Những lễ hội, làng nghề ở Bắc Ninh & những điều kiện để phát triển du lịch lễ hội làng nghề ở Bắc Ninh

Những lễ hội, làng nghề ở Bắc Ninh và những điều kiện để phát triển
du lịch lễ hội làng nghề ở Bắc Ninh. Thực trạng và một số đề xuất.
Phần mở đầu
I. Lý do lựa chọn đề tài
Cuộc sống ngày càng phát triển đôi khi người ta sống quá nhanh. Vô
hình đã bỏ qua và đánh mất những giá trị “ văn hóa” của mình. Đặc biệt khi
Việt Nam gia nhập WTO bên cạnh rất nhiều nhưng cơ hội giao lưu “văn
hóa” để tiến tới một nền văn hóa “ tiên tiến” thì cũng có rất nhiều những
thách thưc lớn. Một trong những thách thức đó là mờ nhạt và nguy cơ đánh
mất bản sắc của chính dân tộc mình.Và có lẽ ngay từ bây giờ chúng ta lẽ
chúng ta phải bắt đầu có những suy nghĩ về vấn đề đó ngay từ bây giờ. Cần
có những”rào bảo vệ “ cho văn hóa của mình để có thể thực hiện đúng
phương tram”hòa nhập nhưng không hòa tan”.Du lịch nói chung và cụ thể
hơn là du lịch văn hóa là một phương pháp” giáo dục “ như” một loại kháng
sinh” của văn hóa Việt Nam.
Bắc Ninh một tỉnh nhỏ nhưng có thể nói là một trong những cái nôi của
nền văn hóa Việt Nam , những làng quê, và lễ hội ở Bắc Ninh là điển hình
của làng quê và lễ hội ở Việt Nam. Ở Bắc Ninh hằng năm có thể nói là nơi
diễn ra nhiều lễ hội nhất ở Việt Nam.
Không những vậy Bắc Ninh còn là nơi có một hệ thống làng nghề khá
dầy đặc ,chủ yếu là những nghề thủ công truyền thống như trạm trổ , trạm
trổ, điêu khắc , đúc đồng,vẽ tranh,làm giấy .. Như vậy Bắc Ninh có những
điều kiện rất tuyêt vời để phát triển du lịch lễ hội ,làng nghề , càng tuỵệt vời
hơn cho sự kết hợp của du lịch lễ hôi và làng nghề…Tuy nhiên những làng
nghề và lễ hội nơi đây đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Như
vậy du lịch văn hóa nói chung và cụ thể là du lịch lễ hội nói riêng có thể phát
triển còn là một điều kiên tuyệt vời để gìn giữ và phát triển các làng nghề
đang có nguy cơ mai một ở Bắc Ninh , nâng cao đời sống của người dân nơi
đây.
Bài viêt dưới đây của em, dưới góc độ là trách nhiệm của một sinh viên
Kinh Bắc, có tiếng nói với quê hương của mình. Một sinh viên năm thứ 3 với
những hiểu biết sơ bộ về chuyên ngành du lịch và nguồn thông tin thứ cấp
qua đài báo ,internet, và những suy nghĩ của bản thân .
II. Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, đời sống vật chất được nâng cao với những
tiện nghi hiện đại nhât, mức sống của người dân dược cải thiện trông thấy.
nhưng cùng với nó lối sống thực dụng , chạy theo đồng tiền cũng có nguy cơ
phát triển. nhịp sống đô thị ngày càng căng thẳng đang khiến cho quan hệ gia
đình ngày càng trở lên lỏng lẻo ,cha con, vợ chồng ít quan tâm tới nhau hơn.
