SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

Tài Liệu download từ Thư Viện Tài Liệu Trực Tuyến http://www.docs.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TOÁN – TIN HỌC
  
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ TÀI
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TRONG CƠNG CUỘC ĐỔI
MỚI ĐẤT NƯỚC
HỌ VÀ TÊN : TRẦN KIM TRI
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : TS TRẦN NHƯ CƯƠNG
KHOA : TỐN
LỚP : 3B
MSSV : K33101114



LỜI MỞ ĐẦU
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh;
dân tộc Việt Nam đã làm nên những chiến công hiển hách và những thắng lợi có
ý nghĩa lịch sử cũng như thời đại, từ thắng lợi của cách mạng tháng tám năm
1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tới chiến thắng Điện biên
Phủ lừng lẫy năm châu chấn động đại cầu, tới chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm
1975 giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; Đảng Cộng sản Việt Nam
chính là nhân tố tất yếu trong mọi chiến thắng của dân tộc ta. Ngày nay, khi dân
tộc ta đang từng bước tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước một cách toàn diện,
vai trò của Đảng càng trở nên quan trọng hơn; điều đó đã được minh chứng qua
những biến đổi kì diệu của đất nước ta trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước ta bước ra khỏi thời kì lạc hậu kém
phát triển, đưa nước ta bước vào một thời kì phát triển mới, tiến những bước dài
trong thời kì quá độ đi lên Chủ nghĩa Xã hội. Đó chính là điều mà chúng em sẽ
trình bày qua bài tiểu luận này.
Từ giữa năm 1975, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, cả nước độc lập và thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kì
quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tính tới năm 1986, bước chuyển biến mang tính lịch sử ấy đã diễn ra
được một thập kỷ, bên canh những thành tựu to lớn cũng đã để lại rất nhiều
những khó khăn cần phải giải quyết; bên cạnh đó là những biến động hết sức to
lớn của lịch sử, ảnh hưởng rất lớn tới tiến trình đi lên của cách mạng Việt Nam.
Vượt qua những khó khăn của thời kì đầu mới giành được độc lập, trong
thời kì này nhân dân ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn là:
Đã nhanh chóng thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, đã thiết lập được một hệ
thống chế độ mới trong cả nước và đã áp dụng thành công một loạt những chính
sách nhằm thúc đẩy quá trình phát triển về mọi mặt của nhà nước, tạo nên cuộc
sống hòa hợp dân tộc làm cho lực lượng cách mạng nước ta lớn hơn bao giờ hết,
2
phất huy có hiệu quả trong công cuộc hàn gắn những vết thương chiến tranh,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đã anh dũng chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh quy mô lớn ở biên
giới Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ
nghĩa; đồng thời cũng làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia và
nhân dân Lào, góp phần tích cực bảo vệ độc lập và hòa bình trên bán đảo Đông
Dương.
Trên mặt trận kinh tế cũng như văn hóa, đã đạt được một số thành tựu,
đáng chú ý là đã cơ bản hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết
thương chiến tranh, bước đầu ổn định sản xuất và đời sống.
Tuy nhiên bên cạnh nhữn thành tựu đó, còn tồn tại rất nhiều những vấn đề
to lớn, đặc biệt là các vấn đề kinh tế xã hội. Những thành tựu kinh tế mà chúng
ta đạt được còn thấp so với yêu cầu đề ra, với công sức chúng ta bỏ ra, thu nhập
quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng xã hội, chưa tạo được tích lũy bên trong.
Các mặt hàng tiêu dùng thường nhật, thiết yếu như lương thực, vải mặc đều
thiếu. TÌnh hình cung ứng năng lượng, giao thông vận tải, vật tư cơ bản đều rất
căng thẳng. Tình hình lạm phát ngày càng nghiêm trọng; hiện tượng mất cân đối
trong vấn đề tiền lương, hiện tượng giá cả không ổn định mất cân đối xảy ra một
cách trầm trọng. Những hiện tượng tiêu cực của xã hội còn kéo dài trên một số
mặt. Tất cả nhưng tồn tại ấy đã làm lộ ra những khiếm khuyết trong mô hinh Xã
hội Chủ nghĩa nghĩa rập khuôn theo Liên Xô, quan liêu bao cấp.
Nguyên nhân khaùch quan của những khó khăn đó đã được chỉ ra trong
văn kiên Đại hội lần thứ V của Đảng; đó là:
Nền kinh tế của nước ta nhìn chung vẫn là một nền kinh tế nhỏ lẻ, kém
tập trung. Lao động chủ yếu là trong ngành nông nghiệp, tuy nhiên nền nông
nghiệp lại là một nền nông nghiệp lạc hậu, kém hiệu quả. Bên cạnh đó còn phải
gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu dài và của sự bóc
lột của thực dân, đế quốc. Thêm vào đó là thiên tai lớn dồn dập xảy ra, kẻ địch
lại không ngừng phá hoại nước ta về nhiều mặt. Nền kinh tế bị đè nặng bơi
những yêu cầu vừa cơ bản lại hết sức cấp bách.
3
Song, nguyên nhân chính lại là những nguyên nhân chủ quan, chúng đến
từ sự lãnh đạo của Đảng, bởi sự lãnh đạo của Đảng có tác động vô cùng quan
trọng và có tính chất quyết định đối với thành bại của sự nghiệp cách mạng.
Đảng và nhà nước đã tự kiểm điểm và nghiêm khắc tự phê bình, những sai lầm
và khuyết điểm đã phạm, biểu hiện trên các mặt sau đây:
Còn chủ quan trong việc đánh giá tình hình nước ta sau chiến tranh, thiên
về những thuận lợi còn bỏ qua những khó khăn. đề ra những chủ trương, chỉ tiêu
quá cao không phù hợp với tình hình thực tế. Chậm sửa đổi gỡ bỏ mô hình kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp, mô hình kinh tế thời chiến. Chủ quan nóng vội
muốn bỏ qua những bước đi mang tính thiết yếu trong quá trình phát triển..
Buông lỏng pháp luật, buông lỏng công cụ cuyên chính với những kẻ vi phạm
pháp luật nhà nước, những kẻ phá hoại và chống đối cách mạng.
Chính vì vậy, đổi mới trở thành một yêu cầu bức thiết đổi với Đảng và
nhà nước cũng như toàn thể dân tộc ta để có thể vững bươc tiến lên trong thời kì
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
4
Chương I:
NHỮNG BƯỚC ĐẦU CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI CỦA ĐẢNG (1986)
Trước những khó khăn, sai lầm đã nêu trên, đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng đã khai mạc tại thủ đô Hà Nội từ ngày 15 tới ngày 18/12/1986.
Tham gia đại hội có 1129 đại biểu đại diện cho gần 1,9 triệu Đảng viên trong cả
nước và có 32 đoàn đại biểu quốc tế tham dự. Đánh giá việc thực hiện nghị
quyết đại hội V; báo cáo chính trị tại đại hội đã nêu rõ: “thái độ của Đảng ta
trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”. Cùng với
việc đánh giá những thành tích đã đạt được, ở đại hội này chúng ta chú trọng
kiểm điểm những mặt yếu kém, phân tích sâu săc những sai lầm và khuyết điểm,
vạch rõ nguyên nhân và nêu ra biện pháp khắc phục, xác định nhiệm vụ và mục
tiêu phấn đấu trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kì quá
độ.
Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, Đại hội đã nhận
định 5 năm vừa qua là một chặng đường đầy thử thách với Đảng và nhân dân ta.
Chúng ta đã đạt được không ít thành tựu nhưng bên cạnh đó lại nảy sinh rất
nhiều những khó khăn phức tạp. Trong những năm từ 1981-1985, sản xuất công
nghiệp, nông nghiệp đã chặn được đà giảm sút (giai đoạn 1979-1980) và từ năm
1981 đã đạt được chuyển biến đáng kể; nông nghiệp tăng bình quân 4,9% một
năm (giai đoạn 1976-1980 là 1,9%), sản lượng lương thực bình quân hàng năm
đạt 17 triệu tấn, sản xuất công nghiệp tăng bình quân 9,5%một năm (giai đoạn
1976-1980 là 0,6%), thu nhập bình quân tăng hàng năm là 6,4 % (giai đoạn
1976-1980 là 0,4%). Về xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật Xã hội Chủ nghĩa,
trong giai đoạn này, hàng trăm công trình lớn, hàng ngàn công trình vừa và nhỏ
đã hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng có hiệu quả. Công cuộc cải tạo Xã
hội Chủ nghĩa đã tiến thêm một bước. Cuộc sống của nhân dân trong thời kì
kinh tế còn yếu kém đã được Đảng chú trọng chăm lo hơn; cuộc chiến đấu bảo
vệ thành quả cách mạng đảm bảo an ninh chính trị và thực hiện nghĩa vụ quốc tế
đã giành được nhiều thắng lợi to lớn.
Đại hội đã khẳng định những thành tựu đã đạt được đồng thời cũng không
hề phủ nhận mà thẳng thắn chỉ ra tình hình kinh tế xã hội đất nước ta đang tồn
tại nhiều vấn đề bất cập, khó khăn. Sản xuất tăng chậm không phù hợp với thời
gian, tiền bạc và công sức bỏ ra, chưa đáp ứng được nhu cầu nhanh chóng ổn
5
đinh đời sống của nhân dân. Nhiều chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm (1981-1985)
không đạt đã ảnh hưởng tới toàn bộ các hoạt động kinh tế và đời sống nhân
dân…Tóm lại, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu mà đại hội V đã vạch ra,
dó là ổn định về cơ bản tình hình kinh tế xã hội và đời sống nhân dân. Về
nguyên nhân của những vấn đề trên, Đại hội đã nhấn mạnh: “Chúng ta không
đánh giá thấp những khó khăn khách quan, những khó khăn đó là rất lớn. Song
việc quan trọng hơn là phân tích sâu săc những nguyên nhân chủ quan, nêu ra
những sai lầm khuyết điểm trong hoạt động của Đảng và nhà nước. Trong nhiều
năm qua, Đảng đã mắc sai lầm về “xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, cải tạo Xã hội Chủ nghĩa và quản lý kinh tế.”
Từ thực tiến cách mạng, Đảng đã nêu ra những bài học kinh nghiêm quan
trọng:
- Một là trong toàn bộ các hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư
tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân.
- Hai là đang phải xuất phát từ thực tế; phải tôn trọng và hành động theo
các quy luật khách quan; năng lực nhận thức và hành động theo các
quy luật khách quan chính là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn
của Đảng.
- Ba là phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong
điều kiện mới.
- Bốn là: Phải xây dựng cơ cấu Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị là
một Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng Xã
hội Chủ nghĩa.
Nhận thức được những bài học kinh nghiêm trên, Đảng đã mạnh dạn vạch
ra một đường lối đổi mới một cách toàn diện, mà bắt đầu là đổi mới cơ cấu kinh
tế.
1. Những đinh hướng đổi mới cơ cấu kinh tế
Trong đại hội VI, Đảng ta chỉ rõ: “muốn đưa nền kinh tế thoát khỏi tình
trạng rối ren mất cân đối, cần phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân
theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế và các
loại sản xuất có quy mô và trình độ khác nhau cần phải được bố trí cân đối, liên
kết với nhau phù hợp với điều kiện thực tế bảo đảm cho nền kinh tế ổn định.”
6
Trong cơ cấu sản xuất ngành trước hết là các ngành sản xuất công nghiệp
và nông nghiệp có ý nghĩa dặc biêt quan trọng, có khả năng chi phối những mối
quan hệ cân đối khác trong tổng thể nền kinh tế.
Đây là hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân, do
vậy mà cần bố trí sao cho giữa công nghiệp và nông nghiệp có sự kết hợp chặt
chẽ ngay từ đầu trở thành một cơ cấu thống nhất. Cơ cấu đó phải đảm bảo cho
nền kinh tế phát triển cân đối và tăng trưởng ổn định.
Ở mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường khác nhau thì vị trí của công nghiệp và
nông nghiệp cũng khác nhau, vì vậy mà trong giai đoạn hiện nay, Đảng chủ
trương tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu, đưa nông nghiệp một bước tiến lên nền sản xuất lớn Xã hội Chủ nghĩa. Yêu
cầu đặt ra là: “tăng nhanh về khối lượng và tỉ suất hàng nông sản kết hợp chuyên
môn hóa với phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp”
Đối với các ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, báo cáo
chính trị tại đại hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ của công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công
nghiệp là phải đáp ứng được nhu cầu của người dân về những loại hàng cần thiết
để đảm bảo yêu cầu chế biến nông lâm thủy sản và tăng nhanh việc làm hàng gia
công xuất khẩu.
