của cơ chế kinh doanh hiện nay ....................... 03
2.2. Mối quan hệ giữa kinh doanh theo cơ chế quản lý hiện nay và vấn đề tổ chức công
tác kế toán ở doanh nghiệp thương mại du lòch. .............................................................04
3. Vai trò của kế toán trong quản lý kinh doanh và những căn cứ nhiệm vụ cơ bản của tổ
chức công tác kế toán .....................................................................................................05
3.1. Vai trò kế toán trong công tác quản lý.
3.1.a. Phân loại kế toán
3.1.b. Vai trò của kế toán trong công tác quản lý.
3.2. Nhiệm vụ kế toán ......................................................................... 09
3.3. Những căn cứ để tổ chức công tác kế toán một cách khoa học và
hợp lý
4. Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp ..................................... 11
4.1. Nguyên tắc và nội dung tổ chức công tác kế toán
4.2. Lựa chọn hình thức tổ chức kế toán và xây dựng mô hình bộ máy kế toán 13
4.2.1. Hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung.
4.2.2. Hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán.
4.2.3. Hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân
tán.
4.3. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, tổ chức công tác hạch
toán ban đầu, kế hoạch luân chuyển và xử lý chứng từ.18

4.4. Vân dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất phù hợp
với đặc điểm doanh nghiệp thương mại - du lòch........... 19
4.5. Lựa chọn hình thức kế toán........................................................... 21
...........................................................................................................................
...........................................................................................................................
4.6. Tổ chức công tác kiểm tra kế toán....................................................
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 2
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

4.7. Tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán ................................... 22
...........................................................................................................................
4.8. Ứng dụng tin học trong công tác kế toán. ..................................... 23


Chương II THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI – DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TIỀN GIANG................ 25
1. Tổng quan ngành thương mại – du lòch Tiền Giang .....................................
2. Môi trường kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp thương mại – du
lòch .....................................................................................................................28
3. Thực trạng về tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp thương mại – du
lòch hiện nay................................................................................................... 31
3.1 Vài nét về chế độ kế toán và vận dụng chế độ kế toán
trong ngành thương mại – du lòch.................................. 32
3.2 Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, công tác hạch toán
ban đầu, luân chuyển và xử lý chứng từ ....................... 33
3.3 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán .............. 36
3.4 Hình thức tổ chức công tác kế toán ............................... 39
4. Lập và phân tích báo cáo kế toán............................................................... 42
5. Ứng dụng tin học trong công tác kế toán.....................................................
6. Nguyên nhân những tồn tại yếu kém........................................................ 43
Chương III : HƯỚNG HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI – DU LỊCH................................... 45
1. Hoàn thiện việc hạch toán ban đầu, hệ thống chứng từ và luân chuyển chứng
từ.
2. Vận dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất trong doanh nghiệp và xây
dựng hệ thống tài khoản sử dụng cho kế toán quản trò .................................... 53
3. Lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán và xây dựng bộ máy kế toán hợp
lý ........................................................................................................................ 56
4. Lưa chọn hình thức kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán trong các doanh
nghiệp TM – DL................................................................................................. 59
5. Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán......................................................... 61
6. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán............................ 68
7. Hoàn thiện vấn đề tổ chức kiểm tra nội bộ....................................................
8. Một số đề xuất kiến nghòä ............................................................................. 70

¾ Kết luận

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 3
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________


Những năm gần đây, thực hiện chính sách kinh tế mở, nền kinh tế nước ta
đã có những chuyển biến cơ bản cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Hòa cùng với
việc ổn đònh về chính trò, mở rộng quan hệ ngoại giao, sự tăng trưởng và phát
triển của nền kinh tế, ngành thương mại – du lòch cũng có những chuyển biến
mạnh mẽ và đổi mới thực sự trong cách thức kinh doanh và phương thức quản
lý. Với vai trò là công cụ quản lý kinh tế, kế toán phải được đổi mới một cách
thực sự nhằm đáp ứng với yêu cầu của cơ chế quản lý trong giai đoạn mới hiện
nay, đó là sự đan xen lẫn nhau giữa hội nhập và cạnh tranh đang là xu hướng
diễn ra trên toàn thế giới.
Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ
chức công tác quản lý ở doanh nghiệp. Với chức năng cung cấp thông tin và
kiểm tra các hoạt động kinh tế - tài chính trong doanh nghiệp nên công tác kế
toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả quản lý ở một doanh
nghiệp. Hơn thế nữa, nó còn ảnh hưởng đến việc đáp ứng các yêu cầu quản lý
khác nhau của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp nhưng có quyền lợi trực
tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có các cơ
quan chức năng của nhà nước ( cơ quan tài chính, thuế, ngân hàng...).
Trong điều kiện của nền kinh tế thò trường, khi mà các vấn đề cạnh tranh
để tồn tại và phát triển giữa các doanh nghiệp diễn ra có tính chất thường
xuyên, phức tạp và mang tính khốc liệt thì chất lượng thông tin của kế toán được
khẳng đònh như là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đảm bảo sự an
toàn và khả năng mang lại thắng lợi cho các quyết đònh kinh tế. Để thông tin kế
toán thực sự hữu ích, phục vụ kòp thời cho các đối tượng sử dụng thì việc tổ
chức công tác kế toán một cách khoa học và hợp lý là vô cùng quan trọng, nó
quyết đònh sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Để góp
phần vào việc hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán ở các doanh nghiệp thương
mại – du lòch, tác giả tiến hành đi sâu nghiên cứu đề tài “ phương hướng hoàn
thiện mô hình tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thương mại – du lòch
có qui mô lớn trên đòa bàn Tiền Giang“.
1/ Mục đích của đề tài : nhằm hoàn thiện một bước về mặt lý luận tổ chức
công tác kế toán, làm cơ sở cho việc lý giải các luận cứ khoa học, giải quyết các
vấn đề thực tiễn đang đòi hỏi. Mặt khác, trên cơ sở lý luận đã nghiên cứu, luận
án sẽ chỉ ra những khả năng và điều kiện vận dụng lý luận vào thực tiễn trong
ngành thương mại – du lòch.
2/ Phương pháp nghiên cứu đề tài: dựa trên cơ sở những luận điểm khoa
học của chủ nghóa duy vật biện chứng và những nguyên lý của chủ nghóa Mác –
Lênin , nghiên cứu các vấn đề thực tiễn một cách logic , có cơ sở khoa học, sử
dụng các phương pháp kinh tế tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 4
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

so sánh, ..... và một số phương pháp khoa học khác để phân tích các vấn đề,
khái quát hóa và tổng hợp để rút ra các kết luận cần thiết. Dựa vào việc khảo
sát thực tế về tổ chức công tác kế toán hiện nay ở các doanh nghòêp thương
mại - du lòch để thấy rõ những tồn tại và những mặt tích cực của nó . Trên cơ sở
đó đưa ra những phương hướng hoàn thiện phù hợp và có khả năng thực hiện
được.
3/ Phạm vi của đề tài: chỉ giới hạn trong nghiên cứu hoàn thiện một số vấn
đề về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp thương mại – du lòch thuộc
sở hữu nhà nước, các Công ty cổ phần có qui mô lớn trên đòa bàn Tiền Giang.
Vì tổ chức công tác kế toán là việc làm tương đối phức tạp, đa dạng và phong
phú , do đó để có thể nghiên cứu trọng điểm đề tài chỉ giới hạn ở các vấn đề
chủ yếu.
4/ Những đóng góp của đề tài:
Luận văn đã hệ thống hóa và phân tích nhiều vấn đề thuộc về lý luận và
thực tiễn, đã có những đóng góp sau đây :
- Luận văn đã làm sáng tỏ khái niệm cũng như những đặc điểm chủ
yếu của doanh nghiệp thương mại- du lòch trong cơ chế thò trường đònh hướng xã
hội chủ nghóa. Đây là vấn đề có ý nghóa thực tiễn to lớn. Thông qua đó luận văn
đã phân tích những vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán ở các doanh
nghiệp thương mại – du lòch trong điều kiện thực hiện cơ chế quản lý mới.
- Luận văn đã giải quyết một cách có cơ sở khoa học các mối quan hệ
khách quan giữa việc tổ chức hợp lý và khoa học công tác kế toán với cơ chế
quản lý mới. Hệ thống hóa và phân tích vai trò của kế toán đối với công tác
quản lý hiện nay và chỉ ra rằng cần phải tổ chức hợp lý và khoa học công tác
kế toán.
- Luận văn góp phần hoàn thiện công tác luân chuyển chứng từ, công
tác hạch toán ban đầu, công tác ghi sổ và lập báo cáo kế toán.
- Luận văn góp phần hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát hệ thống
kế toán doanh nghiệp.
Nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương. Ngoài ra còn có
phần mở đầu và phần kết luận.
- Chương I : Những vấn đề lý luận về tổ chức công tác kế toán ở các doanh
nghiệp Thương mại – Du lòch.
- Chương II : Thực trạng về tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp
thương mại – du lòch hiện nay.
- Chương III : Hướng hoàn thiện mô hình tổ chức công tác kế toán tại các
doanh nghiệp thương mại – du lòch.
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 5
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

CHƯƠNG I :
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC
CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở CÁC DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI – DU LỊCH.