Trên báo chí đã xuất hiện những vụ con cái kiện cáo cha mẹ, tranh chấp của
cải với cha mẹ, đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão vv… là những hiện tượng
trước đây chỉ xẩy ra ở phương tây.(Tìm hiểu bản sắc văn hóa việt
nam_GS.viện sĩ Trần Ngọc Thêm)
Khi Việt Nam đã gia nhập WTO bên cạnh rất nhiều những cơ hội về
kinh tế cũng như về văn hóa. Cơ hội tiếp thu những văn hóa tiến bộ. để tiến
tới là một nền “văn hóa tiên tiến”. Bên cạnh rất nhiều những cơ hội đó thì văn
hóa Việt Nam sẽ bắt gặp rất nhiều những thách thực “ hòa tan”. Mặt trái của
nền kinh tế thị trừơng với khuynh hường “thương mại hóa”,với sự xáo trộn
về thang bậc giá trị, với sự phục hồi hủ tục…cũng tác động ráo riết. Hơn lúc
nào hết,nhu cầu bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc trở lên ngày càng bức
thiết.
Khi nghiên cứu đề tài này em muốn nhấn mạnh một điều : phát triển du
lịch văn hóa đem lại một lợi ích rất lớn không chỉ đơn thuần dừng lại ở lợi
ích kinh tế mà quan trọng hơn mà nó đem lại chính là “ lợi ích văn hóa” ( như
đã nói ở trên)
Với phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở “ du lịch lễ hội làng nghề ở một
tỉnh là Bắc Ninh”. Riêng ở góc độ cá nhân sau bài nghiên cứu này em mong
muốn có thể củng cố thêm những kiến thức “ kinh tế tế du lịch” của mình.
Thành thạo hơn về phương pháp nghiên cứu khoa học, củng cố và trang bị
thêm những kiến thức thực tế về du lịch của Bắc Ninh “ quê hương mình”
III. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
1.Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
 Phương Pháp thu thập thông tin thứ cấp
 Và các phương pháp khác
2.Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG
Chương I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm:
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa vào việc khai thác các tài
nguyên nhân văn của một công đồng nhăm thỏa mãn những nhu cầu văn hóa,
nhận thức, thẩm mĩ…
2. Mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa du lịch và văn hóa
2.1. Sự tác động của văn hóa đối với du lịch
Kết cấu của sản phẩm du lịch
• Hàng hóa du lịch
• Dịch vụ du lịch
• Tài nuyên du lịch
 Tài nguyên thiên nhiên
 Tài nguyên nhân văn
 Vật thể : chùa chiền,cá làng nghề cổ….
 Phi vật thể :các lễ hội ,các loại hình nhạc dân gian(vd:quan
họ Bắc Ninh….)
Như vậy có thể nói văn hóa là một nguồn lực để phát triển du lịch. Việc
tạo ra sản phẩm du lịch phụ thuộc rất lớn vào tài nguyên du lịch. Có thể nói
văn hóa là một nguyên nhân phát sinh nhu cầu du lịch. Và bản thân du lịch
cũng là một hoạt động văn hóa. Văn hóa là điều kiện để phát triển và phát
sinh du lịch. Chiến lược của du lịch Việt Nam là: du lịch văn hóa lịch sử và
sinh thái. Quan điểm phát triển là du lịch bền vững.
2.2. Sự tác động của du lịch đối với văn hóa
Du lịch là phương tiện để truyền tải, trình diễn các giá trị văn hóa. Du
lịch là sứ giả của hòa bình làm cho con người hiểu nhau hơn. “Vì giao lưu là
một trong các thuộc tính cơ bản của văn hóa và được biểu hiện sinh động
trong các du sản văn hóa mà diu lịch đang và sẽ góp phần không nhỏ để thực
hiện giao lưu văn hóa. Du lịch là cầu lối của các bộ phận dân cư thuộc các
nền văn hóa khác nhau, tạo lập mối quan hệ trực tiếp giữa quá khứ với hiện
tại tương lai Bên cạnh đó du lịch đem lại một nguồn thu lớn giúp đầu tư
trùng tu,tu dưỡng,tôn tạo các giá trị lịch sử như vậy sự phát triển của du lịch
tác dộng trực tiếp và gián tiếp đến việc trấn hưng và bảo tồn các giá trị văn
hóa
Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực không thể phủ nhận của du
lịch đối với đời sống kinh tế văn hóa, thì hoạt động du lịch cũng đem lại tác
động tiêu cực những ảnh hưởng đến công cuộc bảo tồn các di sản vản hóa nói
riềng và nếp sống văn hóa nói chung. Cụ thể là:
- Đối với các di sản vật thể đặc biệt là các di sản có giá trị với
toàn cầu nổi bật thì khách thăm qua du lịch và sự bùng nổ lượng khách đã trở
thành nguy cơ đe dọa đến việc bảo vệ các di tích này. Sự có mặt qúa đông
các du khách ở cùng một thời điểm di sản đã tạo lên các tác động cơ học ,
hóa học cùng với yếu tố khí hậu nhiệt đới gây ra sự hủy hoại các di sản các
động sản phụ thuộc như vật dụng trang trí các đồ thờ tự…
- Sự phát triển của các dịch vụ du lịch tự phát thiếu kiểm soát và
sự bùng nổ lượng khách du lịch còn tác động mạnh mẽ đến cảnh quan văn
hóa và môi trường sinh thái tại các khu di sản. Tại nhiều khu di sản , du
khách đã viết tên, khắc tên lên các cách đá, sự ô nhiễm khói bụi, các loại rác
thải , âm thanh của các động cơ.. tác động trực tiếp lên các bộ phận di tích.
- Một trong các sự tác động tiêu cực khác của du lịch là sự thất
thoát, buôn bán trái phépvà xuất lậu đồ cổ. Do hám lợi một số kể đã ăn cắp
các cổ vật ở các khu di tích, đào bới lăng mộ cổ tiến hành thu gom nhiều hiện
vật quý trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng cao,vùng sâu để buôn
bán với khách nước ngoài.
- Du lịch tạo nên sự tiếp xúc dân cư xuất than từ các nền văn hóa
khác nhau, có tập tục sinh hoạt và tín ngưỡng khác nhau. Do không được
thông tin đầy đủ, cụ thể nên nhiều khách du lịch đã ăn mặc và ứng xử tùy tiện
ở những nơi được coi lầ trang nghiêm – đặc biệt những di tích có ý nghĩa tôn
giao tín ngưỡngcủa dân sở tại, gây lên sự bất hòa thậm chí là sự xung đột tâm
lý và tinh thần. Du khách nước ngoài đến còn tác động tới tập quán sinh hoạt
và truyền thống văn hóa của người dân địa phương.”(vai trò của các di sản
văn hóa_PGS. TS Trương Quốc Bình_Giám đốc Bảo tang Mỹ thuật Việt
Nam)
3. Điều kiện để phát triển du lịch lễ hội làng nghề
3.1 Điều kiện chung
3.1.1.những điều kiện chung đối với sự phát triển của hoạt động đi du lịch
Nhóm này bao gồm những điều kiện sau:
3.1.1.1 Th ờ i gian nhàn r ỗ i c ủ a nhân dân:
Muốn thực hiện một cuốc hành trình du lịch đòi hỏi con người phải có
thờ gian. Do vậy, thời gian của nhân dân là điều kiện thiết yếu phải có để con
người tham gia vào hoạt động đi du lịch
3.1.1.2 M ứ c s ố ng v ậ t ch ấ t và trình độ v ă n hóa chung c ủ a ng ườ i dân cao:
Mức sống về vật chất của ngừơi dân cao
Thu nhập của nhan dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để
họ có thể tham gia đi du lịch. Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nời ở thường
xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu dung nhiều dịch vụ, hàng hóa. Con
người để có thể đi du lịch và tiêu dung phải có phương tiện vật chất đầy đủ.
Đó là điều kiên cần thiết để biến du lịch nói chung thành nhu cầu có khă năng
thanh toán, vì khi đi du lịch ngoài phải trả tiền cho các nhu cầu hằng ngày,
còn phải trả thêm các khoản tiền thuê tàu xe, nhà ở, tiền tham quan….Và xu
hướng khi đi du lịch con người có xu hướng tiêu dung rộng rãi hơn.
Trình độ văn hóa nói chung của nhân dân cao
Nếu trình độ văn hóa chung của một địa phương được nâng cao thì động
cơ đi du lịch của người dân ở đó tăng lên rõ rệt. Số người đi du lịch tăng,
long ham hiểu biết và mong muốn “mở rộng tầm mắt”. Mặt khác nếu trình độ
văn hóa của nơi đó nâng cao thì địa phương đó khi phát triển du lịch sẽ dễ
đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh lịch sự và làm hài long
khách đi du lịch tới đó.
3.1.1.3 Đ i ề u ki ệ n giao thông v ậ n t ả i phát tri ể n
Giao thông vận tải là một nhân tố chính trong phát triển du lịch.. Đảm
bảo phát triển về:
+Phát triển về số lượng
+ phát triển về chất lượng: phương tiện vận chuyển và chất lượng phục
vụ
+Tốc độ vận chuyển
+Đảm bảo an toàn trong vận chuyển
+Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển
+Giá cả rẻ
+ Sự phối hợp khoa học trong vận chuyển giữa các loại phương tiện
3.1.1.4 Không khí chính tr ị hòa bình, ổ n đị nh trong khu v ự c c ũ ng nh ư trên th ế gi ớ i
3.1.2 Nhóm thứ hai: những điều kiện có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động
kinh doanh du lịch
3.1.2.1 Tình hình và xu h ư ớ ng phát tri ể n kinh t ế c ủ a đấ t n ư ớ c
Một đất nước cót thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được
phần lớn của cải vật chất trong du lịch
3.1.2.2 Tình hình chính tr ị hòa bình, ổ n đị nh c ủ a đấ t n ư ớ c và các đ i ề u ki ệ n an
toàn đố i v ớ i du khách.
Tình hình chính trị , hòa bình ổn định của đất nước là tiền đề cho sự
phát triển kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước. Và cũng là tiền
đề cho du lịch phát triển
Các điều kiện an toàn đối với du khách:
Tình hình an ninh trật tự,an toàn xã hội
Lòng hận thù của người dân bản xứ đối với một quốc gia. Một chủng
tộc ngừơi..
Các bệnh dịch như tả , hạch , sốt rét … Du khách lo sợ đến đó họ sẽ bị
mắc bệnh.
3.2. Các điều kiện đặc trưng
3.2.1. Các điều kiện về tài nguyên du lịch
Các điều kiện vè tài nguyên du lịch là điều kiện cần để phát triển du
lịch. Chúng ta không thể phát triển du lịch lễ hội làng nghề nếu ở đó không
có các làng nghề truyền thống đặc sắc, các lễ hội dân gian có giá trị văn hóa
cao (điều kiện quan trọng nhất, các phong tục tập quán lâu đời,cổ lạ)…bên
cạnh đó là các điều kiện về thiên nhiên thuận lợi như: điều kiện về khí hậu
điều hòa ổn định, lượng mưa ít vào thời vụ du lịch, số giờ nắng trung bình
trong ngày cao, nhiệt độ trung bình của không khí và ban ngày và ban đêm
không quá cao, và không chênh lệch nhau qua nhiều, ngoài ra còn các điều
kiện về hệ động thực vật, nguồn nước, vị trí địa lý lằm trong khu vực phát
triển du lịch, khoảng cách từ điểm du lịch tới nguồn khách không được quá
xa, các điều kiện thành tựu kinh tế của các chính sách kinh tế…
3.2.2 Điều kiện sẵn sang phục vụ khách du lịch
3.2.2.1 Các đ i ề u ki ệ n v ề t ổ ch ứ c
Sự có mặt của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch
_ Cấp trung ương: các bộ, tổng cục. các phông ban trực thuộc chính phủ
có lien quan tới vấn đề du lịch
_ Cấp địa phương: Chính quyền địa phương, sở du lịch..
_ Hệ thống các thể chế quản lý, các chính sách và cơ chế quản lý..
_ Sự có mặt của các tổ chức và doanh nghiệp chuyên trách về du lịch
+ Kinh doanh khách sạn
+ Kinh doanh lữ hành
+ Kinh doanh vận chuyển khách sạn
+ Kinh doạn các dịch vụ khác
3.2.2.2 Các đ i ề u ki ệ n v ề k ỹ thu ậ t
_ Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, bao gồm toàn bộ nhà cửa và các
phương tiện vật chất kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn những nhu
cầu của khách du lịch như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận
tải, các khu giải trí, cửa hàng, công viên đường xá, cầu cống , các dịch vụ
công …
_ Cơ sở vật chất hạ tầng xã hội : Là những cơ sở vật chất không phải do
các tổ chức du lịch xây dựng mà là của toàn xã hội. Đó là hệ thống đường xá
cầu cống, nhà ga, sân bay, bến cảng. đường sắt, công viên của toàn dân,
mạng lưới thương nghiệp củ khu dân cư, hệ thống thông tin viễn thông, hệ
thống cấp thoát nước…vv
Đối với ngành du lịch cơ sở vật chất kỹ thuật xã hội là yếu tố cơ sở
nhằm khia thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng của của sản phẩm
du lịch.
3.2.2.3 Đ i ề u ki ệ n v ề kinh tế
Việc đảm bỏa nguồn vốn để duy trì và phát triển họat động kinh doanh
du lịch. Bởi vì ngành du lịch là một ngành đi đầu về phương tiện tiện nghi
hiẹn đại và là ngành lien tục đổi mới
Việc thiết lập kinh tế với các bạn hàng. Để đảm bỏa việc cung ứng phải
thường xuyên và có chất lượng tốt
3.2.3 Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt
Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt có thể thu hút khách du lịch và
là điều kiện dặc trưng để phát triển du lịch.( Ví dụ : 006 một sự kiện khá dặc
biệt là BillGates đã tới Việt Nam và đã tới Bắc Ninh)
4. Mối quan hệ của phát triển du lịch lễ hội làng nghề với bảo tồn và phát
triển các làng nghề
Có một sự kết hợp rất tuyệt vời đó là đa số các lễ hội ở Bắc Ninh đều
gắn với các làng nghề để tưởng nhớ tới công ơn của “ ông tổ làng nghề”. Đây
là điều kiện khá thuận lợi để ta gắn du lịch lễ hội và làng nghề.Sản phẩm làng
nghề phong phú, đa dạng. Bởi vậy, nhu cầu bạn hàng và thị trường tiêu thụ
rất cao. Khách du lịch đến làng nghề sẽ tạo ra một thị trường xuất khẩu tại
chỗ ngày càng lớn. Những đoàn khách du lịch kết hợp thương mại, tìm kiếm
cơ hội đầu tư ngày càng tăng. Các làng nghề đang cần những tổ chức tư vấn,
hỗ trợ, tài trợ quốc tế và những dự án đầu tư. Cơ hội mở rộng thị trường tiêu
thụ và thiết lập quan hệ bạn hàng quốc tế của các làng nghề qua việc trực tiếp
đón khách du lịch là rất lớn. Phát triển du lịch làng nghề là phát triển loại
hình du lịch văn hóa chất lượng cao. Ngày nay, trên thế giới, khách du lịch
văn hóa có xu thế ngày càng tăng. Các sản phẩm làng nghề truyền thống
thông qua nghệ nhân, hồn dân tộc, tính cách, tập quán người Việt được thể
hiện dưới dạng cách điệu trong họa tiết của sản phẩm sẽ tạo thú vị cho du
khách. Đây sẽ là phương tiện giao lưu, quảng bá văn hóa, đất nước, con
người Việt Nam mạnh mẽ và sâu rộng nhất.
Thông qua giao lưu văn hóa, du lịch Bắc Ninh sẽ có điểm tựa để phát triển
bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Thu hút du khách sẽ
đồng nghĩa với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ nhu cầu mua sắm, ăn, nghỉ,
tạo việc làm và thu nhập cho người dân, thúc đẩy kinh tế địa phương phát
triển , nâng cao đời sống của người dân nơi đây… Đó chính là cách nuôi
sống không chỉ các làng nghề
Chương II. Cơ sở thực tiễn
I.Các điều kiện để phát triển du lịch ở Bắc Ninh
1.Giới thiệu vè Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh Việt Nam giáp ranh giữa vùng đồng bằng sông
Hồng và vùng trung du Bắc bộ, cách thủ đô Hà Nội 31 km về phía Đông Bắc.
Phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh
Bắc Giang, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp
tỉnh Hưng Yên.
Về hành chính
Bắc Ninh bao gồm một thành phố và bảy huyện:
•Thành phố Bắc Ninh
•Huyện Gia Bình
•Huyện Lương Tài
•Huyện Quế Võ
•Huyện Thuận Thành
•Huyện Tiên Du
•Huyện Từ Sơn
•Huyện Yên Phong
Ngày 13 tháng 4 năm 2006 Bắc Ninh khai trương hệ thống điện tử và
công khai hệ thống thông tin đất đai, với sự trợ giúp của hãng Intel.
Cuối tháng 4 năm 2006 tỉnh đã đón chủ tịch tập đoàn Microsoft, ông
Bill Gates, trong chuyến thăm Việt Nam hai ngày.
Về điều kiện tự nhiên
Địa hình của tỉnh này tương đối phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc
xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy bề mặt đổ
về sông Đuống và sông Thái Bình. Vùng đồng bằng thường có độ cao phổ
biến từ 3-7 m, địa hình trung du (hai huyện Quế Võ và Tiên Du) có độ cao
phổ biến 300-400 m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ nhỏ (0,53%) so với tổng
diện tích, chủ yếu ở hai huyện Quế Võ và Tiên Du.
Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa rõ
rệt (xuân, hạ, thu, đông). Có sự chênh lệch rõ ràng về nhiệt độ giữa mùa hè
và mùa đông. Sự chênh lệch đạt 15-16°C.
Mùa mưa kéo dài từ tháng năm đến tháng mười hàng năm. Lượng mưa
trong mùa này chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm.
•Diện tích: 804 km²
•Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.400-1.600 mm
•Nhiệt độ trung bình: 23,3°C
•Số giờ nắng trong năm: 1.530-1.776 giờ
•Độ ẩm tương đối trung bình: 79%
•Tọa độ: 21°00' - 21°05' Bắc, 105°45' - 106°15' Đông.
Về tài nguyên, khoáng sản
•Rừng: Chủ yếu là rừng trồng. Trữ lượng ước tính 3.300 m³.
•Khoáng sản: Nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu
xây dựng như đất sét làm gạch, ngói, gốm với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở
Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết
trữ lượng 1 triệu tấn ở Thị Cầu, đá sa thạch ở Vũ Ninh trữ lượng khoảng
300.000 m³, than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60.000-200.000 tấn.
Về dân số
Năm 2004 Bắc Ninh có 987.400 người với mật độ dân số 1.222
người/km².
Về thành phần dân số
•Nông thôn: 86.9 %
•Thành thị: 13.1 %
Về kinh tế
•Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2001 ước đạt gần 5.300 tỷ đồng
(chỉ số giá năm 1994).
•Cơ cấu nông, lâm thuỷ sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ: 34% -
37% - 29%.
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế, xã hội của Cục Thống kê tỉnh Bắc
Ninh)
Về giao thông
•Đường bộ có các quốc lộ 1A, 1B (Hà Nội - Lạng Sơn), 18 nối sân bay
quốc tế Nội Bài với cảng Cái Lân, Quảng Ninh và đường 38.
•Đường sắt: có tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội-Hữu Nghị Quan.
Đường thủy: qua sông Cầu, sông Thái Bình và sông Đuống nối ra sông
Hồng các sông nhỏ như sông Ngũ huyện Khê, sông Dân, sông Đông Côi,
sông Bùi, ngòi Tào Khê (nay không còn), sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng
Bình.
2. Điều kiện phát triển du lịch lễ hội làng nghề ở Bắc Ninh.
2.1.Làng nghề truyền thống
•Làng đúc đồng Đại Bái
•Làng tranh dân gian Đông Hồ
•Làng dệt Hồi Quan
•Làng gốm Phù Lãng
•Làng Giấy Đống Cao
Bên cạnh những làng nghề lổi tiếng trên đây Bắc Ninh còn rất nhiều làng
nghề truyền thống khác. Nếu năm 2000, Bắc Ninh có 58 làng nghề, trong đó
có 30 làng nghề truyền thống và 28 làng nghề mới, thì đến 2007 lượng làng
nghề ở Bắc Ninh đã tăng lên 62. Tuy nhiên quy mô còn nhỏ lẻ và các sản
phẩm sản xuất chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tự cung tự cấp của địa phương, ít
lổi tiếng do bề dầy lịch sử chưa nhiều,mới chỉ phát triển trong một số năm gần
đây tuy nhiên nó lại có một vai trò quan trọng đóng góp một nguồn thu lớn
cũng như công ăn việc làm cho dân địa phương.Trong những năm qua, giá trị
sản xuất của các làng nghề luôn chiếm tỷ lệ cao trong giá trị sản xuất công
nghiệp ngoài quốc doanh và chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất công nghiệp
trên địa bàn toàn tỉnh. Năm 2000 giá trị sản xuất công nghiệp của làng nghề
đạt 561,3 tỷ đồng, chiếm 75% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh
và 28,3% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Năm 2002 giá trị sản
xuất công nghiệp ngoài quốc doanh của cả tỉnh đạt 1.410,26 tỷ đồng thì giá trị
sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong làng nghề đạt 1.057,5 tỷ
đồng, chiếm tỷ trọng 31,5% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn. Năm
2003, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 4.300 tỷ đồng, trong đó giá
trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh đạt 2.368 tỷ đồng và giá trị sản
xuất công nghiệp trong các làng nghề đạt 1.776 tỷ đồng. Năm 2005, giá trị sản
xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng 27,2% so năm trước và cao hơn so bình
quân chung cả nước. Tới năm 2006giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Bắc
Ninh đã đạt được gần 9 tỷ đồng/năm trong đó sản xuất công nghiệp của các
làng nghề chiếm khoảng 5 tỷ đông. Có thể nói nghững làng nghề không chỉ là
linh hồn của văn hóa Bắc Ninh mà còn là linh hồn của kinh tế Bắc Ninh.

2.2. Một số lễ hội tiêu biểu ở Bắc Ninh
Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ
khác nhau. Một số lễ hội nổi tiếng được liệt kê dưới đây:
•Lễ hội Lim (xã Lũng Giang huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 tháng
giêng hàng năm, tổ chức thi hát quan họ.
•Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, huyện Từ Sơn) để kỷ niệm 8 vị vua nhà
Lý.
•Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du)
để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương.
•Lễ hội Thập Đình (của mười xã thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình)
để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và
Doãn Công.
•Lễ hội Đồng Kỵ.
•Lễ hội Chùa Dâu.
(Theo âm lịch)
•Tháng giêng:
* Mùng 4:
• Hội rước pháo, thi pháo, tế bánh dầy, diễn trò ôm cột, dô Ông Đám,
múa hoa làng Đồng Kỵ ở xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn.
• Hội xem hoa mẫu đơn, diễn trò "Từ Thức gặp tiên" ở chùa Phật Tích
(Phật Tích Tiên Du).
• Hội thi kéo co giữa nam và nữ làng Hữu Chấp ở xã Phong Khê, huyện
Yên Phong.
• Hội rước lợn ỷ và đuổi cuốc làng Trà Xuyên ở xã Khúc Xuyên, huyện
Yên Phong.
• Hội hát Quan họ làng Ó (Hội Ó) ở xã Võ Cường, thị xã Bắc Ninh. Tối
họp chợ âm phủ và bán gà đen.
• Hội làng Vó (tức Quảng Bố) ở xã Quảng Phú, huyện Lương Tài có tục
đánh cá làm gỏi để tế thần Đông Hải Đại Vương.
• Mùng 4-5: Hội đuổi cuốc ở làng Xuân Đài (Vạn Linh, Gia Bình).
*Mùng 5:
• Hội Nguyện Cầu (Tam Giang, Yên Phong) có tục ném pháo vào cai
đám.
*Mùng 6:
• Hội hát quan họ các làng Ném (Khắc Niệm) ở xã Khắc Niệm, huyện
Tiên Du và làng Khả Lễ ở xã Võ Cường, thị xã Bắc Ninh.
• Hội rước chạ Khả Lễ, Bái Uyên ở xã Liên Bão, huyện Tiên Du.
• Mùng 6-7: Hội thi mã Đông Hồ ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành.
*Mùng 7:
• Hội hát Quan họ làng Đống Cao, xã Phong Khê, huyện Yên Phong.
• Mùng 5-7: Hội "Bách nghệ" làng Như Nguyệt ở xã Tam Giang huyện
Yên Phong. Biểu diễn các nghề của tứ dân "Sĩ, nông, công, thương".
• Mùng 6-15: Hội "chen" làng Nga Hoàng (Yên Giả Quế Võ) có diễn trò
trai gái, già trẻ chen nhau.
*Mùng 8-10:
• Hội Phú Mẫn ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong.
• Hội hát Quan họ làng Bò Sơn (Võ Cường, Thành phố Bắc Ninh) có
diễn trò đập nồi niêu.
*Mùng 9:
• Hội làng Tam Sơn ở xã Tam Sơn, huyện Từ Sơn.
• Hội thi nấu cơm làng Tư Thế ở xã Trí Quảng, huyện Thuận Thành.
• Hội làng Trần ở xã Hạp Lĩnh, huyện Tiên Du.
*Ngày 11-12: Hội thi đọc mục lục làng Phù Khê ở xã Phù Khê, huyện Từ
Sơn.
*Ngày 12-13: Hội Lim ở thị trấn Lim, huyện Tiên Du.
*Ngày 10-15:
• Hội làng Vân Đoàn (Đức Long, Quế Võ) có tục rước lợn đen (ông ỷ).
• Hội làng Đình Cả, Lộ Bao (Nội Duệ, Tiên Du) có tục "cướp chiếu", "tế
trâu thui".
*Ngày 13-15:
• Hội làng Thau (Kim Thao) ở xã Lâm Thao, huyện Lương Tài. Nổi
tiếng về thi đấu vật.
*Ngày 14-15: Hội đền Bà Chúa Kho, làng Cô Mễ ở xã Vũ Ninh, thị xã
Bắc Ninh.
*Ngày 18-21: Hội chùa Tổ ở xã Thái Bảo, huyện Gia Bình.
• Tháng 2:
*Mùng 6:
• Hội đình Keo ở Phù Chẩn, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh.
*Mùng 6-12:
• Hội trình nghề ở Phương La Đông, Phương La Đoài (Tam Giang Yên
Phong).
*Mùng 7:
• Hội đền Đức Vua Bà (Thuỷ tổ Quan họ) làng Viêm Xá (Diềm) ở xã
Hoà Long, huyện Yên Phong.
• Hội "Thập Đình" làng Bảo Tháp ở xã Đông Cứu, huyện Gia Bình.
• Hội Viềng (Vĩnh Kiều) ở xã Đông Nguyên, huyện Từ Sơn.
• Hội làng Dương Lôi (Đình Sấm) ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn để kỷ
niệm ngày mất của bà Phạm Thị thân mẫu Lý Công Uẩn.\
• Hội Chùa Đài hay còn gọi là chùa Kim Đài, Đình Bảng, Từ Sơn
• Hội làng Tam Tảo ở Phú Lâm, huyện Tiên Du.
*Mùng 7-15:
• Hội tranh cây mộc tất làng Long Khám ở xã Việt Đoàn, huyện Tiên
Du.
*Mùng 8:
• Hội làng Nguyễn Thụ ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn.
• Hội làng Yên Lã ở xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn.
• Hội chùa Tiêu ở xã Tương Giang, huyện Từ Sơn.
*Mùng 8-10:
• Hội làng Cẩm Giang ở xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn.
*Mùng 10 - 12:
• Hội Làng Yên Mẫn - phường Kinh Bắc - Thành phố BN
*Ngày 14: