Một số biện pháp khai thác cái đẹo trong thơ trữ tình Xuân Diệu

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Một số biện pháp khai thác cái đẹo trong thơ trữ tình Xuân Diệu

Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Phần mở đầu
"Đẹp đối với chúng ta cần thiết nh ánh sáng,
nh khí trời, nh cơm ăn áo mặc.
Đẹp là một điều chúng ta gặp hàng ngày"
- Vũ Kiêu -
I.
Lí do chọn đề tài
1. Lý do khách quan
Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới giai đoạn 1930 -
1945. Ông hoàng của thơ tình ấy đã đốt lòng ham muốn của mình thành
ngọn lửa tình yêu không bao giờ tắt. Trớc sau, Xuân Diệu luôn luôn thể hiện
cái tôi trữ tình khao khát giao cảm của một tâm hồn cô đơn, của một tấm
lòng "đìu hiu nh dặm khách" . Thơ ông đã thể hiện một quan điểm mới mẻ
và độc đáo về cái đẹp. Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là sự kết tinh cái
đẹp của tinh thần dân tộc và cái đẹp của thời đại. Vẻ đẹp con ngời và cuộc
sống trần thế đã khơi nguồn cho mọi cảm hứng sáng tạo trong thơ ông.
Chính điều đó đã góp phần nâng cao và khẳng định vị trí lớn lao của Xuân
Diệu trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX.
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cái đẹp của lý tởng thẩm mỹ, bắt
nguồn từ sự phong phú, hội nhập trong hồn thơ muôn hình vạn trạng của sự
sống, những say đắm tha thiết cha từng có ở chốn "nớc non lặng lẽ này".
Đó là cái đẹp của sự trau chuốt nghệ thuật, thể hiện qua những phơng thức
phản ánh cuộc sống một cách nhuần nhuyễn có sự kết hợp Đông - Tây, kim
- cổ và tạo nên một phong cách "mới nhất trong các nhà Thơ Mới". Cái đẹp
mang tính lịch sử xã hội là cái đẹp khơi dậy ý thức cá nhân của cái tôi độc
đáo trong thơ trữ tình Xuân Diệu 1930 - 1945. Cái đẹp có sức mạnh cản hoá
và làm say đắm lòng ngời mọi thế hệ.
Tác phẩn của Xuân Diệu chiễm số lợng khá lớn trong chơng trình văn
lớp 11 nhng việc đánh giá thơ trữ tình Xuân Diệu cũng cha thống nhất và
1
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
mới chỉ là những định hớng ban đầu. Vì thế để hớng cho học sinh tiếp cận
và tìm hiểu cái hay cái đẹp của thơ trữ tình Xuân Diệu trong nhà trờng đạt
hiệu quả cao là vấn đề khá phức tạp đối với ngời thầy.
Hiện nay, do yêu của cải cách, môn văn cần phải có sự đổi mới về phơng
pháp dạy - học văn nói chung và giảng dạy thơ trữ tình Xuân Diệu ở nhà tr-
ờng THPT nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục t tởng và giáo dục
thẩm mỹ cho học sinh. Bởi vậy, thơ trữ tình Xuân Diệu đợc đa vào THPT
đều là những tác phẩm độc đáo cả về nghệ thuật và nội dung, có nhiều điểm
mới lạ trong cách cảm nhận về cuộc sống, trong cách biểu hiện về con ngời.
Do đó, dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu không phải là dễ, đặc biệt hớng học
sinh cảm nhận đợc cái đẹp trong thơ ông là một điều khã phức tạp, đòi hỏi
ngời thầy phải dày công nghiên cứu, phải tìm tòi những biện pháp thích hợp,
những kỹ năng cần thiết trong quá trình giảng dạy.
2. Lý do chủ quan
Tôi rất thích thơ trữ tình Xuân Diệu ngay từ những năm còn ngồi trên
ghế nhà trờng phổ thông.
Khi học tại khoa Ngữ Văn ĐHSP Hà Nội, tôi mong muốn góp phần nhỏ bé
của mình vào quá trình giảng dạy có hiệu quả thơ trữ tình Xuân Diệu vào tr-
ơng THPT. ở bản luận văn này, chúng tôi muốn đa ra một cách hiểu, một h-
ớng khai thác mới đối với thơ trữ tình Xuân Diệu. Đó là việc đề xuất "Một
số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu dạy ở nhà tr-
ờng THPT hiện nay".
Tuy nhiên, với phạm vi hạn hẹp của một luận văn tốt nghiệp, chúng chỉ
có ý đinh bớc đầu tìm hiểu và định ra phơng hớng khai thác với mục đích
phục vụ cho việc dạy học Thơ Mới nói chung và khai thác cái đẹp trong thơ
trữ tình Xuân Diệu nói riêng ở nhà trờng trung học phổ thông nhằm nâng
cao hiệu quả và chất lợng học tập của học sinh.
II. lịch sử vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu và tiếp thu
những công trình nghiên cứu mỹ học, lý luận văn học và phơng pháp dạy
2
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
học văn để khẳng định phạm trù cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp trong thơ trữ
tình Xuân Diệu dạy ở nhà trờng THPT hiện nay.
1. Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu cái đẹp với t cách là một
phạm trù cơ bản của mỹ học
Để khẳng định phạm trù cái đẹp trong sự vận động đa dạng của ý thức
thẩm mỹ, chúng tôi đã tìm thấy tập luận văn nổi tiếng của Tsecnsepxki :
"Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực" (1855). Tập luận văn
này nghiên cứu cái đẹp trong mối quan hệ với hiện thực cuộc sống. Tsecn-
sepxki đã khẳng định: "Cái đẹp là sự sống. Một sinh thể đẹp là qua chúng,
ta nhìn thấy cuộc sống đúng theo quan niệm của ta.".
Cuốn "Nguyên lý mỹ học Marx - Lênin" (1963) của Viện Hàn Lâm
khoa học Liên xô đã đề cập tới cái đẹp của hình tợng nghệ thuật, của nội
dung và hình thức trong các loại hình và thể loại nghệ
thuật.
Các công trình "Cái đẹp - một giá trị" (Đỗ Huy), "Mỹ học Marx - Lê
nin" (Vũ Minh Tâm), "Đẹp" ( Vũ Kiêu), "Tìm hiểu mỹ học Marx - Lê nin"
(Hoài Lam) cho rằng cái đẹp trong tác phẩm văn học chính là cái sự phản
ánh cuộc sống sinh động, trân thực. Cái đẹp đó "
Gắn với chiều sâu thẳm
vốn chứa đựng ý nghĩa rõ ràng, vốn mang tính khát vọng yêu cầu giải
đáp".
Dựa vào những định hớng nêu trên, bản luận văn sẽ tập trung tìm hiểu và
khai thác cái đẹp theo quan niệm cái đẹp là một chỉnh thể thống nhất hài
hòa mang tính thẩm mỹ trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức nghệ
thuật, trong đó chú trọng những "
thông tin thẩm mỹ"
có sức lay động lòng
ngời.
2. Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu về thơ Xuân Diệu
Xuân Diệu - "một hiện tợng đặc biệt của thơ ca Việt Nam"`
1
. Nói đến
Xuân Diệu tức là nói đến thi sĩ đã thực sự mang đến cái hay, cái đẹp, cái mới
cho Thơ Mới, khẳng định sự thắng lợi của Thơ Mới. Bởi vậy, Xuân Diệu đã
"
lọt vào mắt xanh"
của rất nhiều nhà nghiên cứu:
3
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Nghiên cứu về giai đoạn sáng táp của nhà thơ trớc và sau Cách mạng
Tháng Tám (1945) có các công trình của Hà Minh Đức, Mã Giang Lân,
Thép Mới, Vũ Ngọc Phan.
Nghiên cứu về cái đẹp trong nội dung thơ Xuân Diệu có các công trình
của: Thế Lữ, Hoài Thanh, Phan Cự Đệ, Nam Chi, Nguyễn Đăng Mạnh,
Nguyễn Hoành Khung...
Nghiên cứu về cái đẹp trong nghệ thuật thơ Xuân Diệu có các công
trình: Thế Lữ, Lu Trọng L, Hoài Thanh, Vũ Quần Phơng...
Nhìn chung, các tác giả đều khẳng định giá trị và nét đẹp độc đáo của
thơ trữ tình Xuân Diêu, đồng thời đề cao giá trị nhân bản, niền khát khao
giao cảm với đời, ý thức cá nhân đợc phát triển cao độ và những cách tân
nghệ thuật lớn lao trong thơ ông. Tuy nhiên, còn ít công trình nghiên cứu
thơ Xuân Diệu một cách qui mô mà chủ yếu là những bài viết ngắn, tuỳ theo
cảm hứng của nhà nghiên cứu, và chỉ dừng ở nghiên cứu, giới thiệu tác giả
tác phẩm, đánh giá phẩm bình về t tởng nghệ thuật, cảm xúc trong thơ trữ
tình Xuân Diệu. Một số ngời còn có cái nhìn cha đúng về cái đẹp trong quan
điểm sống của Xuân Diệu. Vĩnh Xơng trong "
Tạp chí đất Việt"
(tháng 4 -
1986), Uyên Thao trong "Tạp chí giáo dục phổ thông" (số 72 năm 1960) và
Phan Cự Đệ trong "
Phong trào Thơ Mới"
(Nhà xuất bản KHXH - 1982) cho
rằng: "Thái độ tha thiết và sự vội vàng gấp gáp trong thơ Xuân Diệu là
biểu hiện của tình yêu vị kỉ và phủ nhận cuộc đời"...
3. Tìm hiểu một só công trình nghiên cứu về phơng pháp dạy học thơ
trữ tình Xuân Diệu ở nhà trờng THPT.
Mấy năm gần đây " vấn đề Xuân Diệu" đã đợc nhiều ngời nhắc đến, đặc
biệt đã có một số công trình nghiên cứu về phơng pháp giảng dạy thơ trữ
tình Xuân Diệu ở trờng phổ thông.

những công trình nghiên cứu này, các
tác giả đã đề cập đến việc khai thác cái đẹp thuộc hình thức cũng nh cái đẹp
trong nội dung, t tởng của thơ trữ tình Xuân Diệu:
4
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48

Cuốn "
Dạy văn, dạy cái hay cái đẹp"
của Nguyễn Duy Bình (NXB
- GD Hà Nội - 1983)

Cuốn "Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học" của Phan Trọng
Luận
(NXB GD Hà Nội - 1983)

Cuốn "
Thơ với lời bình"
của Vũ Quần Phơng (NXB - GD - 1990)

Cuốn "Những bài văn hay và khó" của Nguyễn Đăng Mạnh, Trần
Đăng Xuyền
(NXB - Giáo dục - 1996)

Cuốn "
Thiết kế bài học tác phẩm văn chơng"
tập I - tập II của
Phan Trọng Luận (chủ biên)
(Nhà xuất bản Giáo Dục 1996)
Mặc dù các công trình nghiên cứu trên chỉ nghiên cứu Xuân Diệu ở mức
độ nhỏ nhng đã gợi ý cho ngời viết về một số vấn đề lý luận để làm chỗ dựa
đề ra một số biện pháp khai thác vấn đề trong thơ trữ tình Xuân Diệu dạy ỏ
nhà trờng hiện nay. Việc dạy học thơ Xuân Diệu đã đợc đề cập đến ở nhiều
góc độ nhng việc khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu thì ít ngời
chú ý đến. Bài luận văn này chúng tôi mạnh dạn đa ra một số quan điểm
và một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu dạy ở
nhà trờng THPT..., đồng thời lấy t tởng "Mỹ học là đạo đức học trong tơng
lai" (M. Goorki)
1
làm kim chỉ nan cho các luận điểm của mình.
III. Phạm vi đề tài
- Thơ trữ tình Xuân Diệu có trữ lợng đồ sộ và "đề tài Xuân Diệu" cũng là đề
tài phong phú gợi nhiều sự tìm tòi, suy nghĩ, đánh giá. Phải nói với số lợng
thơ đồ sộ (hơn 500 bài thơ tình), Xuân Diệu thực sự là "
ngôi sao sáng trên
bầu trời văn học Việt Nam" (Nguyễn Bùi Vợi).
Nhng trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chủ nghiên cứu các bài thơ
của Xuân Diệu đợc tuyển chọn trong chơng trình lớp 11 THPT ( sách chỉnh
lý 2000) và đề xuất các biện pháp khai thác cái đẹp trong các bài thơ đó
5
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
theo quan điểm của phơng pháp dạy học văn mới. Đồng thời tiến hành thực
nghiệm ở một bài thơ cụ thể.
- Đối tợng nghiên cứu:
+ Quá trình dạy học ba bài thơ: "Vội vàng", "Đây mùa thu tới", "Thơ
duyên".
+ Học sinh tiến hành thực nghiệm: Lớp 11 A3, 11 A1 THPT Ninh Giang
- Hải Dơng.
+ Học sinh lớp 11 Văn, Toán trờng Năng khiếu Hải Dơng.
IV.
Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
1.
Mục đích:
Chúng tôi tiến hành luận văn này mong muốn góp sức mình vào quá
trình tìm ra con đờng, cách thức dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu ở trờng
trung học phổ thông đạt hiệu quả cao, cụ thể hoá những phơng pháp dạy học
văn nói chung vào việc dạy học thơ trữ tình Xuân Diệu nhằm giúp học sinh
nhận thức một cách sâu sắc thơ trữ tình Xuân Diệu. Ngoài ra, ngời viết còn
nhằm:
- Tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu với t cách là
một chỉnh thể thống nhất, toàn vẹn giữa nội dung đẹp và hình thức đẹp.
- Xây dựng và phát triển khuynh hớng nghiên cứu "hiện tợng Xuân
Diệu"
từ góc độ mỹ học
2. Nhiệm vụ của đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về cái đẹp, nghiên cứu cái đẹp trong thế
giới nghệ thuật thơ trữ tình Xuân Diệu nói chung và thể hiện cụ thể trong ba
bài thơ đợc tuyển chọn trong chơng trình
lớp 11, ngời viết mong muốn tìm ra những phơng pháp, biện pháp dạy học
thơ phù hợp với từng bài nhằm nâng cao hiệu quả dạy thơ trữ tình Xuân
Diệu ở trờng phổ thông.
Trên cơ sở nghiên cứu các biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình
Xuân Diệu, tác giả luận văn muốn soạn thể nghiệm bài "Vội vàng" với mục
6
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
đích để dạy học sinh theo định hớng của đề tài, giúp cho họ thực sự hiểu đợc
cái hay cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu, nhận thức con ngời Xuân Diệu
trong cuộc sống, qua đó nhận thức đợc quan niệm đầy tính nhân sinh trong
t duy thơ Xuân Diệu trớc cánh mạng. Cũng từ đó chúng tôi tiến hành đánh
giá kết quả thực nghiệm và rút ra những cái đợc và ch a đọc của đề tài.
v. phơng pháp nghiên cứu
Để tiến hành bản luận văn này, chúng tôi tập trung vào hai phơng pháp
chính:
1 - Phơng pháp thống kê, phân loại qua việc đọc tài liệu, đồng thời phân
tích và tổng hợp thành các luận điểm, luận chứng cụ thể.
2 - Phơng pháp thực nghiệm trong dạy học văn. Chúng tôi đã sử dụng
phiếu thăm dò để khảo sát kết quả học tập thơ Xuân Diệu của học sinh
sau đó phân loại, đánh giá.
Mặt khác, chúng tôi tổ chức những buổi trao đổi kinh nghiệm với giáo
viên phổ thông về việc giảng dạy thơ trữ tình Xuân Diệu. Đồng thời, chúng
tôi thử thiết kế một bài dạy thơ trữ tình Xuân Diệu theo hớng đã đề ra.
7
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Phần nội dung
ChơngI: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của
việc nghiên cứu đề tài
A. Cơ sở lý luận
I. Cái đẹp và các hình thức biểu hiện của cái đẹp
1.Quan niệm về cái đẹp
F. M Poteveky đã viết: "Nhu cầu về cái đẹp và về sự sáng tạo thể hiện
vẻ đẹp đó gắn bó keo sơn với con ngời, không có nó, có thể con ngời sẽ
không còn muốn sống trên đời".
Cái đẹp là cái thẩm mĩ tích cực là phạm trù lớn nhất của lý luận mĩ học.
Mỗi ngời có quan niệm khác nhau về cái đẹp, song xét về phạm vi đúng sai
thì lại khác:
Trong cuốn "Tìm hiểu mĩ học Marx - Lê nin", Hoài Lam đã khẳng định:
"Với t cách là cái thẩm mĩ, cái đẹp là bất kỳ một sự vật hay hiện tợng toàn
vẹn cụ thể, cảm tính nào có nội dung phù hợp với nội dung qui luận phát
triển tất yếu khách quan của xã hội và thế giới, và hình thức thể hiện nó
ngày càng tơng ứng với nội dung đó bao nhiêu, nó càng đẹp hơn bấy
nhiêu. Cũng có thể nói rằng cái đẹp là cái thẩm mĩ có chứa đựng trong
bản chất của nó những khả năng phát triển tiến bộ, nói chung của xã hội
và thế giới"
1
.
Theo B. A.E Ren - Groxx : "Cái đẹp đó là cái xinh hơn hết, cái xinh
nhất. Khái niệm này đợc sử dụng để đánh giá một đối tợng hay một hiện t-
ợng nào đó nói chung".
2
Theo "Nguyên lý Mỹ học Mác Lê nin": "Khi đánh giá thẩm mĩ các sự
vật của hiện thực nh là những cái đẹp, chúng ta không chỉ tính tới chuyện
hình thức của chúng có tơng ứng với nội dung mà nội dung phải có nghĩa
1
Hoài Lam, Tìm hiểu mỹ học Mác Lênin - NXB Văn hoá, Hà Nội 1979, T197
2
B.A.E.Ren.Groxx. Mỹ học, khoa học diệu kì, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1984, T77
8
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
tích cực nếu không thì cho dù có sự tơng ứng của hình thức với nội dung,
một hiện tợng nh vậy, nhìn chung không phải là đẹp"
1
.
Nh vậy, cái đẹp bao giờ cũng thể hiện một cách cụ thể sinh động sự vận
động của hiện thực vơn tới lý tởng.
Cái đẹp tồn tại trong cả tự nhiên và xã hội, trong hoạt động vật chất và
tinh thần của con ngời. Do có tính chất tổng hợp nh vậy nên việc định nghĩa
cái đẹp chỉ mang tính chung nhất rồi đợc cụ thể hoá vào từng lĩnh vực biểu
hiện của cái đẹp. Đẹp là cái ở đó có sự tơng ứng của một hình thức đợc cảm
thụ cảm tính cụ thể với một nội dung tích cực thể hiện thông qua hình thức
đó. M. G Tsecnsepxki nói: "Cái đẹp là cuộc sống", phải hiểu ông không chỉ
đề cập đến nguồn gốc cái đẹp nằm trong bản thân thực tại mà Tsecnsepxki
còn lu ý chúng ta chỉ có thể coi một hiện tợng cụ thể là đẹp nếu ở đó đặc
tính của cuộc sống đợc biểu hiện rực rỡ và đầy đủ.
2. Các hình thức biểu hiện của cái đẹp
2.1. Cái đẹp trong tự nhiên
"Biết ngạc nhiên và cảm xúc trớc cái đẹp trong thiên nhiên là một năng
khiếu quí giá của con ngời". Trong cái đẹp tự nhiên, ngời ta thấy rằng vẻ
đẹp của phong cảnh thiên nhiên và cơ thể con ngời là những biểu hiện kỳ
diệu nhất của Tạo hoá. Chất liệu tự nhiên đẹp đẽ biết chừng nào! Con ngời
thổi vào thiên nhiên tính chất huyền diệu ma thuật. Thiên nhiên trở nên đẹp
vô cùng khi con ngời đến với nó bằng cảm xúc trái tim. V. G Bielimxki từng
nói: "Cảm xúc về cái kiều diễm là một điều kiện làm nên phẩm giá con ng-
ời"
2
. Con ngời trở thành ngời đánh giá thẩm mỹ và hiện tợng tự nhiên trở
thành đối tợng của đánh giá đó. "Những hiện tợng nào trong tự nhiên trực
tiếp hay gián tiếp gợi lên, toát lên hay gắn bó với sự sống, sự tiến bộ của
xã hội và thế giới đểu đợc coi là những cái đẹp trong tự nhiên"
3
. Thiên
nhiên càng ngày càng mang dấu ấn con ngời đợc nhân tính hoá. Nắm đợc
qui luật cái đẹp con ngời trở thành "bà đỡ" thiện nghệ cho cái đẹp tự nhiên
và cái đẹp trong cuộc sống.
1
Hoài Lam, Nguyên lý mỹ học Mác Lê Nin - NXB SGK Mác Lê nin, Hà Nội, 1984, T57
2
V,G Bielinxki - "Phê bình văn học " - trích theo Phan Tiến Dũng - TCVH số 7 năm 1984
3

3
Hoài Lam , sdd - trang 207 và 210.
9
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Công cuộc xây dựng tự nhiên giàu đẹp phục vụ con ngời vừa là biểu hiện
thực sự của văn minh, vừa là bản thân cái đẹp "một cái đẹp to lớn, mới mẻ
và gắn liền với hạnh phúc con ngời"
1
.
2.2 Cái đẹp trong xã hội
Cái đẹp trong xã hội chủ yếu đợc xét trên hai lĩnh vực cái đẹp trong đấu
tranh với thiên nhiên (lao động sản xuất) và cái đẹp trong đấu tranh xã hội.
* Cái đẹp trong lao động sản xuất:
Đó là cái đẹp của lao động sáng tạo và xây dựng tự nhiên. Cái đẹp trong
sản xuất gồm những con ngời đẹp trong cải tạo thiên nhiên và cải tạo bản
thân. Con ngời đẹp là con ngời bằng khả năng thể lực và tinh thần dội vào
sản xuất, tạo năng suất cao và sản phẩm đẹp.
Lao động không những là bản thân cái đẹp mà còn là nguồn sức mạnh
vô tận tạo ra con ngời cao đẹp lẫn đất nớc đẹp giàu.
*Cái đẹp trong đấu tranh xã hôi
Cái đẹp quan trọng nhất trong xã hội là cái đẹp của sự giải phóng con
ngời, chống lại cái bảo thủ, lạc hậu. "Cái đẹp trong xã hội là những con ng-
ời, hiện tợng và quá trình cụ thể toàn vẹn, sinh động. Cái đẹp trong xã hội
là cái thẩm mĩ tích cực xét theo lập trờng của sự tiến bộ lịch sử"
2
.
Hoạt động theo qui luật cái đẹp, nắm đợc rõ qui luật độc đáo này, làm
sao chú trọng, suy xét đúng mức quan hệ của mình với những ngời khác,
mối liên hệ và sự lệ thuộc vủa nình vào tự nhiên, xã hội mà cả với chính
mình. Sống và sáng tạo theo qui luật của cái đẹp đó là con ngời chân chính,
con ngời viết hoa.
2.3. Cái đẹp trong nghệ thuật
Cái đẹp là yếu tố thẩm mĩ đóng vai trò hàng đầu trong nghệ thuật và
hoạt động nghệ thuật. Nghệ thuật mài giũa, trau dồi cái cảm xúc thẩm mĩ
của con ngời và xây dựng phán đoán thẩm mĩ có tính khách quan. Cái đẹp
trong nghệ thuật không đơn thuần là cái đẹp trong cuộc sống đợc phản ánh
mà "cái đẹp trong nghệ thuật là sự tái hiện và phản ánh một cách sáng tạo
cái đẹp trong tự nhiên và trong cuộc sống xã hội"
3
.
1
2
Hoài Lam Sđd - trang 219
3
I.U.Bôrep - Những phạm trù mỹ học cơ bản - Trờng ĐHTH Hà Nội - 1974, T274
10
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của cuộc sống đợc phản ánh vào tác
phẩm chỉ có đợc khi nghệ sĩ có nhận thực đúng đắn về cái đẹp đó và có tài
năng nghệ thuật cần thiết để phản ánh chân thực nó.
Nếu khoa học biểu đạt chân lý bằng khái niệm, thì nghệ thuật biểu hiện
cái đẹp bằng hình tợng thông qua hệ thống chất liệu của "sản phẩm nghệ
thuật". Hình tợng của mỗi loại hình nghệ thuật đợc cấu thành từ các yếu tố
nghệ thuật nh: màu sắc, đờng nét trong hội hoạ hay âm điệu, giai điệu hoà
âm, trong âm nhạc... và từ ngữ, hình ảnh trong văn học. Vì vậy bức tranh
của Tề Thạch Bạch,
bản Xônát ánh trăng của Bethôven, Tháp Epphé, Chùa Một Cột hay hình t-
ợng Anna Karênina... có những đặc trng khác nhau.
Cái đẹp trong nghệ thuật là bất tử, "nghĩa là nghệ thuật biến vẻ đẹp
thành vĩnh cửu, giữ gìn, nâng niu nó cho tất cả mọi ngời bắt nó phải sống
hàng thế kỷ mang lại niềm vui cho mọi ngời"
1
.
Cái đẹp trong nghệ thuật là sự thống nhất biện chứng giữa nội dung đẹp
và hình thức đẹp. Nội dung đẹp là: "Nội dung của lý tởng sống đợc chiếu
sáng một cách sâu sắc và lấp lánh, góp phần định hớng hoạt động con ng-
ời. Hình thức đẹp là hình thức tổ hợp cấu trúc và vật chất - cái bản chất
bên trong của nội dung một ngoại hình có sức cuốn hút mĩ cảm"
2
.
Cái đẹp trong nghệ thuật có sức mạnh lạ kỳ, nó xua tan cảm giác nhạt
nhoà nhàn chán, nó mài sắc t duy và giác quan của ta, nó giáo dục bồi dỡng
năng lực cảm thụ thế giới, nó giúp ta tự hoàn thiện bản thân. Tiếng hát thần
kỳ của mụ phù thuỷ Xiêcxe và các tiên quỷ ám ảnh ta trên eo biển Uyliat và
Ôđixê, bản dơng cầm tuyệt mỹ của "chú dế sau lò sởi" với "ánh trăng
mảnh dẻ " va vào cửa kính giúp nhân loại có thiên tài Môza...
Nhìn chung, cái đẹp trong nghệ thuật có sức mạnh tổng hợp giá trị mỹ
học và đạo đức, triết học, chính trị, khoa học... Cái đẹp luôn hiện hữu trong
thế giới con ngời trong đời sống nội tâm phong phú. Nói nh Gocki "Con ng-
ời bản tính vốn là nghệ sĩ. ở mọi nơi nó đều bằng cách này hay cách khác
1
B.A.Ren.Groxx - sdd - T89
2
Mỹ học Mác Lê nin
11
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
đa cái đẹp vào đời sống của mình.... Cảm hứng trong sự thể hiện, sáng tạo
cái đẹp khởi nguồn t duy ở con ngời mọi thời đại"
1
.
II. Cái đẹp trong thơ và cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân
Diệu
1. Cái đẹp trong thơ
Cái đẹp trong thi ca hội tụ những phẩm chất u tú nhất, tuyệt mĩ nhất của
các loại hình nghệ thuật. "Những nghệ thuật khác không có năng lực nói
với chúng ta dù ta là một phần trăm cái mà thi ca nói với chúng ta. Sở dĩ
có những điều chỉ nói đợc bằng thơ"
2
(Maiacôpxki) là do sức mạnh tối cao
nhờ vào đặc trng thể loại.
Về nội dung, thơ gắn liền với đời sống tinh thần và nhu cầu bộc bạch
chia sẻ tình cảm của con ngời "Thơ là tiếng lòng" (Ngô Giang Tiệp), "Thơ
chỉ vang ra khi trong ta cuộc sống đã tràn đầy" (Tố Hữu) . Cái đẹp trong
thơ chính là cái đẹp của sự phong phú đa dạng, các biến thái tình cảm,
những rung động chân thành sâu thẳm mọi khát vọng hoàn thiện bắt nguồn
từ cuộc sống làm giàu cho cuộc sống. ấy là lý tởng đẹp, cảm xúc đẹp, t t-
ởng, lẽ sống đẹp... Sự xúc tích hàm ẩn và tinh tế của lòng ngời không đâu
diễn đạt đợc bằng thơ.
Về nghệ thuật, hình tợng thơ đợc xây dựng bằng ngôn ngữ và những chi
tiết nghệ thuật theo một trật tự nhất định, "vang lên nhạc điệu khác thờng",
"ngôn từ và trật tự là một cặp nhảy hoàn mĩ chẳng chịu rời nhau nửa b-
ớc"
3
. Từ những đặc trng này, hình tợng thơ bao giờ cũng khơi gợi những
"khoái cảm thẩm mĩ " độc đáo và diệu kỳ đối với ngời đọc.
2. Cái đẹp trong thơ trữ tình
Căn cứ vào cách phản ánh cuộc sống ngời ta phân chia thơ thành hai
loại: thơ trữ tình và thơ tự sự
"Thơ trữ tình là thể loại mà trong đó những cảm xúc và suy t của nhà
thơ hoặc của nhân vật trữ tình trớc các hiện tợng đời sống đợc thể hiện
1
Goorki "Bàn về văn học" Tập I - T107
2
Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đớivới hiện thực - Tsecnxepxki - Sdd - T120
3
Eliô - "Tìm một định nghĩa cho thơ" - Mã Giang Lân - TCVH số 12 - 1995
12
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hoá của cảm nghĩ và tính chất chủ
quan hoá của sự thể hiện là những dấu hiệu tiểu biểu của thơ trữ tình"
4
.
Về nội dung, thơ trữ tình có đối tợng phản ánh hẹp, nó là trạng thái tâm
hồn tình cảm của con ngời đợc bày tỏ một cách trực tiếp. Cái sự kiện của đơì
sống hiện thực đợc thơ trữ tình phản ánh một cách gián giếp thông qua tâm
trạng của tác giả. Cái đẹp trong thơ trữ tình chính là cái đẹp của thế giới nội
tâm của thi nhân đợc bộc bạch và gửi gắm trong những hình ảnh thơ. Đó là
cảm xúc trữ tình đợc thăng hoa, là quan điểm trữ tình đẹp đẽ thể hiện năng
lực thẩm mỹ độc đáo của cái tôi trữ tình nhà thơ.
Về hình thức, thơ trữ tình đợc xây dựng bởi một hệ thống ngôn ngữ
mang tính chất cá thể rõ rệt và thể hiện chính xác trạng thái tâm hồn của thi
sỹ. Ngôn ngữ thơ trữ tình tạo nên giọng điệu trữ tình có dấu ấn phong cách
riêng biệt, đó là cái đẹp độc đáo của thể loại này.
Nh vậy, khám phá cái đẹp trong thơ trữ tình là đi vào khám phá cái đẹp
trong nội dung và hình thức toàn vẹn của thơ trữ tình.
3. Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu
3.1. Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cái đẹp của hồn thơ và
lý tởng thẩm mĩ vì con ngời và sự sống
3.1.1. Cảm xúc thẩm mĩ và hồn thơ phong phú trong thơ trữ tình Xuân
Diệu
Cái đẹp trong thơ trữ tình là cái đẹp của những tinh hoa cuộc sống đ-
ợc "chng cất" qua cảm xúc thẩm mỹ của nghệ sĩ.
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu có sức hấp dẫn mãnh liệt đối
với bạn đọc trớc hết ở tính bộc bạch chân tình ở độ nồng nàn của cảm
xúc thời gian - hiện tại, khác với sức hấp dẫn gợi từ cảm xúc thời gian
quá khứ của Chế Lan Viên hoặc cảm xúc không gian của Huy Cận. Vì
cảm xúc luôn gắn với hiện tại mà hiện tại luôn biến đổi nên Xuân Diệu
luôn giữ cho cảm xúc của mình một chất tơi mới, sống động.
Cảm xúc thời gian - hiện tại trong thơ trữ tình Xuân Diệu đợc biểu
hiện trong thế giới đa dạng và tinh tế của tuổi trẻ và tình yêu. Thơ trữ
tình Xuân Diệu nói lên nhiều cảnh ngộ và ngõ ngách của nội tâm, nhiều
4
Lê Bá Hán (Chủ biên) - Từ điển thuật ngữ văn học - NXB - ĐHQG Hà Nội 1999
13
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
trạng huống của tình cảm, có những câu ăn sâu vào máu thịt bao thế hệ
và thấm thía nh đức tin.
Có bao nhiêu cung bậc tình yêu ngoài đời thì có bấy nhiêu thể hiện
trong thơ Xuân Diệu chúng đợc tinh chế qua thứ xúc cảm "khi buồn
cũng nh khi vui, ngời đề nồng nàn tha thiết" (Thế Lữ). Từ tình yêu đơn
phơng (Yêu, Nớc đổ lá khoai), đến đồng cảm (Mời yêu, Đa tình), từ tình
đầu, (Tình thứ nhất, Xuân đầu), đến tình kiếp sau (Vô biên, Giục giã), từ
lúc gần gũi (Phải nói, Rạo rực), đến khi chia ly (Xa cách, Bên ấy bên
này), bao giờ Xuân Diệu cũng yêu ngấu nghiễn cái màu mỡ của cuộc
sống. Tất cả những vui, buồn, yêu, ghét, hờn giận, nhớ nhung ấy có thể
hợp thành cuốn từ điển tình yêu giá trị. Cái đẹp phong phú này là một
đặc trng của thơ trữ tình Xuân Diệu.
Thơ trữ tình Xuân Diệu không những giàu có về cảm xúc mà còn đa
dạng trong những cảm nhận tinh tế những biến thái tinh vi của ngõ ngách
tâm trạng. Vì Xuân Diệu có "cái mà ngời ta gọi là một tâm hồn. Tôi sẵn
sàng lặn dò mọi điều huyền bí, những cái ấy làm giàu nội tâm"
1
Hồn
Xuân Diệu lắng nghe bớc đi của thời gian (Đây mùa thu tới), hoà nhập
cùng thiên nhiên, vũ trụ (Thơ duyên), và mở rộng lòng mình để tận hởng
cuộc sống, (Vội vàng)... bao giờ ông cũng tỏ ra là ngời "nghe thấu sự mơ
hồ nh đã thạo dò ra những điều tinh tế"
2
.
Đặc biệt Xuân Diệu không dừng ở kiểu nghe, nhìn, và xúc cảm của
thơ ca truyền thống, ông cảm nhận thế giới bằng tất cả ngũ quan và tâm
linh vô thức. Ta sẽ thấy "nhạc" và "gió" có "mùi": (Huyền diệu), ánh
trăng lạnh nhờ vào cộng hởng cảm giác (Nguyệt cầm) ... Từ cái vô hình
mơ hồ nhng hiện hữu trong cảm nhận:
"Không gian nh có dây tơ
Bớc đi sẽ đứt động không hờ sẽ tiêu"
(Chiều)
cho đến phút giây đồng vọng từ kỉ niệm và tâm thức:
"Làm sao định nghĩa đợc tình yêu
1
Xuân Diệu "Một tâm sự thi sỹ" - TCVH số 1 - 1983
2
Thế Lữ - Tựa Thơ thơ - Trích "Xuân Diệu Thơ và Đời" - NXB Văn học
14
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu"
(Vì sao)
điều đó chứng tỏ một thụ cảm "mới nhất trong các nhà Thơ Mới", nó
đem lại cho hồn thơ phong phú của Xuân Diệu chất trữ tình quyến rũ lạ
lùng.
Nh vậy cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu nghiêng về cái đẹp của
cảm xúc thẩm mĩ và đời sống nội tâm hơn là cái đẹp của phẩm chất trí
tuệ nh thơ Chế Lan Viên hoặc một số nhà thơ khác. Chiều vận động của
hệ cảm xúc này tạo nên đặc trng hình tợng thơ trữ tình Xuân Diệu sẽ đợc
đề cập ở phần sau.
3.1.2 Lý t ỏng thẩm mĩ trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Con ng ời là chuẩn mực của cái đẹp
Thơ trữ tình Xuân Diệu luôn cháy lên niềm khát khao giao cảm với đời.
Ngọn lửa rừng rực niềm yêu sống, giao hoà tâm linh và ham muốn tận hởng
hạnh phúc tuyệt diệu nơi hạ giới. T tởng nghệ thuật này xét đến cùng là một
cách thức chiếm lĩnh thế giới một quan điểm về thế giới. "Một bầu nhiệt
huyết đối với cái đẹp của cuộc sống con ngời, là t tởng thấm nhuần tình
cảm thẩm mĩ"
1
.
Nguyên nhân sâu xa của niểm khát khao giao cảm ấy chính là lý tởng
thẩm mĩ của một cá thể muốn tồn tại trọn vẹn ý nghĩa trong đời sống.
Danh từ "lý tởng" phát sinh từ tiếng cổ Hy Lạp, biểu thị khái niệm của
con ngời về sự hoàn thiện, con ngời hoàn thiện và xã hội hoàn thiện. Trong
ý thức con ngời, lý tởng là ớc mơ, "là mục đích đặc trng cho phơng hớng
tổng quát vơn lên trong cuộc sống của con ngời đó"(E. Gromốp).
Cái đẹp - lý tởng phần lớn phụ thuộc vào quan niệm. Một nguyên tắc mĩ
học cơ bản của Xuân Diệu là lấy cái đẹp giữa tình yêu và tuổi trẻ của con
ngời làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của thế giới vạn vật.
Từ cổ chí kim, thơ ca thờng thiên về cái đẹp thiên nhiên và cuộc sống:
"Thơ xa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
1
Nguyễn Đăng Mạnh - "Dẫn luận nghiên cứu tác gia văn học" - Giáo trình ĐHSP 1993 - T110
15
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông"
(Hồ Chí Minh - Thiên Gia Thi)
Hàn Mặc Tử coi thơ ca cấu thành từ bốn yếu tố của cái đẹp: "trăng, hoa,
nhạc, hơng"... Nhng Xuân Diệu lại đa ra một nguyên tắc mĩ học rất mới có
giá trị nhân bản lớn lao, đó là cái đẹp gắn bó với con ngời.
Xuân Diệu đã gắn sự vận động của tạo hoá theo hoạt động và ý thức của
con ngời. Mọi lao động và sáng tạo nghệ thuật đều vì con ngời, chỉ có vẻ
đẹp của con ngời mới xứng đáng là trung tâm mĩ học "Con ngời là kiểu
mẫu và kích thớc - để đo lờng vạn vật" Protagôrax. Quan niệm lấy con ngời
làm tiêu chuẩn cho cái đẹp bắt nguồn từ thời Phục Hng, Sexpia cũng từng
thốt lên: "Kỳ diệu thay là con ngời - Thật là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu
của muôn loài" (Hamlet - Hồi II - Cảnh II).
Đối với Xuân Diệu, con ngời là cốt lõi của mọi cảm hứng thẩm mĩ với
động lực thúc đẩy mạnh mẽ tình yêu trần thế. Lý tởng thẩm mĩ trong thơ
ông gắn liền với lẽ sống tiến bộ của nhà thơ.
Thơ trữ tình Xuân Diệu là cái tôi của Thơ Mới vùng vẫy trong sự bế tắc
của thời đại, mang nét đẹp buồn bã tinh tế của cổ nhân. Nó đậm nồng những
sầu đau, xa cách, chia lìa, buồn tủi, nhng vẫn lấp lánh ý thức và t tởng của
nhà thơ. Trong khi Thơ Mới nói riêng, chủ nghĩa lãng mạng nói chung phủ
nhận hiện tại hoặc hớng tới tơng lai ... thì lý tởng của Xuân Diệu không đâu
xa chính là con ngời giữa thực tại. Có ngời thoát tục nhập vào cảnh tiên (Thế
Lữ), có kẻ đắm vào mộng - trăng (Hàn Mặc Tử) ... Chỉ Xuân Diệu đủ nhiệt
huyết và bản lĩnh tìm trong "phút huy hoàng, phút họp mặt" và "những thời
khắc" vẻ đẹp con ngời. Lý tởng độc đáo này đa Xuân Diệu tới vị trí xứng
đáng trong nền văn học nớc nhà. "Xuân Diệu là một ngời của đời một ngời
giữa loài ngời. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần
gian"
1
, ông đã không trốn tránh mà lại còn quyến luyến cõi đời, và lời
nguyền ớc của ông có bao nhiêu sức mạnh:
"Ta ôm bó tay ta làm rắn
Làm dây da, quấn quýt cả mình xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vờn trần
1
Thế Lữ - Tựa Thơ thơ - Sđd
16
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Chân hoá rễ để hút mùa dới đất"
(Thanh niên)
Cách mạng đến giải phóng sự tù đọng của t tởng Thơ Mới thơ trữ tình
Xuân Diệu trở nên ấm nóng reo vui khi tìm đợc mái nhà đích thực là nhân
dân, tổ quốc. Vẫn là vẻ đẹp của chiều sâu cảm xúc nhng càng mạnh mẽ trở
về cội nguồn, xây dựng đất nớc.
Trớc cách mạng là "Thơ Thơ" (1938) "Gửi hơng cho gió" (1945), sau
Cách mạng là cái đẹp trong đấu tranh và lao động của con ngời mới xây
dựng XHCN. Trớc là nét đẹp mềm mại uyển chuyển sau là chất sống khẻ
khoắn mộc mạc. Trớc sau Xuân Diệu đều nhất quán để thơ đi vào cuộc sống
và "đem chất sống thực tế vào thơ"
1
. Nói nh Hà Minh Đức: "Cái đẹp trong
thơ là sự thống nhất thẩm mĩ giữa những phẩm chất của thực taị khách
quan với cái đẹp trong tâm hồn nhà thơ"
2
. Nh vậy, lý tởng thẩm mĩ đã giúp
nhà thơ thực hiện thiên chức sáng tạo theo qui luật cái đẹp bằng ý thức, cảm
xúc và lẽ sống của mình. Lý tởng thẩm mĩ đã tạo cho thơ Xuân Diệu chất
thơ tràn nhựa sống.
Bản chất của cái đẹp là sự sống đ ợc sống lại nhiều tầng trong thơ trữ tình
Xuân Diệu
"Cái đẹp là cuộc sống" mà bản chất cuộc sống luôn vận động, hơn nữa,
Xuân Diệu coi con ngời giữa trần thế và hiện tại là tối cao nên bản chất cái
đẹp trong thơ trữ tình của ngời luôn vận động và đổi mới. Cái gì sống thì
luôn biến hoá và "hoạt khí" kéo theo cái đẹp thì không có giới hạn và không
bao giờ cũ. Đây là một hệ quả tất yếu của lý tởng thẩm mĩ nói trên.
ý thức về sự đổi thay và có cái nhìn "xanh non biếc vờn", Xuân Diệu coi
cái đẹp phải là cái mới mẻ, "tơi nguyên" và "đầu tiên". Chúng có ý nghĩa
kết tinh sự chuyển vận của vạn vật, chúng lại thanh lọc và làm phong phú
tâm hồn nhà thơ, chúng gắn với hơi thở nồng ấm mới mẻ của thời đại. Chỉ
có cái Mới mới đủ sức trẻ hoá và đáp ứng nhu cầu giao cảm khẩn thiết của
Xuân Diệu. Niềm giao cảm sẽ trở nên phongphú linh diệu trong kho báu
tâm hồn của vạn ngời. Chọn cái "tình thứ nhất", "đêm thứ nhất", "xuân
1

2
Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" - Hà Minh Đức - NXB Giáo dục - 1997 - T54
2
17
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
đầu", "rạo rực". Xuân Diệu có con mắt "tinh đời" đem lòng ràng buộc với
vẻ đẹp "thanh tân" ấn tợng nhất trong đời ngời.
Xuân Diệu viết nhiều về mùa xuân và tuổi trẻ là nơi mới nhất trong đời
ngời. Những gì mới mẻ cũng "ban sơ", "trinh bạch", những tình đầu cũng
"mới mẻ", "trai tơ", những buổi đầu cũng son trẻ êm ái những vẻ đẹp "ban
sơ" cũng rạo rực say sa.
Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch
Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ
Hơng mới thấm bền ghi nh thiết thạch
Lơng nguyên tiêu trời đất cũng chung mùi.
(Tình thứ nhất)
Cái mới mẻ, tơi nguyên đó chứng tỏ Xuân Diệu là nhà thơ "mới nhất
trong các nhà Thơ Mới" và giải thích tại sao những ngời trẻ tuổi trẻ lòng lại
say mê thơ trữ tình Xuân Diệu đến thế.
Tóm lại, trong lý tởng thẩm mĩ của Xuân Diệu, bản chất của cái đẹp là
sự sống. Đặc biệt, với Xuân Diệu thì "nghệ thuật phản ánh cuộc sống nhng
không phải phản ánh một cách tẩm thờng nhạt nhẽo mà "phản ánh một
cách cao đẹp". (Trờng Chinh) từ tầm cao của lý tởng và có sự sáng tạo
thẩm mĩ"
1
.
Tình yêu - trái tim thức đáp trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Xuân Diệu đa ra một quan niệm mới mẻ về tình yêu là một cách khẳng
định lý tởng thẩm mĩ cao đẹp. "Lần đầu tiên với Xuân Diệu văn học Việt
Nam mới có đợc tình yêu thực sự là tình yêu" (Nguyễn Đăng Mạnh - Sđd).
Với Xuân Diệu tình yêu là sự giao cảm tâm linh lẫn thể xác để đa con ngời
tới bến bờ mê đắm, mới lạ và thánh thiện.
Lý tởng của tình yêu là sự giao cảm linh hồn nên rát sợ "xa cách"
"Trong say sa anh sẽ bảo em rằng
Gần thêm nữa thế vẫn còn xa lắm"
ở Xuân Diệu nỗi cô đơn tinh thần chuyển thành cảm giác cô đơn của
nhục thể rất nhân bản, rất hùng tráng.
1
Nguyễn Duy Bình - Sdd - T40
18
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
"Trời xanh trêu nh chén xanh êm
Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm
Nên lúc môi ta kề miệng thắm
Trời ơi, ta muốn uống hồn em".
(Vô biên)
Tình yêu trong thơ ông cũng giản dị, đời thờng, đó là hạnh phúc đợc
sống vì nhau và đợc bên nhau. Xuân Diệu khẳng định chỉ có tình yêu giữa
cuộc đời thực sẽ mãi mãi xanh tơi, chỉ có tuổi trẻ con ngời là nguồn sống
dào dạt nhất:
"Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cời
Vĩnh viễn anh yêu em nh yêu sự thật
Và cây đời mãi mãi xanh tơi
Cây đời mãi mãi xanh tơi".
(Cây đời mãi mãi xanh tơi)
Lý tởng thẩm mĩ của Xuân Diệu bắt nguồn từ cuộc sống và làm giàu cho
cuộc sống. Còn gì đáng hoan nghênh hơn khi t tởng của một nhà thơ bảo vệ
cho lẽ sống tiến bộ và phẩm chất cao đẹp của con ngời?
3.2 Thế giới nghệ thuật - một sức mạnh truyền cảm trong thơ trữ tình
Xuân Diệu
3.2.1 Thiên nhiên và phụ nữ - hai hình t ợng kỳ diệu của cái đẹp tự nhiên
trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Lý tởng về cái đích của cuộc sống hoàn thiện khiến hình tợng con
ngời mới trong thơ trữ tình Xuân Diệu xoay quanh hai kiểu hình tợng
thiên nhiên và phụ nữ. Đây là hai biểu hiện kỳ diệu nhất của cái đẹp Tối
cao trong tự nhiên, qua thơ trữ tình Xuân Diệu lại có thêm sức mạnh tối
cao của đôi tay nghệ sỹ.
Vẻ đẹp rất sinh động của ngời phụ nữ có cái gì khát khao mê đắm
giống nh chất men kích thích lý tởng về cái đẹp vốn sẵn trong chúng ta.
Trong phạm vi đợc tinh lọc, ngời phụ nữ trong thơ trữ tình Xuân Diệu có
sự kết hơp giữa cái duyên dáng e ấp châu á với vẻ nồng đợm châu âu.
Rung cảm trớc mùa thu (Đây mùa thu tới, Thu) đúng là chất yêu kiều
nhng khẳng định tình yêu nh nhu cầu là một táo bạo:
19
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
"Em nói trong thơ mẫy bữa rày
Sao mà bơm bớm cứ đùa bay
Em buồn em nhớ chao em nhớ
Em gọi thầm anh suốt cả ngày"
(Đơn sơ)
Thế giới hình tợng thiếu nữ trong thơ trữ tình Xuân Diệu mang vẻ đẹp
hiện đại, bình đẳng với nam giới, hết mình với cuộc đời. Một vể đẹp nhân
bản của thơ Hồ Xuân Hơng, một dáng dấp tung hoành của Angiêlic...
Ngời phụ nữ hiện lên ở những "điểm sáng" nh "nét mặt", "ánh mắt ngời
yêu", vì đây là vẻ đẹp chân chính nhất của nhân vật "em".Đó là "Đôi mắt,
nguồn mặn nồng tha thiết" (Đêm trăng đờng láng) , "đôi mắt đang nhìn
anh say đắm" (Tơng t chiều), "đôi mắt ngời yêu ôi vực thẳm" (Xa cách)
Những thanh sắc trần gian làm nên thế giới của "ngực nóng khúc đê mê",
của "em đẹp khi em phồng nét ngực", của "tháng giêng ngon nh một cặp
môi gần"... Chi tiết nghệ thuật nhỏ nhng có sức khái quát nghệ thuật cao.
Thế giới tâm hồn của em cũngđợc Xuân Diệu khắc hoạ đầy đủ từ nét mặt
và con mắt buồn bã trong không gian "mây đen ám mặt mày" (Đây mùa thu
tới, Tơng t chiều) đến nét rạng rỡ và nụ cời tơi trên gơng mặt em, là sự phát
triển của một quá trình "đi từ chân trời của một ngời đến chân trời của
muôn đời ngời".
Cái đẹp của thiếu nữ trong thơ trữ tình Xuân Diệu không có cái hiện thực
của "tiên nga mơ mộng cảnh xa vời" (Thế Lữ) hay vẻ dân dã bắn bó với
làng quê nh "em là cô gái trong khung cửi" (Nguyễn Bính) mà quyết liệt
không mơ hồ . Càng về sau, nhà thơ càng đem cái đẹp chung của những "cô
gái mở đờng" (Tố Hữu), "cô giái xeo giấy" (Chế Lan Viên)... vào lý tởng
thẩm mĩ của mình. Xét đến cùng hình tợng những cô gái ấy là cái tôi Xuân
Diệu nhập vai.
Thiên nhiên trong thơ trữ tình Xuân Diệu tràn đầy hơi thở trẩn thế - tức
là thiên nhiên đợc ngời hoá. Thiên nhiên đất trời là nơi để Xuân Diệu gửi
gắm lòng say mê cuộc sống và khát vọng tình yêu, ông ký thác vào đó
những tâm sự cô đơn. rặng liễu mùa thu với nỗi buồn tang tóc, hàng cây
20
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
thay lá, mảnh trăng chia lìa đơn chiếu, góc phố nhỏ đìu hiu, đám mây buồn
u ám... Có khi thiên nhiên dạt dào và tràn trể những dòng vận chuyển, "gió
vừa chạy, vừa rên, vừa tắt thở", "sắc hạ rụng rung rinh bốn phía hè", " n-
ớc suối đã lờ đờ khép mắt"...
Trong thế giới hình tợng "cơn gió lạ kỳ", " bông hoa ngàn vẻ" thì "vầng
trăng" muôn vàn cánh thể hiện là biểutợng cho sự vĩnh cửu của cái đẹp và
nghệ thuật Xuân Diệu viết nhiều về trăng bao quát tất cả "Trăng" "Hoa
đêm, Nguyệt cầm, Buồn trăng"... "là "một cái đẹp, một lý tởng".
"Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ
Đa hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy"
(Ca tụng)
Sức hấp dẫn độc đáo của thiên nhiên trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cái
gì đó vừa trần tục vừa gắn bó với con ngời lại bao hàm khát vọng lý tởng.
Nhng "môi em, mắt em, nụ cời em , tâm hồn em" trở thành linh hồn và sinh
lực của thiên nhiên. Những đất trời, cỏ cây, sông núi, thấm đợm vẻ đẹp đầy
sắc dục của ngời đàn bà lên hơng giữa tình yêu. Đây là một đặc điểm độc
đáo của thi pháp thơ trữ tình Xuân Diệu.
Nói tóm lại, thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình Xuân Diệu mang đặc
tính thẩm mĩ cao, những hình tợng thiên nhiên và phụ nữ thoả mãn nhu cầu
hởng thụ cái đẹp trong cuộc đời. Vẻ đẹp của ngời đàn bà trong sứ mệnh và
thiên chức của mình biểu tợng cho cái đẹp - hạnh phúc cao cả của nhân loại.
Nguồn gốc của xúc cảm thẩm mĩ do những hình tợng này mang lại giúp ta
nhìn thấy một quan niệm đúng về cái đẹp.
3.2.2 Hình t ợng cặp đôi - một quan điểm mĩ học r ợu cũ bình mới
Trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Xuân Diệu, cái gì ở thế song phơng
tơng giao và hoà hợp cũng đọc coi là đẹp. Đó là tâm thế đẹp. Đơn giản vì
Xuân Diệu khát khao hạnh phúc lứa đôi và giao cảm linh hồn. ông muốn đặt
bản thân và tâm thế "hớng về, ôm ấp, sẵn lòng ân ái" và đồng cảm. Khát
vọng và tâm lý ấy đã phổ vào thơ trữ tình Xuân Diệu các kiểu hình tợng cặp
đôi, cái gì cũng gọi đôi và cần có đôi.
"Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên
Cây me ríu rít cặp chim chuyền
21
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền"
(Thơ Duyên)
Quan niện cái đẹp tồn tại ở thế song phơng, tơng ứng thực ra đợc hấp thụ
từ nét đẹp truyền thống. Những biểu tợng trong ca dao bao giờ cũng ở thế có
đôi nh trăng với sao, trầu với cau, biển với thuyền.
Tâm lý song phơng của ngời Việt ảnh hởng từ văn chơng đến ca vũ, kiến
trúc, giao tiếp... Nó thể hiện sự vững chãi - đầy đủ và khát vọng an bình trớc
cuộc sống khó khăn.
Trong sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông và
Tây trong thơ trữ tình Xuân Diệu, quan niệm về cái đẹp tơng giao ấy là cơ
sở vững chãi cho một thế giới nghệ thuật đầy xuân tình và tràn đầy sức sống.
Cái mới là cách bài trí hình ảnh, chi tiết và hình tợng nhịp nhàng tơng giao
trên trục cơ bản là quan hệ giao cảm diễn ra hai chiều quan hệ, khách thể
(thế giới) và chủ thể (cái tôi Xuân Diệu). "Cái đợc biểu hiện" là quan điểm
mĩ học truyền thống, "cái biểu hiện" là hình ảnh, câu chữ, nhịp điệu... mang
hơi thở thời đại.
3.2.3. Cái đẹp độc đáo của ngôn ngữ hình ảnh và nhạc điệu trong thơ trữ
tình Xuân Diệu
"Nội dung có tính thẩm mĩ chỉ tồn tại trong hình thức sáng tạo độc đáo
của nó"
1
. Thơ trữ tình Xuân Diệu có "cái đẹp bên trong" là những t tởng, quan
điểm lẽ sống... và "cái đẹp bên ngoài" là ngôn ngữ chi tiết cấu trúc, nhạc
điệu ... có tác dụng quyết định đối với việc xây dựng hình tợng trong thơ.
Ngôn ngữ thơ trữ tình Xuân Diệu có chiều sâu của t tởng và rung cảm
thẩm mĩ có cái bay bổng của trí tởng tợng diệu kỳ, có tính chất Rađium cô
đọng, hàm súc, mang đậm dấu ấn cá nhân - Xuân Diệu. Hệ thống từ ngữ của
Xuân Diệu thiên về giá trị biểu cảm tinh tế bởi nhà thơ có sở trờng diễn tả
những biến thái tinh vi. Đó là hệ thống từ láy, từ tợng hình đạt tới độ giao hoà
linh diệu của trờng phái tợng trng... Xuân Diệu a sử dụng từ ngữ gây cảm giác
mạnh và chú ý phát huy khả năng cao độ của tính từ. Hệ thống từ ngữ đắt giá có
sức khái quát cao độ sự phát triển của quá trình.
1
Nguyễn Duy Bình - Sđd - T59
22
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Trong vờn sắc đỏ rũa màu xanh
Đã nghe rét mớt luồn trong gió
(Đây mùa thu tới)
Hệ thống từ ngữ có khả năng diễn tả đầy đủ các động tác mạnh bạo, bộc
bạch nhiệt tình, hởng thụ, hăm hở cuống quýt.
"Hãy sát đôi đầu hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài"...
(Xa cách)
Cái riêng của giọng điệu thơ trữ tình Xuân Diệu có lúc da diết tiêu tao,
có lúc cô sầu đài các. "Với những câu thơ ít lời, nhiều ý, súc tích nh đọng
lại bao nhiêu tinh hoa. Xuân Diệu là một tay thơ biết lam ta ngạc nhiên về
nghệ thuật dẻo dai và cần mẫn"
1
.
Chất cảm xúc trữ tình độc đáo trong thơ trữ tình Xuân Diệu khiến hệ
thống hình ảnh luôn sáng tạo, sống động và độc đáo:
"Những luồng run rẩy, rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xơng mỏng manh"
hay bình dị thân quen:
"Tóc liễu buông xanh quá mĩ miểu
Bên màu hoa mới thắm nh kiêu"
Cách tổ chức ngôn ngữ thơ cùng với "ý muốn sát nhập vào thơ niềm kỳ
kiệu mà âm nhạc mở ra" khiến thơ trữ tình Xuân Diệu giàu chất nhạc.
Nhạc điệu ấy đôi khi là tiếng sóng biển rì rào, cái dồn dập của nhịp thơ
nói đợc tình yêu đến độ sung mãn "Biển" hoặc sự vận động và tơng ứng cuả
các cặp hình tợng gọi đôi tạo đợc giọng điệu quyến rũ và một sức mạnh
chuyển vận vào bên trong tâm hồn (Thơ Duyên).
Thơ Xuân Diệu có đủ "ý, tình, hình, nhạc" (Mã Giang Lân) mà phần
nhạc tài hoa và quyến rũ.
3.3 Giá trị của cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Nhìn chung, thơ trữ tình Xuân Diệu phát biểu một quan điểm mới mẻ về
cái đẹp đậm đà tính nhân văn và mang hơi thở thời đại. Xuân Diệu khám
1
"Xuân Diệu - Một đời ngời, một đời thơ" - Thế Lữ - NXB Giáo Dục - 1993, T46
23
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
phá cái đẹp trong đời sống nội tâm con ngời trên cơ sở tinh thần dân tộc và
sự thức tỉnh cái tôi Thơ Mới.
T tởng mĩ học trong thơ trữ tình Xuân Diệu đợc bắt nguồn từ truyền
thống dân tộc "trong ý thức của nhân dân, cái đẹp là cái bên trong, ở trong
bản chất chứ không phải cái đẹp bên ngoài".(Guxep - Mỹ học folclo)
Cái đẹp gắn với cái hữu ích (tốt gỗ hơn tốt nớc sơn), cái đẹp không rời
phẩm chất đạo đức, (Cái nết đánh chết cái đẹp)... Cái đẹp có sức mạnh cản
hoá lòng ngời.
Trên cơ sở đó thơ trữ tình Xuân Diệu hấp thụ t tởng tiến bộ của thời đại
và đa quan điểm dân gian phát triển thêm một bậc. Xuân Diệu luôn có ý
thức rèn rũa hệ thống ngôn từ hình ảnh, nhạc điệu để hình tợng nghệ thuật
trong thơ ấy có giá trị thẩm mĩ cao. Mỗi một tác phẩm thơ trữ tình Xuân
Diệu phải là một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn giữa nội dung đẹp và hình
thức đẹp.
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu không phải là cái đẹp "ý niệm" hay
cái đẹp chỉ có trong cảm xúc đơn thuần mà là cái đẹp hiện hữu trong cuộc
sống cái đẹp là sự sống chỉ có mảnh đất đẹp trần thế mới là nguồn dinh d-
ỡng vô tận cho cái đẹp trên trang thơ. Nh vậy hạnh phúc của con ngời thiết
thực và thúc đẩy cuộc sống.
B. Cơ sở thực tiễn
I. Dạy học văn nhằm phát huy chủ thể học sinh và chú
trọng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh
1. Dạy học lấy học sinh làm nhân vật trung tâm
Bản chất của quá trình dạy học lấy học sinh làm nhân vật trung tâm là
hoạt động có tính chất nhân văn sâu sắc "Trong phơng pháp dạy học lấy
học sinh làm nhân vật trung tâm toàn bộ quá trình dạy học đều hớng vào
nhu cầu khả năng và lợi ích của học sinh bàn tiếp về dạy học lấy học sinh
làm trung tâm"
1
.
" Việc coi học sinh là nhân vật trung tâm có nghía là phát huy chủ thể
học sinh để tiếng nói của nhà văn khơi nguồn rung cảm ở các em chứ
1
Trần Bá Hoành - TCNCGD số 8 - 1995
24
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
không phải là khách thể bị động chịu sự tác động của giáo viên thông qua
phơng pháp dạy học thông tin - tái hiện Học sinh là mục đích của quá
trình văn học, vừa là phơng tiện, con đờng đạt tới hiệu quả s phạm trong
quá trình ấy"
1
.
Vì vậy ngời giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc hớng dẫn, tổ
chức, thiết kế hoạt động của học sinh để học sinh tiếp thu đợc cái hay, cái
đẹp của tác phẩm văn chơng. Mỗi học sinh là một nhân cách đang hình
thành, ngời giáo viên phải biết khơi nguồn cảm xúc thẩm mỹ cho các em từ
đó hình thành nhân sinh quan tiến bộ cho mỗi em.
2. Xoá bỏ bệnh xã hội học dung tục trong dạy văn
Mặt khác nhà trờng phổ thông của ta trong một thời gian dài vẫn còn tồn
tồn tại bệnh xã hội học dung tục cần phải đổi mới . Đó là tình trạng học tập
tác phẩn văn chơng biệt lập với phơng diện chức năng thẩm mĩ và giáo dục,
đồng thời thoát li hình tợng và nội dung khách quan khiến học sinh không
thấy đợc vai trò chủ quan của tác giả, đánh mất thú học tập của các em. Học
sinh không trực tiếp giao tiếp với tác phẩm, không thực sự rung cảm, không
khí giảng văn nặng nề đơn điệu, thiếu rung cảm thẩm mĩ thiếu sức truyển
cảm thuyết phục. Sức thuyết phục của văn chơng trớc hết chủ yếu là bản thân
tác phẩm văn chơng. Tác phẩm văn chơng là nguồn phát truyền cảm xúc
thẩm mĩ đến cho học sinh. Trong giờ học không ai thay thế đợc tiếng nói của
nhà văn vang lên từ tác phẩm. Giáo viên chỉ là ngời bạn độc có kinh nghiệm,
ngời truyền tin, ngời môi giới cho quá trình giao tiếp.
3. Coi giáo dục thẩm mĩ cho học sinh là mục tiêu hàng đầu
Văn chơng là loại hình nghệ thuật ngôn từ, hiệu quả dạy văn là kết quả
hình thành và phát triển nhân cách thẩm mĩ ở học sinh, hiệu quả dạy văn đợc
đo bằng lắng đọng trong học sinh, song cũng cần có lao động thẩm mĩ.
Trong nghị quyết đại hội IV của đảng cộng sản việt nam đề ra phơng h-
ơng "Tăng cờng giáo dục thẩm mĩ cho học sinh thông qua văn học nghệ
thuật và các bộ môn khác, xây dựng quan điểm thẩm mĩ của chủ nghĩa
Marx - Lênin, phê phán những quan điểm thẩm mĩ không vô sản, bồi dỡng
1
Phơng pháp dạy học Văn - NXb ĐHQG Hà Nội - 1996 - T46
25

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Một số biện pháp khai thác cái đẹo trong thơ trữ tình Xuân Diệu