1/. Đặc điểm quản lý và tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp thương
mại du lòch.
Doanh nghiệp thương mại - du lòch là đơn vò kinh tế có tư cách pháp nhân,
có tài khoản riêng mở tại các ngân hàng, có trách nhiệm sử dụng vốn có hiệu
quả, bảo toàn vốn và thực hiện nghóa vụ với ngân sách nhà nước theo luật
đònh. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế mới, cơ chế thò trường có sự điều
tiết vó mô của Nhà nước, hoạt động thương mại – du lòch có ý nghóa quan trọng.
Ý nghóa đó thể hiện trên nhiều góc độ khác nhau về kinh tế, chính trò, xã hội ...
Về mặt kinh tế , hoạt động thương mại – du lòch có ý nghóa cụ thể sau đây :
Về thương mại: Trong quá trình tái sản xuất xã hội , thương mại là cầu nối
giữa sản xuất và tiêu dùng, bảo đảm cho quá trình tái sản xuất diễn ra một cách
bình thường và liên tục, bảo đảm cho tiêu dùng ngày một phát triển cả về hiệu
quả và chất lượng, qua đó quyết đònh tính chất và trình độ phát triển của một
nền kinh tế.
Thông qua thương mại mà sản xuất tạo ra các sản phẩm theo yêu cầu của
thò trường cả về số lượng, chất lượng, mẫu mã ... đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và
xuất khẩu. Như vậy, chỉ có thông qua thương mại thì sản xuất mới có thể đổi
mới cơ cấu sản xuất, mở rộng qui mô, cải tiến công nghệ.... tạo ra các sản
phẩm mới, ngày càng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng và trên cơ sở đó các cơ sở
sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng hoạt động, mở rộng qui mô phát triển.
Sản phẩm sản xuất ra , thông qua thương mại , sản phẩm được tiêu thụ,
tức là làm cho các nhu cầu tiêu dùng được đáp ứng. Thông qua tiêu dùng,
thương mại phát hiện ra các nhu cầu tiêu dùng mới cũng như sự thay đổi của cơ
cấu tiêu dùng, qua đó thương mại phản ánh lại với sản xuất, tác động đến sản
xuất để sản xuất thay đổi , đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và từ đó làm cho các nhu
cầu tiêu dùng được thỏa mãn và phát triển.
Thương mại có vai trò hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hợp lý . Trên cơ sở
các qui luật về giá trò, qui luật về cung cầu, qui luật cạnh tranh,... thương mại
cung cấp thông tin, hướng dẫn sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất cho
ai, tiêu thụ ở đâu, cung ứng như thế nào, thời gian nào... ; nên sản xuất với mức
chi phí như thế nào để phù hợp nhu cầu của tiêu dùng có khả năng thanh toán;
tránh và hạn chế việc sản xuất hoặc cung ứng kém hiệu quả, không phù hợp
với nhu cầu tiêu dùng, gây lãng phí các nguồn lực của cải vật chất xã hội.
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 6
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

Thương mại có vai trò thông tin và hướng dẫn tiêu dùng một cách hợp lý.
Điều đó có nghóa là giúp người tiêu dùng lựa chọn các loại hàng hóa, dòch vụ
đáp ứng đúng ,đủ kòp thời nhu cầu của mình, sử dụng một cách văn minh và
hiệu quả. Thương mại không những giúp cho sản xuất đáp ứng tốt hơn nhu cầu
tiêu dùng mà còn có vai trò kích thích nhu cầu phát triển và tạo ra các nhu cầu
mới.
Thương mại nghiên cứu xây dựng các đònh mức tiêu dùng giúp sản xuất
nắm bắt và đònh hướng mở rộng qui mô sản xuất phù hợp với qui mô tiêu dùng,
bao gồm tiêu dùng để sản xuất ra hàng hoá, tiêu dùng của dân cư và các tiêu
dùng khác.
Thương mại có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế . Trong nền kinh tế thò
trường, thương mại có vò trí, vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế . Thông qua tác động của thương mại mà sản xuất chuyển dòch
cơ cấu theo yêu cầu của thò trường và sự phát triển của sản xuất lại thúc đẩy
thương mại phát triển. Sự tác động và thúc đẩy lẫn nhau giữa thương mại và
sản xuất đã làm xã hội hóa quá trình sản xuất xã hội ngày càng cao và làm nền
kinh tế ngày càng phát triển.
Đối với sản xuất hàng hóa , thương mại thúc đẩy quá trình lưu thông và tiêu
thụ hàng hóa cả trong và ngoài nước, từ đó kích thích và thu hút đầu tư để mở
rộng, phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều của cải, vật chất cho xã hội.
Đối với hoạt động dòch vụ, thương mại thúc đẩy quá trình mở rộng và phát
triển các loại hình dòch vụ : thương mại, du lòch, lao động, bảo hiểm , dòch vụ
ngân hàng, bưu chính viễn thông,......
Trên cơ sở đó , thương mại góp phần thuận lợi hóa các hoạt động kinh tế
xã hội , đem lại nguồn thu lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là nguồn thu từ xuất
khẩu dòch vụ.
Đối với Tiền Giang, thương mại đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh
tế của tỉnh, thương mại là chiếc cầu nối trong việc tiêu thụ hàng hóa nông sản,
thủy sản và các hàng hóa phục vụ sản xuất, chế biến. Với vò trí thuận lợi là
trung tâm thương mại của đòa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long, được coi
là đầu mối giao lưu thương mại giữa thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền
Tây Nam bộ. Tốc độ phát triển thương mại bình quân hàng năm là 9,4%, tổng
mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 2004: 7.700 tỷ đồng , tăng trưởng bình quân
13,1% năm, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 10%/ năm, kim ngạch nhập
khẩu tăng 15%/năm, tỷ trọng thương mại trong cơ cấu GDP từ 28% lên 32%
trong giai đoạn 2005 – 2010.
Về du lòch : Ngày nay du lòch không chỉ là ngành kinh tế mang lại hiệu quả
kinh tế cao, mà còn là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển của tất cả các ngành
trong nền kinh tế, tạo ra tích lũy ban đầu cho nền kinh tế, là phương tiện quan
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 7
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

trọng để thực hiện chính sách mở cửa và là chiếc cầu nối giữa thế giới bên
ngoài với đòa phương trong nước. Phát triển du lòch còn tạo ra sự tiến bộ xã hội,
thắt chặt tình hữu nghò hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
Nhiều quốc gia xem phát triển du lòch như một quốc sách, một ngành kinh tế
mũi nhọn
Trong những năm gần đây, các chỉ tiêu phát triển của du lòch Việt Nam
luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực và thế giới: trong
10 năm(1990 – 2001) khách quốc tế tăng xấp xỉ 10 lần, khách du lòch nội đòa
tăng gần 12 lần, thu nhập du lòch tăng trung bình 25%/năm. Từ năm 1999 đến
2002 , nhòp độ tăng trưởng bình quân của ngành luôn đạt xấp xỉ 15%/năm.
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng khá nhanh, từ hơn 1,7 triệu lượt
khách năm 1999 đến 2,4 triệu lượt khách năm 2001, và năm 2002 được đánh
dấu là năm bùng nổ về du lòch, đón hơn 2,6 triệu lượt khách quốc tế. Khách nội
đòa tăng từ 10 triệu lượt năm 1999 lên 13 triệu lượt người năm 2002. Năm 1999,
thu nhập du lòch đạt 15.600 tỷ đồng, đến năm 2002 đã tăng lên 23.500 tỷ
đồng(trên 1 tỷ USD). Năm 2003, tuy phải chòu tác động của chiến tranh Irắc và
đặc biệt là bệnh dòch SARS, du lòch Việt Nam vẫn nhanh chóng chuyển từ thế bò
động sang chủ động trong khắc phục hậu quả , sớm lấy lại nhòp độ tăng trưởng
và duy trì, nâng cao hình ảnh Việt Nam , du lòch Việt Nam “An toàn, thân thiện,
hấp dẫn”. Năm 2003, toàn ngành đón 2,43 triệu lượt khách quốc tế, trên 13 triệu
lượt khách nội đòa, thu nhập du lòch đạt 22.000 tỷ đồng.
Tiền Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, có đầy đủ đặc trưng
của các tỉnh Miền Tây Nam Bộ, cách TP.HCM 70 km đường bộ, đây là lợi thế
cho việc phát triển du lòch so với các tỉnh khác, bình quân cứ ba đoàn khách đến
TP.HCM có một đoàn tham quan du lòch tại Tiền Giang. Tốc độ phát triển khách
du lòch quốc tế đến Tiền Giang trong giai đoạn 2001- 2005 là 15,08%, tốc độ
phát triển khách nội đòa là 9,42% . Tại nghò quyết của ban chấp hành Đảng bộ
tỉnh khoá VIII xác đònh là “ Thúc đẩy phát triển du lòch tương xứng với tiềm năng
của tỉnh…. Và tạo điều kiện cho ngành du lòch trở thành một ngành kinh tế quan
trọng“
2/. Cơ chế kinh doanh hiện nay và mối quan hệ của nó với vấn đề tổ
chức công tác kế toán.
2.1/ Đặc trưng cơ bản của cơ chế kinh doanh hiện nay .
- Nền kinh tế nước ta đã và đang là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, tương ứng với các thành phần kinh tế đó là chế độ sở hữu khác nhau
được hoạt động bình đẳng và đan xen nhau, được phép cạnh tranh thu lợi nhuận
tối đa trong khuôn khổ của pháp luật. Điều đó tạo ra động lực mạnh mẽ trong
các doanh nghiệp thương mại – du lòch để vươn ra chiếm lónh thò phần; đồng thời
các doanh nghiệp cũng không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý kinh doanh
nhằm đứng vững trên thương trường và đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận.
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 8
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

- Nền kinh tế hoạt động tuân theo một hệ thống qui luật kinh tế khách
quan của nền sản xuất hàng hoá. Trong đó , qui luật giá trò, qui luật cung cầu là
những qui luật chi phối. Song song với việc phát huy tối đa các qui luật kinh tế
khách quan, Nhà nước tham gia điều tiết nền kinh tế một cách thích hợp thông
qua các công cụ quản lý kinh tế của mình, để đảm bảo môi trường kinh tế, môi
trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển lành
mạnh. Nhà nước thông qua hệ thống các qui đònh, thể lệ có tính pháp lý để điều
chỉnh quá trình hoạt động của các doanh nghiệp. Thông qua đó tạo cho doanh
nghiệp chủ động sáng tạo trong kinh doanh trên cơ sở tôn trọng pháp luật.
- Doanh nghiệp thương mại – du lòch là một phần tử của nền kinh tế,
hoạt động theo cơ chế thò trường với mục đích thu lợi nhuận tối đa, song phải tôn
trọng các chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước. Kết hợp hài hòa giữa
lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, nhằm tạo ra sự phát triển
chung trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
2.2/ Mối quan hệ giữa kinh doanh theo cơ chế quản lý hiện nay và
vấn đề tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp thương mại – du lòch.
Khác với cơ chế quản lý kinh doanh kiểu bao cấp, kinh doanh theo cơ
chế thò trường đòi hỏi các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại
– du lòch nói riêng phải thực hiện hạch toán kinh doanh, chủ động sáng tạo tìm
thò trường, lấy lợi nhuận làm thước đo hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Muốn
vậy, doanh nghiệp phải tính toán đầy đủ và chính xác các chi phí đầu vào trên
tinh thần tiết kiệm để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong môi trường
hoạt động nhiều biến đổi của cơ chế thò trường, doanh nghiệp phải tự tìm giải
pháp để tăng doanh thu và nâng uy tín của doanh nghiệp trên thò trường. Mọi sự
thay đổi của cơ chế kinh doanh đều có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức
khoa học và hợp lý công tác kế toán. Điều đó là một tất yếu khách quan, vì kế
toán là công cụ để quản lý kinh tế. Do đó, khi cơ chế kinh doanh thay đổi thì tất
yếu công cụ quản lý kinh tế đó cũng thay đổi theo cho phù hợp, giúp cho việc
chỉ đạo quá trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Mối quan hệ giữa cơ chế thò trường với vấn đề tổ chức công tác kế
toán có mối quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau trong công tác tổ chức
và quản lý. Thể hiện cụ thể của mối quan hệ đó ở các vấn đề sau:
a/. Cơ chế mới – cơ chế thò trường thay đổi sẽ làm hàng loạt các chính
sách kinh tế, tài chính thay đổi. Trong đó có cả sự thay đổi về cách thức kinh
doanh, phương pháp quản lý. Điều này đòi hỏi tất yếu phải thay đổi cơ chế
quản lý, mà nội dung cốt lõi là vấn đề tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp
lý, phù hợp với chế độ kế toán và đặc điểm kinh doanh cụ thể của từng doanh
nghiệp.
b/. Trong vấn đề tổ chức công tác kế toán, các doanh nghiệp được
chủ động lựa chọn các hình thức kế toán, các mô hình tổ chức bộ máy kế toán
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 9
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

và các tài khoản kế toán chi tiết hoặc sổ kế toán chi tiết nhằm đáp ứng nhu cầu
quản lý của doanh nghiệp, trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, tuân thủ
các chế độ và các qui đònh của luật kế toán hiện hành.
Tổ chức công tác quản lý thông qua việc sử dụng kế toán làm công
cụ, đòi hỏi phải căn cứ vào yêu cầu quản lý và đặc điểm cụ thể của từng doanh
nghiệp để tổ chức bộ máy kế toán và hình thức kế toán phù hợp. Các tài khoản
hoặc sổ chi tiết kế toán cần mở để theo dõi một cách chi tiết từng đối tượng
theo yêu cầu quản lý. Việc sử dụng các sổ chi tiết để theo dõi chi tiết các đối
tượng có liên quan chặt chẽ đến vấn đề quản lý các đối tượng đó. Chỉ có thể
quản lý tốt khi kế toán theo dõi được tình hình hiện có và sự vận động của các
đối tượng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
c/. Cơ chế thò trường tạo ra cho đơn vò quyền chủ động sáng tạo trong
kinh doanh, được phép huy động mọi khả năng tiềm tàng về vốn, nguồn nhân
lực, và các yếu tố sản xuất kinh doanh khác. Quyền chủ động, sáng tạo trong
kinh doanh trên cơ sở tôn trọng pháp luật có ý nghóa lớn trong việc lựa chọn các
phương án quản lý, lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán và xây dựng bộ
máy kế toán phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý và trình độ chuyên môn của
kế toán. Ngược lại, khi được phép chủ động lựa chọn cách thức quản lý thông
qua việc tổ chức công tác kế toán sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy
tính chủ động, sáng tạo trong kinh doanh. Do đó, tổ chức khoa học và hợp lý
công tác kế toán sẽ tạo điều kiện để mở rộng phân cấp quản lý tài chính trong
nội bộ doanh nghiệp nhằm mở rộng quyền chủ động sáng tạo của doanh
nghiệp.
Như vậy , phân tích mối quan hệ giữa cơ chế kinh doanh theo cơ chế thò
trường với vấn đề tổ chức khoa học và hợp lý công tác kế toán sẽ cho phép
nghiên cứu sâu sắc sự tác động qua lại giữa chúng. Cho thấy sự cần thiết phải
tổ chức công tác kế toán phù hợp với yêu cầu mới, nhằm tạo cho kế toán thực
sự trở thành công cụ quan trọng để quản lý kinh tế. Chỉ có trên cơ sở tổ chức tốt
công tác kế toán mới có điều kiện thúc đẩy nhanh chóng quá trình hoàn thiện
cơ chế mới phù hợp với đặc điểm của ngành thương mại – du lòch trong giai
đoạn hiện nay.
3./ Vai trò của kế toán trong quản lý kinh doanh và những căn cứ
nhiệm vụ cơ bản của tổ chức công tác kế toán.
3.1/ Vai trò kế toán trong công tác quản lý:
a./ Phân loại kế toán
Kế toán là công cụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý
và xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống kinh tế xã hội loài người.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người và sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật, kế toán – một môn khoa học cũng đã có sự thay đổi , phát triển
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 10
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

không ngừng về nội dung phương pháp ... để đáp ứng được yêu cầu quản lý
ngày càng cao của nền sản xuất xã hội.
Hiện nay, có nhiều đònh nghóa, nhận thức về kế toán ở những phạm
vi, góc độ khác nhau.
Giáo sư , tiến só Robert Anthony – một nhà nghiên cứu lý luận kinh
tế nổi tiếng của trường Đại học Harward của Mỹ cho rằng “Kế toán là ngôn ngữ
kinh doanh”.
Giáo sư , tiến só Grence Allen Gohlke của viện đại học Wisconsin
đònh nghóa : “Kế toán là một khoa học liên quan đến việc ghi nhận, phân loại,
tóm tắt và giải thích các nghiệp vụ tài chính của một tổ chức, giúp cho Ban
Giám đốc có thể căn cứ vào đó để ra các quyết đònh kinh tế”.
Trong tài liệu “Nguyên lý kế toán Mỹ” , Ronanld J. Thacker nêu
quan điểm của mình về kế toán xuất phát từ việc cung cấp thông tin cho công
tác quản lý. Theo Ronanld J . Thacker thì “Kế toán là một phương pháp cung
cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá hoạt động của
mọi tổ chức “.
Các tổ chức kế toán kiểm toán quốc tế cũng nêu ra những khái
niệm về kế toán như sau:
Theo Ủy ban thực hành Kiểm toán Quốc tế (International Auditing
Practices Committee ) thì “Một hệ thống kế toán là hàng loạt các loại nhiệm vụ
ở một doanh nghiệp mà nhờ hệ thống này các nghiệp vụ được xử lý như một
phương tiện duy trì các ghi chép tài chính”.
Liên đoàn kế toán Quốc tế thì cho rằng : “Kế toán là nghệ thuật ghi
chép, phân loại, tổng hợp theo một cách riêng có bằng những khoản tiền, các
nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và
trình bày kết quả của nó”.
Trong điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ban hành kèm theo Quyết
đònh số 25- HĐBT ( nay là Chính phủ ) cũng đã khẳng đònh : “Kế toán là việc ghi
chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trò, hiện vật và thời gian lao động
chủ yếu dưới hình thức giá trò để phản ánh , kiểm tra tình hình vận động của các
loại tài sản, quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí
của Nhà nước cũng như của từng tổ chức, xí nghiệp. Đối với Nhà nước kế toán
là công cụ quan trọng để tính toán, xây dựng và kiểm tra việc chấp hành quản
lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ , sử dụng tài sản, vật
tư tiền vốn nhằm đảm bảo việc chủ động trong sản xuất, kinh doanh và chủ
động tài chính cho tổ chức xí nghiệp ..” .
Trong Luật kế toán Việt Nam (áp dụng từ ngày 01/ 01/ 2004) có
nêu : “Kế toán là việc thu thập xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trò , hiện vật và thời gian lao động”.
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 11
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

Các khái niệm về kế toán nêu trên , cho ta thấy được những nhận
thức, quan niệm về kế toán ở những phạm vi, góc độ khác nhau nhưng đều gắn
kế toán với việc phục vụ cho công tác quản lý. Do vậy, kế toán là công cụ
không thể thiếu được trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế, kế toán là khoa
học thu nhận , xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động
của tài sản, các hoạt động kinh tế , tài chính trong đơn vò, nhằm kiểm tra, giám
sát toàn bộ hoạt động kinh tế , tài chính của đơn vò.
Kế toán có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau, giúp
cho chúng ta nhận thức được nội dung, mục đích, phạm vi ... của từng loại kế
toán.
Căn cứ vào phương pháp ghi chép , phản ảnh trên các tài khoản kế
toán , thì kế toán chia thành :
- Kế toán đơn : Là việc ghi chép phản ảnh trên các tài khoản kế
toán riêng biệt , không có quan hệ đối ứng với các tài khoản khác.
- Kế toán kép : Là việc ghi chép , phản ánh các nghiệp vụ kinh tế,
tài chính vào các tài khoản kế toán theo mối quan hệ khách quan giữa các đối
tượng kế toán và đúng mối quan hệ đối ứng giữa các tài khoản kế toán.
Căn cứ vào mức độ , tính chất thông tin phản ánh , kế toán được
chia thành:
- Kế toán tổng hợp : Là việc ghi chép phản ánh một cách tổng quát
trên các tài khoản, sổ kế toán và các báo cáo tài chính theo chỉ tiêu giá trò.
- Kế toán chi tiết : Là việc ghi chép, phản ánh một cách chi tiết, cụ
thể các đối tượng, các nghiệp vụ cần phải quản lý, theo dõi cụ thể chi tiết và có
thể sử dụng các loại thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trò tùy
theo yêu cầu quản lý .
Căn cứ nội dung , phạm vi tính chất, mục đích cung cấp thông tin
đáp ứng nhu cầu sử dụng của các đối tượng kế toán chia thành:
- Kế toán tài chính: là việc ghi chép, phản ánh xử lý tổng hợp số
liệu lập báo cáo tài chính phục vụ cho nhu cầu sử dụng thông tin cho các đối
tượng bên ngoài đơn vò là chủ yếu. ( các cơ quan Thuế , Tài chính, Ngân hàng,
các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan thanh tra ...).
- Kế toán quản trò : là việc ghi chép, phản ánh, xử lý và cung cấp
thông tin một cách chi tiết cho các nhà quản trò doanh nghiệp để ra được các
quyết đònh quản lý phù hợp với yêu cầu quản trò doanh nghiệp.
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 12
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

b./ Vai trò của kế toán trong công tác quản lý.
Sản phẩm cuối cùng của kế toán là hệ thống báo cáo kế toán,
trong đó chứa đựng những thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng ra
được các quyết đònh quản lý phù hợp với mục đích sử dụng thông tin của mình.
Các đối tượng sử dụng thông tin do kế toán tài chính xử lý tổng hợp
cung cấp có thể chia thành :
- Các nhà quản lý doanh nghiệp .
- Những đối tượng có lợi ích trực tiếp.
- Những đối tượng có lợi ích gián tiếp.
Các nhà quản lý doanh nghiệp : Chủ doanh nghiệp , Ban Giám
đốc, Hội đồng quản trò, trong quá trình ra các quyết đònh quản lý, họ sẽ nghiên
cứu những thông tin trình bày trên các báo cáo kế toán để tìm ra những câu trả
lời cho những câu hỏi khác nhau:
- Năng lực sản xuất của đơn vò như thế nào ?
- Đơn vò SXKD có lãi hay không ?
- Tình hình công nợ và khả năng thanh toán công nợ ?
- Hàng hoá tồn kho nhiều hay ít ?
- Quy mô sản xuất nên thu hẹp hay mở rộng ?
- Có nên chuyển hướng kinh doanh hay không ?
- Có thể tăng giá trò sản phẩm hay sản xuất giới thiệu sản phẩm
mới hay không ..?
Như vậy , thông qua các thông tin trên báo cáo kế toán cung cấp,
các nhà quản lý doanh nghiệp biết được tình hình sử dụng các loại tài sản, lao
động vật tư tiền vốn, tình hình chi phí và kết quả hoạt động SXKD .. . nhằm
phục vụ cho việc điều hành, quản lý kòp thời cũng như việc phân tích, đánh giá
tình hình, kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp từ đó đề ra các biện pháp,
quyết đònh phù hợp cho phương hướng phát triển của doanh nghiệp.
Những đối tượng có lợi ích trực tiếp đối với thông tin do kế toán
cung cấp là các chủ đầu tư, chủ nợ, các cổ đông, những đối tác liên doanh. Căn
cứ vào những thông tin kế toán của doanh nghiệp họ có thể ra được các quyết
đònh đầu tư, cho vay, góp vốn nhiều hay ít, đầu tư cho lónh vực ngành nghề nào,
chính sách đầu tư ra sao....
Những đối tượng có lợi ích gián tiếp tới thông tin kế toán, đó là các
cơ quan quản lý chức năng như : Thuế, Tài chính, Thống kê, Chính phủ ...Các
cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước dựa vào thông tin do kế toán cung
cấp để kiểm tra, giám sát các hoạt động SXKD của doanh nghiệp, để kiểm tra
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 13
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

việc chấp hành, thực hiện các chính sách , chế độ về quản lý tài chính, để quản
lý và điều hành thống nhất toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Cũng trên cơ sở các
thông tin kế toán tài chính của các doanh nghiệp mà các cơ quan quản lý chức
năng, các cơ quan ban hành chính sách, chế độ tổng hợp nghiên cứu, hoàn
thiện các chế độ quản lý hiện hành và đề ra những chính sách, chế độ thích
hợp, nhằm thực hiện các kế hoạch, đường lối phát triển nhanh chóng và toàn
diện nền kinh tế quốc dân.
Qua những điều phân tích nêu trên , ta thấy mục đích của kế toán
là xử lý, cung cấp thông tin cần thiết cho các đối tượng sử dụng khác nhau, với
mục đích khác nhau, để ra được các quyết đònh quản lý phù hợp. Điều này nói
lên vai trò quan trọng của kế toán trong quản lý kinh tế tại doanh nghiệp, cũng
như quản lý vi mô và vó mô của Nhà nước.
3.2/ Nhiệm vụ kế toán
Điều 5 Luật kế toán quy đònh các nhiệm vụ của kế toán bao gồm :
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung
công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
- Kiểm tra giám sát các khoản thu chi tài chính, các nghóa vụ thu, nộp,
thanh toán nợ; Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài
sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính , kế
toán.
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán, tham mưu đề xuất các giải pháp
phục vụ yêu cầu quản trò và quyết đònh kinh tế, tài chính của đơn vò.
- Cung cấp thông tin , số liệu kế toán theo quy đònh của pháp luật.
3.3/ Những căn cứ để tổ chức công tác kế toán một cách khoa học
và hợp lý.
+ Tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý là tiền đề cần thiết để
kế toán thực hiện tốt vai trò của mình và thực sự trở thành công cụ sắc bén
trong quản lý kinh tế. Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng đối với từng bộ phận
kế toán trong phòng kế toán cũng như xác đònh các mối quan hệ hữu cơ giữa
các bộ phận kế toán là điều kiện nâng cao hiệu quả quản lý. Muốn vậy cần phải
lựa chọn được bộ máy kế toán phù hợp với đặc điểm tổ chức kinh doanh và
trình độ của nhân viên kế toán.
+ Tổ chức vận dụng các phương tiện tính toán hiện đại vào công tác
kế toán, nhằm thu nhận được các thông tin kinh tế tài chính một cách chính xác
và xử lý kòp thời thông tin đó, đồng thời cung cấp đầy đủ thông tin cho lãnh đạo
doanh nghiệp để kòp thời có những phương án kinh doanh tối ưu, tăng năng suất
lao động và giảm nhẹ cường độ của nhân viên kế toán.
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 14
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của tin học , tin
học thực sự trở thành lực lượng sản xuất tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuất , giúp con người đạt được những thành tựu cao hơn, xa hơn. Do đó, đòi hỏi
vấn đề tổ chức công tác kế toán phải triệt để, ứng dụng các phương tiện tính
toán hiện đại một cách hợp lý, để không ngừng nâng cao hiệu quả và tính hữu
ích của thông tin kế toán cung cấp.
+ Qui đònh cụ thể chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của từng bộ phận,
từng nhân viên kế toán trong việc ghi chép kế toán, kiểm tra, xử lý thông tin
cũng như xác đònh rõ mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán với nhau và với các
bộ phận khác trong doanh nghiệp.
+ Thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, kiểm toán nội bộ, hướng dẫn
cán bộ công nhân viên thực hiện tốt chế độ chính sách qui đònh hiện hành. Đây
là nhiệm vụ rất quan trọng của tổ chức công tác kế toán, nhằm phát hiện những
sai sót, gian lận trong việc ghi chép, xử lý và cung cấp thông tin, đảm bảo cho
kế toán thường xuyên nắm bắt kòp thời các thông tin. Muốn vậy, phải xây dựng
kế hoạch kiểm tra, kiểm toán một cách cụ thể, qui đònh rõ ràng thời gian kiểm
tra, phạm vi và yêu cầu kiểm tra ... Trong quá trình kiểm tra, kiểm toán nếu phát
hiện những nhược điểm cần phải uốn nắn kòp thời nhằm đưa công tác kế toán
vào nề nếp.
4./ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
4.1/ Nguyên tắc và nội dung tổ chức công tác kế toán.
Để phát huy chức năng và vai trò quan trọng trong công tác quản lý
hoạt động SXKD của các doanh nghiệp, đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toán
khoa học, hợp lý nhằm cung cấp thông tin một cách kòp thời, đầy đủ và trung
thực, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế theo cơ chế thò trường, đònh hướng
XHCN.
Sự chuyển hướng nền kinh tế phát triển theo kinh tế thò trường và cơ
chế quản lý mới đã có những ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ tới việc tổ chức
công tác kế toán trong các doanh nghiệp. Chính vì vậy, cần xuất phát từ những
đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thò trường và sự tác động của chúng tới việc tổ
chức công tác kế toán. Ngoài ra việc tổ chức công tác kế toán trong các doanh
nghiệp còn chòu sự ảnh hưởng trực tiếp và có mối quan hệ chặt chẽ với cơ chế
quản lý mới.
Cơ chế quản lý hành chính, tập trung bao cấp gắn liền với nền kế toán
kế hoạch hoá tập trung. Nền kinh tế thò trường đòi hỏi phải có sự thay thế, đổi
mới hàng loạt công cụ quản lý và phải có cơ chế quản lý thích hợp, đó là cơ chế
thò trường. Mặc dù nền kinh tế của nước ta được vận hành, quản lý theo một cơ
chế đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện dần, đạt tới sự hoàn chỉnh cho
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 15
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

phù hợp với nền kinh tế thò trường, song vẫn thấy được những nét cơ bản của cơ
chế quản lý mới khác hẳn với cơ chế tập trung, bao cấp, đó là :
- Thay kiểu quản lý theo mệnh lệnh, chủ quan, duy ý chí bằng cơ chế
thò trường, thực hiện việc quản lý bằng các quy luật khách quan vốn có của nền
kinh tế sản xuất hàng hoá, coi trọng tư duy thực tế. Hoạt động SXKD của doanh
nghiệp được quản lý bằng bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình.
- Cơ chế thò trường tạo nên sự chủ động thực sự của các doanh
nghiệp. Doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc xây dựng phương án sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp phải tự trang trải, bù đắp chi phí, chòu rủi
ro, chòu trách nhiệm về kết quả hoạt động SXKD của mình. Cơ chế quản lý tập
trung, bao cấp cũng đã từng đề cao nguyên tắc hạch toán kinh doanh, song chỉ
là giấy tờ, hình thức. Do khuôn khổ cứng nhắc của nền kinh tế tập trung và cơ
chế bao cấp đã không tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi, môi trường
cạnh tranh để doanh nghiệp thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Cơ chế
thò trường đã hình thành, tạo nên nguyên tắc hạch toán kinh doanh, môi trường
pháp lý để các doanh nghiệp cạnh tranh trong khuôn khổ luật đònh để duy trì sự
tồn tại và phát triển nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa. Do vậy nguyên tắc
hạch toán kinh doanh đã thực sự phát huy tác dụng và hoàn toàn phù hợp với
mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
- Cơ chế thò trường đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước trong phạm vi
toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như sự quản lý hoạt động SXKD của từng
doanh nghiệp phải tuân theo các quy luật khách quan, phải chú ý đến quan hệ
hàng hóa tiền tệ, quy luật giá trò và phải đề cao, coi trọng hiệu quả kinh tế .
- Cơ chế thò trường tạo nên sự thay đổi lớn trong việc tổ cức cơ cấu bộ
máy quản lý, đảm bảo sự tinh giảm, gọn nhẹ và hiệu quả của bộ máy quản lý,
tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độ nghiệp vụ quản lý.
Để phù hợp và đáp ứng các yêu cầu của cơ chế quản lý trong nền
kinh tế thò trường đònh hướng XHCN, đòi hỏi việc tổ chức công tác kế toán trong
các doanh nghiệp phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Tổ chức công tác kế toán phải đúng những quy đònh trong Luật kế
toán và chuẩn mực kế toán.
- Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với các chế độ, chính sách,
thể lệ văn bản pháp quy về kế toán do nhà nước ban hành.
- Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm hoạt động
SXKD, hoạt động quản lý, quy mô và đòa bàn hoạt động của doanh nghiệp.
- Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với yêu cầu và trình độ
nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toán.
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 16
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

- Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ , tiết
kiệm và hiệu quả.
Những nguyên tắc trên phải được thực hiện một cách đồng bộ mới có
thể tổ chức thực hiện tốt và đầy đủ các nội dung tổ chức công tác kế toán trong
doanh nghiệp.
Thực chất của việc tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp
là việc tổ chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh theo những nội dung công tác kế toán bằng phương pháp khoa học
của kế toán, phù hợp với chính sách chế độ quản lý kinh tế quy đònh, phù hợp
với đặc điểm tình hình cụ thể của doanh nghiệp để phát huy chức năng, vai trò
quan trọng của kế toán trong quản lý vó mô và vi mô nền kinh tế.
Những nội dung cơ bản của việc tổ chức công tác kế toán trong doanh
nghiệp bao gồm:
- Tổ chức bộ máy kế toán;
- Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp;
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán;
- Tổ chức kiểm tra kế toán;
- Tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán;
- Tổ chức trang bò, ứng dụng các phương tiện kỹ thuật xử lý thông tin.
4.2/ Lựa chọn hình thức tổ chức kế toán và xây dựng mô hình bộ
máy kế toán.
Việc tổ chức , thực hiện các chức năng nhiệm vụ, nội dung công tác
kế toán trong doanh nghiệp do bộ máy kế toán đảm nhận. Vì vậy, việc tổ chức,
cơ cấu bộ máy kế toán sao cho hợp lý , gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả là
điều kiện quan trọng để cung cấp thông tin kế toán một cách kòp thời , chính xác
trung thực và đầy đủ, hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin; đồng thời
phát huy và nâng cao trình độ nghiệp vụ, năng suất lao động của nhân viên kế
toán.
Mỗi doanh nghiệp thương mại – du lòch có đặc điểm riêng hay quy mô
và tính chất hoạt động khác nhau , trình độ quản lý và trình độ kế toán cũng
khác nhau. Do đó , việc lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán và mô hình
tổ chức bộ máy kế toán phải chú ý đến đặc điểm cụ thể của từng loại hình
doanh nghiệp. Hiện nay trong các doanh nghiệp , việc tổ chức công tác kế toán
có thể tiến hành theo một trong các hình thức sau:
4.2.1- Hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung.
Theo hình thức tổ chức công tác kế toán này, toàn doanh nghiệp
thương mại – du lòch chỉ tổ chức một phòng kế toán . Toàn bộ công việc kế toán
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 17
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

được tập trung xử lý ở phòng kế toán , còn các đơn vò phụ thuộc ( các cửa hàng,
chi nhánh, các điểm, khu du lòch...) không có tổ chức kế toán riêng, chỉ có nhân
viên hạch toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận kiểm tra và xử lý
chứng từ, gửi các chứng từ về phòng kế toán theo đònh kỳ để phòng kế toán
kiểm tra và ghi sổ.
Tổ chức hình thức kế toán theo kiểu tập trung có ưu điểm là mọi
công việc của kế toán đều được tập trung giải quyết ở phòng kế toán công ty,
nên đảm bảo được sự thống nhất , tập trung trong việc chỉ đạo công tác kế
toán. Mặt khác có điều kiện thuận lợi hơn trong việc ứng dụng tin học trong
công tác kế toán, đồng thời bộ máy gọn nhẹ, ít cồng kềnh; cung cấp thông tin
một cách kòp thời và đầy đủ phục vụ cho phân tích các hoạt động kinh tế và ra
quyết đònh kòp thời các phương án kinh doanh.
Tuy nhiên , mô hình này còn bộc lộ một số nhược điểm sau : không
cung cấp kòp thời các thông tin cần thiết ở từng đơn vò phụ thuộc, không tạo điều
kiện cho việc chỉ đạo trực tiếp về công tác kế toán ở các đơn vò phụ thuộc, nên
việc chỉ đạo công tác kế toán, công tác quản lý ở đơn vò cấp dưới không được
sát sao.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẬP TRUNG














Kế toán trưởng
(Trưởng phòng kế toán)
Bộ phận kế toán vốn
bằng tiền, thanh toán và
tiền vay
Bộ phận kế toán TSCĐ,
CCDC và chi phí bán hàng,
chi phí
QLDN
Bộ phận kế toán hàng
hóa và tiêu thụ

Bộ phận kế toán tiền
lương, BHXH và các quỹ
Bộ phận kế toán
tổng hợp
Bộ phận kiểm tra
kế toán
Các nhân viên kế toán
ở bộ phận trực thuộc



_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 18
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

4.2.2- Hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán.
Theo hình thức này, phòng kế toán công ty có nhiệm vụ chủ yếu là
tổng hợp các số liệu báo cáo từ các đơn vò phụ thuộc gửi lên và hạch toán
nghiệp vụ kinh tế phát sinh trực tiếp ở văn phòng công ty. Các đơn vò phụ thuộc
đều được tổ chức kế toán riêng, chòu trách nhiệm kế toán tổng hợp và kế toán
chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trực tiếp ở đơn vò mình, đònh kỳ gửi các
báo cáo đã được phân cấp về phòng kế toán để tổng hợp và lập báo cáo tài
chính chung cho toàn doanh nghiệp.
Hình thức tổ chức kế toán này có ưu điểm là công tác kế toán được
chỉ đạo sát sao, thu thập và xử lý thông tin kòp thời ngay ở đơn vò phụ thuộc.
Song hình thức này có nhược điểm là bộ máy cồng kềnh, cần nhiều nhân viên
kế toán có trình độ cao.

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN PHÂN TÁN


Kế toán trưởng








Bộ phận kế toán
văn phòng
Bộ phận
tổng hợp
Bộ phận
tài chính
Bộ phận
kiểm tra kế toán




Trưởng phòng kế toán
Bộ phận phụ thuộc
Trưởng phòng kế toán
Bộ phận phụ thuộc




Bộ phận
kế toán
vật tư
TSCĐ
Bộ phận
kế toán
tiền
lương
Bộ phận
kế toán
chi phí
.........
Bộ phận
kế toán
........
Bộ phận
kế toán
vật tư
TSCĐ
Bộ phận
kế toán
tiền
lương
Bộ phận
kế toán
chi phí
.........
Bộ phận
kế toán
........

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 19
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

Theo hình thức tổ chức kế toán phân tán bộ máy kế toán của
doanh nghiệp bao gồm các bộ phận dưới đây :
+ Kế toán trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo chung về công tác kế toán,
công tác tài chính, công tác thống kê.
+ Bộ phận kế toán văn phòng công ty bao gồm kế toán tổng hợp
và kế toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở văn phòng công ty.
+ Bộ phận kế toán tổng hợp có nhiệm vụ tổng hợp số liệu, tài liệu
từ các đơn vò phụ thuộc gửi đến để lập báo cáo tài chính chung toàn công ty.
Đồng thời hạch toán các chứng từ kế toán từ các đơn vò phụ thuộc không có tổ
chức kế toán riêng gửi đến.
+ Bộ phận kiểm tra có nhiệm vụ kiểm tra tình hình chấp hành các
chế độ, chính sách và thể lệ kế toán của toàn công ty bao gồm kiểm tra nội bộ
trước, trong và sau khi ghi chép sổ sách kế toán và lập báo cáo tài chính.
+ Các tổ kế toán ở các đơn vò phụ thuộc có nhiệm vụ kế toán tổng
hợp và kế toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vò đã được phòng
kế toán phân cấp, lập báo cáo kế toán gửi về phòng kế toán để tổng hợp chung
báo cáo tài chính toàn công ty.
4.2.3- Hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân
tán.
Hình thức này là sự kết hợp của hai hình thức đã trình bày ở phần
trên. Theo hình thức này một số đơn vò phụ thuộc ở xa công ty hoặc những đơn
vò có đủ điều kiện tổ chức kế toán riêng sẽ được tổ chức bộ máy kế toán riêng.
Các đơn vò không đủ điều kiện tổ chức kế toán riêng thì chỉ bố trí nhân viên
hạch toán báo sổ để thu thập, xử lý, kiểm tra chứng từ gửi về phòng kế toán để
kiểm tra ghi sổ. Như vậy, phòng kế toán vừa có nhiệm vụ hạch toán riêng cho
bộ phận văn phòng của công ty và các đơn vò phụ thuộc không có tổ chức kế
toán riêng, vừa phải tổng hợp số liệu, tài liệu từ các đơn vò phụ thuộc có tổ chức
kế toán riêng để lập báo cáo tài chính chung toàn công ty .
Ưu điểm của hình thức này là vừa tạo điều kiện cho công tác kế
toán gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa tạo ra sự tổng hợp cung
cấp thông tin kòp thời cho phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Song
có nhược điểm là công tác kế toán không được tập trung, việc thống nhất trong
kế toán sẽ khó khăn hơn.

_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 20
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN VỪA TẬP TRUNG VỪA
PHÂN TÁN

Bộ phận
tài chính
Bộ phận kiểm
tra kế toán
Bộ phận kế toán
tổng hơp
Bộ phận kế toán
vật tư TSCĐ
Bộ phận
kế toán
Kế toán trưởng
(Trưởng phòng kế toán) đơn vò
Các nhân viên kinh tế
ở các bộ phận
phụ thuộc
Các trưởng phòng
kế toán ở các
bộ phận phụ thuộc
Bộ phận kế toán
vật tư TSCĐ
Bộ phận kế toán
tiền lương
Bộ phận
kế toán chi phí
Bộ phận
kế toán ......
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 21
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________


4.3/ Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, tổ chức công tác hạch
toán ban đầu, kế hoạch luân chuyển và xử lý chứng từ.
Đặc trưng cơ bản của kế toán khác với các loại hạch toán khác ở
nhiều vấn đề. Song, chủ yếu là ở chỗ giá trò pháp lý của số liệu mà kế toán ghi
nhận và cung cấp. Không có chứng từ kế toán thì không thể nói đến ghi chép kế
toán.
Nói cách khác là cơ sở pháp lý để ghi sổ kế toán là các chứng từ kế
toán hợp lý, hợp pháp.
Chứng từ kế toán hợp lý, hợp pháp là những chứng từ phản ánh đầy
đủ các yếu tố đã được quy đònh như ngày và số chứng từ, tên đòa chỉ người có
quan hệ đến chứng từ, nội dung cơ bản của nghòêp vụ kinh tế , các đơn vò tính
toán và chữ ký của người có liên quan, có trách nhiệm. Những khoản tiền ghi
trong chứng từ phải hợp lý với nội dung nghiệp vụ.
Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ
kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán. Tổ
chức hệ thống chứng từ kế toán hợp lý, khoa học và phù hợp với tình hình
SXKD của ngành và của doanh nghiệp là một trong những yêu cầu quan trọng
và là khâu mở đầu cho công tác kế toán. Do vậy , kế toán ở doanh nghiệp cần
phải căn cứ vào yêu cầu quản lý cụ thể đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế mà
soát xét nội dung của chứng từ nhằm giảm bớt các yếu tố không cần thiết. Mặt
khác, phải tiêu chuẩn hóa chứng từ nhằm đảm bảo sự thống nhất của hạch toán
kế toán và nâng cao hiệu suất công tác kế toán, đảm bảo tính pháp lý của việc
ghi chép kế toán.
Dựa vào nội dung cụ thể của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để có
những qui đònh cụ thể cho việc lập chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán được lập
ngay khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành tại một đòa điểm và
thời gian nhất đònh nào đó. Sau khi lập xong, chứng từ kế toán được chuyển đến
nhân viên kế toán để kiểm tra, xử lý và hoàn thiện. Sau đó là quá trình hạch
toán và ghi sổ kế toán. Việc kiểm tra chứng từ được thực hiện bằng việc kiểm
tra các yếu tố của chứng từ, kiểm tra tính chính xác của số liệu ghi chép trong
chứng từ, nhằm đảm bảo tính pháp lý của nó khi ghi sổ kế toán. Sau khi chứng
từ kế toán được kiểm tra là việc hoàn thiện chứng từ như ghi giá tiền theo
nguyên tắc tính giá của từng loại tài sản phản ánh trong chứng từ, phân loại
chứng từ theo nội dung các nghiệp vụ kinh tế cùng loại, cùng đòa điểm phát
sinh. Trên cơ sở đó tổng hợp và đònh khoản kế toán theo đúng nội dung kinh tế
của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã phản ánh trong chứng từ.
Chứng từ kế toán đã kiểm tra và hoàn thiện cần phải được luân
chuyển qua các bộ phận kế toán có liên quan . Để tạo điều kiện thu thập kòp
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 22
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

thời các thông tin kinh tế thì cần phải xây dựng các chu trình luân chuyển chứng
từ thích hợp với từng loại nghiệp vụ, nhằm tránh tồn đọng chứng từ hoặc chứng
từ qua các khâu trung gian không cần thiết. Chương trình luân chuyển chứng từ
là việc xác đònh trình tự đường đi (tuyến vận động) của chứng từ , nhằm phát
huy đầy đủ chức năng thông tin, truyền tin và kiểm tra của chứng từ kế toán
cũng như tạo điều kiện phản ánh vào sổ kế toán liên quan một cách nhanh
nhất, kòp thời nhất , tránh được sự ứ đọng chứng từ làm chậm việc cung cấp
thông tin. Để có kế hoạch luân chuyển chứng từ hợp lý và khoa học cần phải
dựa vào đặc điểm và yêu cầu quản lý cụ thể của từng nghiệp vụ kinh tế đã
được ghi nhận trên chứng từ. Mặt khác , phải căn cứ vào yêu cầu tổ chức hệ
thống thông tin đã được phản ánh trong chứng từ kế toán, cũng như đặc điểm
về tổ chức bộ máy kế toán ở đơn vò để xác đònh. Trong chu trình luân chuyển
chứng từ cần có qui đònh rõ ràng các khâu vận động của chứng từ kế toán như
việc lập, kiểm tra, hoàn chỉnh , sử dụng và lưu trữ chứng từ. Kế hoạch luân
chuyển chứng từ có thể nhiều loại tùy thuộc vào nội dung cụ thể của nghiệp vụ
kinh tế đã phản ánh trong chứng từ. Ví dụ : phiếu xuất kho được bộ phận nghiệp
vụ (phòng nghiệp vụ) của đơn vò lập. Phiếu xuất kho được chuyển đến thủ kho
để xuất hàng. Sau khi hàng hoá đã xuất kho , chứng từ được chuyển đến phòng
kế toán kiểm tra, ghi sổ và lưu trữ.
4.4/ Vận dụng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất phù hợp với
đặc điểm doanh nghiệp thương mại - du lòch .
Hệ thống tài khoản kế toán là bộ phận cấu thành quan trọng nhất
trong toàn bộ hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp. Bắt đầu từ 01/01/1996 tất
cả các doanh nghiệp thuộc mọi lónh vực , mọi thành phần kinh tế đều phải được
thực hiện áp dụng thống nhất hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp ban
hành theo quyết đònh 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Trưởng Bộ
Tài chính, cùng với các văn bản quy đònh bổ sung, sửa đổi.
Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp hiện hành , bao gồm các tài
khoản được chia làm 9 loại trong bảng cân đối kế toán và 1 loại tài khoản ngoài
bảng cân đối kế toán.
- Các tài khoản loại 1, 2, 3, 4 là các tài khoản luôn luôn có số dư (dư
nợ hoặc dư có ) còn gọi là tài khoản thực, các tài khoản loại 5, 6, 7, 8, 9 không
có số dư , còn gọi là tài khoản tạm thời. Các tài khoản ngoài bảng ( loại 0 ) cũng
luôn luôn có số dư nợ.
Hệ thống Tài khoản kế toán doanh nghiệp được ban hành theo quyết
đònh 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 đến nay đã được sửa đổi , bổ sung bởi
nhiều thông tư như thông tư số 10/TC/CĐKT ngày 20/3/1997, thông tư số
60/TC/CĐKT ngày 01/9/1997, thông tư 100/1998/TC- BTC ngày 15/7/1998 và
Quyết đònh 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 , thông tư 89/2002/TT-BTC
ngày 9/10/2002 và thông tư 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003 của Bộ Tài
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 23
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

chính đã phản ánh khá đầy đủ các hoạt động kinh tế phát sinh trong các doanh
nghiệp thuộc các loại hình kinh tế, thuộc mọi thành phần kinh tế phù hợp với
yêu cầu quản lý và đặc điểm của nền kinh tế thò trường ở nước ta hiện nay và
trong thời gian tới, cũng như những đònh hướng thay đổi với cơ chế tài chính.
Ngoài ra , hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp đã thể hiện sự vận dụng có
chọn lọc các chuẩn mực quốc tế và chuẩn mực quốc gia về kế toán , phù hợp
với các thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực có tính phổ biến của kế toán các nước
có nền kinh tế phát triển và khả năng xử lý thông tin bằng máy vi tính. Việc sắp
xếp, phân loại các tài khoản trong hệ thống kế toán doanh nghiệp được căn cứ
vào tính chất cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản, giữa chi phí và
thu nhập và mức độ lưu động giảm dần các tài sản, đồng thời đảm bảo được
mối quan hệ chặt chẽ giữa hệ thống tài khoản kế toán với hệ thống báo cáo tài
chính và các bộ phận cấu thành khác của hệ thống kế toán doanh nghiệp.
Việc tổ chức thực hiện, vận dụng hệ thống tài khoản kế toán trong
từng doanh nghiệp phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Phản ánh, hệ thống hóa đầy đủ mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính trong
doanh nghiệp.
- Phù hợp với những quy đònh thống nhất của nhà nước và các văn
bản hướng dẫn thực hiện của Bộ chủ quản, cơ quan quản lý cấp trên.
- Phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh, trình
độ phân cấp quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
- Đảm bảo mối quan hệ với các chỉ tiêu báo cáo tài chính.
- Đáp ứng yêu cầu xử lý thông tin trên máy vi tính và thỏa mãn nhu
cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng.
Tổ chức lựa chọn, vận dụng hình thức kế toán phù hợp
Hình thức kế toán là hệ thống kế toán sử dụng để ghi chép, hệ thống
hóa và tổng hợp số liệu từ chứng từ gốc theo một trình tự và phương pháp ghi
chép nhất đònh . Như vậy, hình thức kế toán thực chất là hình thức tổ chức hệ
thống sổ kế toán bao gồm số lượng các loại sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng
hợp, kết cấu sổ, mối quan hệ kiểm tra, đối chiếu giữa các sổ kế toán, trình tự và
phương pháp ghi chép cũng như việc tổng hợp số liệu để lập báo cáo kế toán.
Doanh nghiệp phải căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán, chế độ, thể
lệ kế toán của nhà nước, căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động SXKD, yêu
cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán cũng như điều kiện trang bò
phương tiện, kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin mà lựa chọn vận dụng hình thức
kế toán và tổ chức hệ thống sổ kế toán. Nhằm cung cấp thông tin kòp thời, đầy
đủ, chính xác và nâng cao hiệu quả công tác kế toán.
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 24
LUẬN ÁN CAO HỌC Giáo viên hướng dẫn : Tiến só VÕ VĂN NHỊ
_________________________________________________________________________

4.5/ Lựa chọn hình thức kế toán.
Hình thức kế toán là hệ thống tổ chức sổ kế toán bao gồm số lượng sổ
, kết cấu các loại sổ mẫu và mối quan hệ giữa các loại sổ để ghi chép, hệ thống
hoá và tổng hợp số liệu từ các chứng từ ban đầu, nhằm cung cấp các chỉ tiêu
cho việc lập các báo cáo tài chính theo trình tự và phương pháp nhất đònh.
Chế độ sổ kế toán ban hành theo quyết đònh số 167/2000/QĐ-BTC
ngày 25/10/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy đònh rõ việc mở sổ, ghi chép,
quản lý, lưu trữ và bảo quản sổ kế toán. Việc vận dụng hình thức kế toán nào là
tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Quy mô sản xuất xã
hội ngày càng phát triển, yêu cầu quản lý đối với nền sản xuất xã hội ngày
càng cao, yêu cầu cung cấp thông tin ngày càng nhanh làm cho hình thức kế
toán cũng ngày được phát triển, hoàn thiện. Hiện nay các doanh nghiệp thường
sử dụng các hình thức kế toán sau:
- Hình thức kế toán nhật ký sổ cái.
- Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ.
- Hình thức kế toán nhật ký chứng từ.
- Hình thức nhật ký chung.
Mỗi hình thức kế toán đều có hệ thống sổ sách kế toán chi tiết, sổ kế
toán tổng hợp để phản ánh, ghi chép, xử lý và hệ thống hóa số liệu, thông tin
cung cấp cho việc lập báo cáo tài chính.
Trình tự ghi sổ kế toán:
1. Kiểm tra đảm bảo tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ.
2. Ghi sổ kế toán chi tiết.
3. Ghi sổ kế toán tổng hợp.
4. Kiểm tra đối chiếu số liệu.
5. Tổng hợp số liệu.
6. Tổng hợp số liệu lập báo cáo tài chính.
Mỗi hình thức kế toán có nội dung, ưu, nhược điểm và phạm vi áp
dụng thích hợp. Do vậy, tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm của doanh nghiệp và
trình độ của nhân viên kế toán mà áp dụng hình thức kế toán thích hợp, nhằm
phát huy tốt nhất vai trò chức năng kế toán trong công tác quản lý.
4.6/ Tổ chức công tác kiểm tra kế toán
Để đảm bảo cho công tác kế toán trong các doanh nghiệp thực hiện
tốt các yêu cầu, nhiệm vụ và chức năng của mình trong công tác quản lý, nhằm
cung cấp cho các đối tượng sử dụng khác nhau những thông tin kế toán tài
chính của doanh nghiệp một cách trung thực, minh bạch, công khai và chấp
_________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện : Đoàn Văn Phương Trang 25