Đối với công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng là phải “phục vụ các mục
tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên; rồi dựa trên những kinh
nghiêm thực tế chuẩn bị tiền đề cho sự phát triến kinh tế trong chặng đường tiếp
theo”; cũng trên cơ sở định hướng đó, đại hội cũng khẳng định đường lối ưu tiên
phát triển các ngành công nghiệp năng lượng như dầu khí, điện đồng thời cũng
phải chú trọng cải tạo màng lưới giao thông vận tải: “ưu tiên giao thông vận tải
đường thủy, tăng tỷ trọng vận tải đường săt, sắp xếp hợp lý vận tải đường bộ,
phát triển đường không”, bên cạnh đó cũng cần chú trọng việc phát triển màng
lưới giao thông nông thôn thông qua việc kết hợp giữa người dân, nhà nước và
các tổ chức kinh tế tập thể khác.
Đồng thời trong báo cáo; đại hội cũng chỉ ra tầm quan trọng của các
ngành kinh tế dịch vụ. Bởi trong nền kinh tế không thể thiếu đi các ngành kinh
tế này. Tuy nhiên trong thực tế, tỷ trọng của ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế
nước ta chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Đại hội đã nêu ra cần phải đẩy mạnh việc
phát triển các ngành như sản xuất hàng tiêu dùng; buôn bán nhỏ và vừa, phục vụ
cho những nhu cầu thiết yếu của nhân dân.
7
Tựu chung lại, sự đổi mới của cơ cấu kinh tế là nhằm hướng tới thực hiện
tốt kế hoạch 5 năm trong tương lai gần và ba mục tiêu – ba chương trình trọng
điểm về:
- Lương thực thực phẩm
- Sản xuất hàng tiêu dùng
- Đẩy mạnh xuất khẩu
2. Những định hướng trong việc đổi mới cơ chế quản lý
Bên cạnh công tác đổi mới cơ cấu kinh tế; Đại hội còn đưa ra quyết định
mới về cải tạo Xã hội Chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc:
Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa nhất thiết phải tuân theo những quy luật khách
quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất để xác định những bước đi và hình thức thích hợp; từ đó đại hội
khẳng định “ đẩy mạnh cải tạo Xã hội Chủ nghĩa là thường xuyên, liên tục trong
suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội…”
Ngoài việc phát huy nội lực từ kinh tế trong nước Đảng ta còn chủ trương
đẩy mạnh, mở rộng hiệu quả của kinh tế đối ngoại. Nhiệm vụ ổn định và phát
triển của kinh tế trong chặng đường đầu tiên của con đường đổi mới toàn diện
này nhanh hay chậm phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng
cao hiệu quả của công tác kinh tế đối ngoại. Đại hội VI nêu rõ sự cần thiết “
công bố chính sách khuyến khích đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức nhất
là đối với các ngành, cơ sơ đòi hòi trình độ kĩ thuật cao, làm hàng xuất khẩu. Đi
đôi với việc công bố luật đầu tư mới cần có các chính sách và biện pháp tạo điều
kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để kinh doanh.”
Để thiết lập cơ chế quản lý mới cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về bộ
máy nhà nước. Phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính-kinh tế với quản lý
theo điạ phương và vùng lãnh thổ.
Đại hội VI của Đảng cho rằng để tăng cường sức chiến đấu của Đảng
cũng như năng lực tổ chức thực tiễn, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt, đổi mới
tư duy mà đặc biệt là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới đội ngũ cán bộ,
đổi mới phương cách lãnh đạo và công tác. Tuy nhiên, đổi mới nhưng phải nắm
chắc áp dụng hợp lý chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải đẩy
mạnh công tác nghiên cứu một cách có hệ thống sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
và bảo vệ tổ quốc, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, khắc
phục những quan điểm sai lầm, lỗi thời. Đổi mới tư duy không đồng nghĩa với
8
việc phủ nhận sạch trơn những quan điểm tư duy lý luận sẵn có mà nó là sự phủ
nhận mang tính kế thừa; phát huy những mặt đúng đắn trong tư duy đã có đồng
thời khắc phục những mặt còn sai lầm hoặc lệch lạc. Đó chính là nhiệm vụ lớn
lao của công tác tư tưởng trong sự nghiệp đổi mới. Đồng thời với việc đổi mới
đội ngũ cán bộ, phong cách làm việc, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng
cũng có yêu cầu tất yếu là cần đổi mới , nâng cao hiệu quả của công tác sinh
hoạt tư tưởng trong việc thống nhất tư tưởng tăng cường đoàn kết trong Đảng.
Đại hội VI của Đảng đã hoạch định đường lối đỏi mới một cách toàn diện
và sâu sắc, triệt để. Đó là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng toàn dân, thể hiện cho
tinh thần trách nhiệm cao của Đảng với dân tộc, với đât nước.
Và trên tinh thần của đại hội VI; công cuộc đổi mới đã được triển khai
một cách mạnh mẽ. Tuy vậy tình hình đất nước cũng như thế giới trong giai
đoạn 1987-1988 có nhiều biến động phức tạp, ảnh hưởng lớn tới đất nước ta.
Trong nước, lạm phát vẫn chưa thaoát khỏi tình trạng “ba con số”: 1986-
774,7%;1987 398,3%. Đời sống nhân dân khó khăn, tiền lương, trợ cấp xã hội
giảm sút mạnh. Công thương nghiệp đình đốn, nông nghiệp không cung ứng đủ
nhu cầu trong nước, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi. Quốc tế, sự sụp đỏ của chủ
nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô gây nên những ảnh hưởng không tốt tới tình
hình cách mạng đất nước ta.
Trước tình hình muôn ngàn khó khăn chồng chất như vậy, Đảng và nhá
nước cùng với toàn thể nhân dân càng tỏ rõ bản lĩnh vững vàng; một mặt phân
tích rõ những nguyên nhân của các khó khăn như chậm tổng kết thực tiễn để đưa
ra những quyết sách hợp lý; nhà nước chậm cụ thể hóa đường lối của Đảng vào
thực tiến…đồng thời giữ vững lập trường chính trị; khắc phục khó khăn, từng
bước đưa nghị quyết đại hội VI vào thực tiễn.
3. Những thành tựu ban đầu
Các hội nghị trung ương khóa VI đã tập trung bàn và quyết định những
bước đi quan trọng của sự nghiệp đổi mới. Hội nghị lần 2 ban chấp hành trung
ương (4-1987) bàn về vấn đề lưu thông phân phối; các hội nghị tiếp theo cho tới
hội nghị 6 (3-1989)đã quyết định những chủ trương chính sách lớn nhằm đẩy
mạnh quá trình đổi mới, đặc biệt là về vấn đề đổi mới cơ cấu kinh tế. Nhờ có
những quyết sách hợp lý của Đảng mà nền kinh tế đã có những bước chuyển
biến tích cực; mức lạm phát giảm xuống nhanh chóng chỉ còn ở mức “hai con
số” (67,4%-1990). Công thương nghiệp khởi sắc trở lại; ba chương trình kinh tế
9
trọng điểm đạt được những tiến bộ rõ rệt. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ
rệt; dân chủ trong xã hội được cải thiện và phát huy; quốc phòng an ninh được
giữ vững; hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, đẩy lùi thị trường bị bao
vây cô lập; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nhiều tiến bộ. Một số chỉ tiêu
kinh tế xã hội có tiến bộ đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu năm 1986 là 439 triệu
rúp và 387 triệu USD nhưng tới năm 1990 đã tăng đáng kể lên 1019 triệu rúp và
1170 triệu USD. Đã có hai mặt hàng xuất khẩu là gạo và dầu thô. Mức tăng
trưởng hàng năm trong giai độan 1986-1990 đạt 3,9%. Đời sống tinh thần của
nhân dân được nâng cao. Hệ thông luật pháp được cải thiện mang lại hiệu quả
cao trong công tác quản lý.
Quả thực,qua thực tế đã chứng minh đường lối lãnh đạo của Đảng là hoàn
toàn đúng đắn; và Đảng đã chứng minh vai trò lãnh đạo tất yếu của mình thông
qua việc định hướng đổi mới cũng như lãnh đạo nhân dân ta bước những bước
đầu tiên trên con đường ấy. Ngay sau khi đại hội VI kêt thúc, Bộ chính trị và
ban chấp hành khóa VI đã lập ra ban soạn thảo cương lĩnh và chiến lược phát
triển kinh tế-xã hội. Để phát huy trí tuệ tập thể trong việc chuẩn bị các văn kiện,
3-1990, 5 tiểu ban của trung ương đã được thành lập nhằm lấy ý kiến rống rãi
trong toàn bộ các tầng lớp nhân dân. Đó là một quá trình chuẩn bị công phu và
kĩ lưỡng dựa trên những cơ sở lý luận đúng đắn kết hợp với những kinh nghiệm
thực tiến có được trong giai đoạn 1986-1990 tiến tới Đại hội VII.
10
Chương II:
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VII CỦA ĐẢNG
1. Đánh giá giai đoạn đầu tiên của chặng đường đổi mới
Đại hội VII diễn ra từ ngày 24 tới ngày 27-6-1991 tại Hà Nội. Tham dự
đại hội có 1176 đại biểu thay mặt cho 2,1 triệu Đảng viên trên toàn quốc. Đại
hội diễn ra trong hoàn cảnh mà Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ, do vậy
đại hội này mang tính chất quyết đinh vận mệnh đất nước. Nắm vững nguyên tắc
và quan điểm đổi mới đã được đề ra từ đại hội VI, Đảng vẫn kiên định con
đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng sẽ lãnh đạo toàn dân vượt qua giai đoạn
khó khăn này. Sau 5 năm tiến hành nghị quyết đại hội VI, công cuộc đổi mới đã
đạt được những thành tựu quan trọng. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng
đã phát huy được truyền thống anh hùng, bản chất cần cù sáng tạo, hoàn thành
được những nhiệm vụ cơ bản đã được đề ra trong đại hội VI, đông thời cũng tạo
tiền đề thuận lợi cho giai đoạn tiếp theo. Từ thực tiễn thành đã được tổng kết
trong báo cáo tại đại hội VII, Đảng ta đã rút ra một số kinh nghiêm:
- Phải kiên định giữ vững định hướng Xã hội Chủ nghĩa trong quá trình đổi
mới
- Đổi mới toàn diện triệt để theo những bước đi và hình thức thích hợp
- Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội Chủ
nghĩa có sự chi phối của nhà nước.
- Tiếp tục phát huy sâu rộng nền dân chủ Xã hội Chủ nghĩa nhưng cần xem
xét và cân đối, đề ra những bước đi phù hợp với tình hình chính trị thực
tiễn xã hội nói chung.
- Trong quá trình đổi mới cần đề cao công tác dự báo, kịp thời phát hiện và
giải quyết những vấn đề nảy sinh ngay từ gốc rễ của nó. Tăng cường tổng
kết, rút ra kinh nghiêm thực tiến, kết hợp với hoàn chỉnh lý luận về con
đường đi lên chủ nghĩa Xã hội.
Từ đó, đại hội đã đề ra định hướng, cương lĩnh cho những bước đi tiếp theo.
2. Những bước đi tiếp theo của sự nghiệp đổi mới
Nhiêm vụ quan trọng của đại hội VII là tập trung trí tuệ thảo luận và
thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội và chiến lược ổn định, phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2008.
11
Cương lĩnh đã khái quát qua quá trình cách mạng Việt Nam và từ đó rút ra
bài học: nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh
cũng trình bày vấn đề quá trình quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều
khuyết điểm và các biện pháp khắc phục trước tình hình thế giới.
Từ kết qủa nghiên cứu lí luận và tổng kết thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội
đồng thời cũng nêu ra những đặc trưng cơ bản nhất của Xã hội Chủ nghĩa ở
nước ta. Đó là một xã hội:
“ - Do nhân dân lao động làm chủ
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng hoàn toàn khỏi áp bức bóc lột bất công, làm
theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có
điều kiện phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có quan hệ hữu hảo hợp tác với tất cả các nước trên thế giới.”
Ngoài ra cương lĩnh cũng cho rằng “Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước
mạnh theo con đường Xã hội Chủ nghĩa, điều quan trọng nhất là phải cải biến
căn bản tình trạng kinh tế xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực lượng
cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước hết là các thế lực thù địch chống độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.”
Đại hội VII của Đảng đã thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế đến năm 2000. Mục tiêu tổng quát năm 2000 là “ra khỏi khủng hoảng, ổn định
tình hình kinh tế xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát
triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng an ninh, tạo điều kiện
cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ 21. Đề ra chiến lược về vấn đề
cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý và các cơ sở lớn, xây dựng những chỉ tiêu dựa
trên những căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn của từng lĩnh vực.
Sau Đại hội VII, sự tan rã của Liên Xô tác động sâu sắc đến nước ta. Một
số Đảng viên cùng nhân dân đã hoài nghi về tiền đồ của chủ nghĩa xã hội. Bên
cạnh đó, nước ta còn bị các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá
gây mất ổn định và bạo loạn. Nước ta một lần nữa rơi vào tình trạng hiểm
nghèo.
12

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC