Cơ chế giao dịch của sở giao dịch CK tp hồ chí minh và so sánh với trung tâm giao dịch CK Hà Nội

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Cơ chế giao dịch của sở giao dịch CK tp hồ chí minh và so sánh với trung tâm giao dịch CK Hà Nội

Trờng đại học quốc gia hà nội
Khoa quốc tế
Bài tiểu luận thị trờng chứng
khoán
Đề tài:
Cơ chế giao dịch của sở giao dịch chứng khoán tp hồ chí
minh
và so sánh với trung tâm giao dịch chứng khoán hà nội
Nhóm thực hiện : Nhóm 9
Giáo viên hớng dẫn : TS. Nguyễn Thanh Tùng
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2008
Nhúm 9
Thành viên nhóm :
- Văn Lan Hương ( trưởng nhóm )
- Nguyễn Thị Hoài Anh
- Nguyễn Thị Vân Anh
- Đặng Thị Quỳnh
- Đỗ Thị Hoàng Yến
- Trần Thị Thùy Linh
- Hoàng Thị Thanh Thương
- Nguyễn Thị Lan Anh
Phần trình bày của nhóm gồm
1 Mở bài :
-Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam ,trong đó bao
gồm sở giao dịch chứng khoán HCM và trung tâm giao dịch
chứng khoán HN
2.Thân bài :
Trình bày nội dung gồm có
Phần 1 Tìm hiểu về cơ chế giao dịch của sở giao dịch chứng
khoán HCM
Phần 2 Tìm hiểu sơ lược về cơ chế giao dịch của trung tâm
chứng khoán Hà Nội
Phần 3 So sánh cơ chế giao dịch của HCM với cơ chế giao dịch
HN
Phần 4 Nhận xét riêng của nhóm
3.Kết luận
-Sau khi nghiên cứu ,nhóm đã rút ra được những kết luận gì ?
Các tài liệu đính kèm :
1.Câu chuyện chứng khoán
2.Hướng dẫn chi tiết cho người bắt đầu tham gia thị trường chứng khoán
3.Tổng kết về cơ chế hoạt động chứng khoán năm 2007
4.Phụ lục phân công công việc trong nhóm
1.MỞ BÀI
-Bạn có chơi chứng khoán không?
-Bạn đang mua chứng khoán của công ty nào thế ?
Có thể nói tại thời điểm hiện nay,không ai trong chúng ta còn cảm
thấy ngỡ ngàng hay xa lạ trước thuật ngữ :”thị trường chứng
khoán”.Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế cùng với xu
thế hội nhập kinh tế quốc tế ,thị trường chứng khoán VN đã ra đời
và ngày càng có những bước phát triển chóng mặt,thậm chí việc
mua bán giao dịch chứng khoán còn là một trong những xu
hướng thịnh hành nhất đối với mỗi người,mỗi nhà của thời đại
ngày nay.Chúng ta có ủy ban chứng khoán Nhà nước,là cơ quan
quản lý Nhà nước về các hoạt động liên quan đến chứng khoán
trên lãnh thổ VN trong đó bao gồm hai trung tâm giao dịch chứng
khoán tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.Từ đó,việc chúng ta
nghiên cứu,tìm hiểu và phân tích về cơ chế giao dịch chứng
khoán sẽ giúp ích rất nhiều cho việc phát triển một hệ thống
chứng khoán có khoa học,có quy mô và ngày càng hoàn thiện .
2.THÂN BÀI
Phần 1: Cơ chế giao dịch của sở giao dịch chứng khoán
HCM
I.Giới thiệu chung
-Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
Sở giao dịch chứng khoán HCM được thành lập tháng 7 năm
2000, là một đơn vị trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và
quản lý hệ thống giao dịch chứng khoán niêm yết của Việt Nam.
Chỉ số giá cổ phiếu trong một thời gian nhất định (phiên giao dịch,
ngày giao dịch) của các công ty niêm yết tại trung tâm này được
gọi là VN-Index. Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh hoạt động như một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên Nhà nước với số vốn điều lệ là một nghìn tỷ đồng.
Cơ chế giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh là một hệ thống đặt-khớp lệnh tự động. Năng lực
của hệ thống là 300.000 lệnh mỗi ngày. Giá chứng khoán giao
dịch bị giới hạn biên độ thay đổi hàng ngày là cộng-trừ 5% so với
giá đóng cửa ngày hôm trước. Riêng trong ngày niêm yết đầu
tiên của một cổ phiếu, chỉ thực hiện một đợt khớp lệnh, giá giao
dịch được thả nổi.
Việc thanh toán được thực hiện tập trung qua Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam (BIDV), một ngân hàng thương mại quốc
doanh. Nhiều ngân hàng nội địa và công ty chứng khoán được
phép nhận lưu ký chứng khoán, còn Chi nhánh Thành phố Hồ Chí
Minh của Ngân hàng Hồng Kông-Thượng Hải (HSBC) và ngân
hàng Deutsche Bank được nhận lưu ký của khách hàng nước
ngoài. Việc lưu ký cũng thực hiện tập trung tại Trung tâm Lưu ký
Chứng khoán, một cơ quan trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước.
- Hoạt động quản lý giao dịch
Trước hết, phải nói rằng hoạt động quản lý giao dịch là một
trong những nghiệp vụ quan trọng của TTGDCK TP.HCM. Xác
định được tầm quan trọng đó, thời gian qua Trung tâm luôn
nghiên cứu và kiến nghị các giải pháp kỹ thuật cũng như các quy
chế, quy trình nhằm từng bước hoàn thiện và tạo điều kiện thuạn
lợi để các nhà đầu tư tham gia mua bán chứng khoán trên thị
trường. Từ thời điểm ban đầu Trung tâm chỉ thực hiện một đợt
khớp lệnh trong một phiên giao dịch và mỗi tuần chỉ tổ chức 3
phiên giao dịch (Hai, Tư, Sáu) thì nay Trung tâm đã tăng lên 2 đợt
khớp lệnh trong một phiên và mỗi tuần thực hiện 5 phiên giao
dịch. Bên cạnh đó, nếu như trước đây, trái phiếu được tổ chức
giao dịch thông qua 2 phương thức là khớp lệnh và thoả thuận, có
quy định biên độ giao động, đơn vị yết giá thì nay, căn cứ vào tình
hình thị trường và kinh nghiệm quốc tế, trái phiếu được giao dịch
chỉ qua phương thức thoả thuận, không quy định biên độ và đơn
vị yết giá.
Tính đến ngày 28/7/2004, TTGDCK TP.HCM đã thực hiện được
839 phiên với một số kết quả cụ thể sau: Tổng khối lượng giao
dịch cổ phiếu đạt 139.100.237 cổ phiếu với tổng giá trị 3.976 tỉ
đồng; tổng khối lượng giao dịch trái phiếu đạt 105.745.034 trái
phiếu với tổng giá trị 10.761 tỉ đồng. Tổng khối lượng giao dịch
của nhà đầu tư nước ngoài 14.635.705 tương đương khoảng 611
tỷ đồng. Ngoài ra, TTGDCK TP.HCM đã thực hiện 94 đợt đấu
thầu trái phiếu chính phủ với tổng giá trị 17,950 tỷ đồng, trong đó
có 50 đợt trúng thầu đạt giá trị 4.650,70 tỷ đồng chiếm 25,91%.
II. Trình bày về cơ chế giao dịch của Sở giao dịch
chứng khoán TP Hồ Chí Minh.
1. Cơ chế giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư
1.1 Nhà đầu tư nói chung
- Nhà đầu tư chỉ được có một tài khoản giao dịch chứng khoán
và chỉ được mở tại một công ty chứng khoán. Tài khoản của
nhà đầu tư phải tuân thủ quy định về cấp mã tài khoản cho
nhà đầu tư do SGDCK TP.HCM ban hành. Thành viên có
trách nhiệm lưu giữ chứng từ giao dịch, thông tin giao dịch
chứng khoán của số tài khoản đã cấp, thông tin về chủ tài
khoản, ngày mở và đóng tài khoản.
- Nhà đầu tư không được phép đồng thời đặt lệnh mua và bán
đối với một loại cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư trong cùng một
ngày giao dịch.
- Khi đặt lệnh bán chứng khoán hoặc quảng cáo bán chứng
khoán (khi đặt lệnh mua chứng khoán hoặc quảng cáo mua
chứng khoán), số dư chứng khoán (số dư tiền) trên tài khoản
của khách hàng mở tại thành viên phải đáp ứng các điều kiện
về tỷ lệ ký quỹ chứng khoán(tiền).
1.2 Nhà đầu tư nước ngoài:
- Lệnh mua của nhà đầu tư nước ngoài nhập vào hệ
thống trong thời gian giao dịch khớp lệnh định kỳ xác định giá mở
cửa hoặc giá đóng cửa nếu không được khớp hoặc chỉ được
khớp một phần vào thời điểm khớp lệnh xác định giá mở cửa
hoặc giá đóng cửa thì lệnh mua hoặc phần còn lại của lệnh mua
đó sẽ tiếp tục chờ trên sổ lệnh như lệnh của nhà đầu tư trong
nước
- Lệnh mua của nhà đầu tư nước ngoài nhập vào hệ thống
trong thời gian giao dịch khớp lệnh liên tục nếu không được khớp
hoặc chỉ được khớp một phần thì lệnh mua hoặc phần còn lại của
lệnh mua đó sẽ tiếp tục chờ trên sổ lệnh như lệnh của nhà đầu tư
trong nước.
Hệ thống giao dịch hiển thị thông tin chào mua của nhà đầu tư
nước ngoài đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư theo nguyên
tắc như sau:
- Lệnh mua của nhà đầu tư nước ngoài được cộng vào khối
lượng mua của toàn thị trường tại từng mức giá, từ mức giá có
thứ tự ưu tiên cao nhất đến mức giá có thứ tự ưu tiên thấp nhất,
cho đến khi bằng khối lượng còn được phép mua của nhà đầu tư
nước ngoài.
- Các lệnh mua còn lại của nhà đầu tư nước ngoài không
được hiển thị vẫn nằm chờ trên sổ lệnh và sẽ tự động bị hủy khi
khối lượng còn được phép mua của nhà đầu tư nước ngoài đã
hết.
- Hệ thống giao dịch cập nhật thông tin chào mua của nhà đầu tư
nước ngoài và điều chỉnh việc hiển thị mỗi khi lệnh mua của nhà đầu tư
nước ngoài được nhập vào hệ thống hoặc bị hủy bỏ
2. Cơ chế xác định giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ và trái
phiếu mới niêm yết
SGDCK Tp.HCM nhận các loại lệnh giao dịch theo quy định
(lệnh giới hạn, lệnh ATO, lệnh ATC). Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ
đầu tư mới niêm yết được giao dịch cả phiên giao dịch theo
phương thức khớp lệnh liên tục và khớp lệnh định kỳ. Giá
đóng cửa trong ngày giao dịch đầu tiên sẽ là giá tham chiếu
cho ngày giao dịch kế tiếp.
Việc xác định giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ mới niêm yết
trong ngày giao dịch đầu tiên được quy định như sau:
-Tổ chức niêm yết và tổ chức tư vấn niêm yết (nếu có) phải
đưa ra mức giá giao dịch dự kiến để làm giá tham chiếu trong
ngày giao dịch đầu tiên.
-Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên là +/-20% so
với giá giao dịch dự kiến.
-Giá đóng cửa trong ngày giao dịch đầu tiên sẽ là giá tham chiếu
cho ngày giao dịch kế tiếp. Biên độ dao động giá quy định tại điều
9 Quy chế này được áp dụng từ ngày giao dịch kế tiếp.
- Nếu trong 3 ngày giao dịch đầu tiên, cổ phiếu, chứng chỉ
quỹ mới niêm yết vẫn chưa có giá đóng cửa, tổ chức niêm yết sẽ
phải xác định lại giá giao dịch dự kiến.
- Không cho phép giao dịch thỏa thuận cổ phiếu, chứng chỉ
quỹ trong ngày giao dịch đầu tiên.
- Không quy định mức giá giao dịch dự kiến, biên độ dao
động giá đối với trái phiếu mới niêm yết trong ngày giao dịch đầu
tiên.
3. Cơ chế giao dịch chứng khoán của cổ đông sáng lập
trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng
Giao dịch cổ phiếu của các cổ đông sáng lập được thực hiện
theo phương thức thoả thuận trực tiếp tại Trung tâm lưu ký
chứng khoán, nhưng phải báo cáo và công bố thông tin trên
hệ thống của SGDCK TP.HCM ít nhất 01 ngày trước ngày
thực hiện giao dịch. Trong vòng 03 ngày sau khi hoàn tất giao
dịch, cổ đông sáng lập phải báo cáo tỷlệ sở hữu hiện tại của
mình với SGDCK TP.HCM. Giá giao dịch nằm trong biên độ
giao động giá của ngày giao dịch.
4.Cơ chế xác lập và hủy bỏ giao dịch
Trường hợp hệ thống giao dịch gặp sự cố dẫn đến tạm
ngừng giao dịch, SGDCK TP.HCM căn cứ tình hình khắc phục sự
cố để quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả giao
dịch.SGDCK TP.HCM tổ chức giao dịch đối với các loại chứng
khoán sau đây:
-Cổ phiếu
-Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán
-Trái phiếu
-Các loại chứng khoán khác sau khi có sự chấp thuận của
UBCKNN.
Trung tâm Lưu ký chứng khoán cấp mã chứng khoán cho
các chứng khoán niêm yết tại SGDCK TP.HCM trên cơ sở thống
nhất với bảng phân bổ mã ký tự của SGDCK TP.HCM.Chứng
khoán niêm yết tại SGDCK TP.HCM được giao dịch thông qua hệ
thống giao dịch của SGDCK TP.HCM, ngoại trừ các trường hợp
sau:
- Giao dịch lô lẻ
- Chào mua công khai;
- Đấu giá bán phần vốn nhà nước tại tổ chức niêm yết;
- Cho, biếu, tặng, thừa kế;
- Sửa lỗi sau giao dịch;
- Tổ chức niêm yết thực hiện giao dịch mua lại cổ phiếu ưu
đãi của cán bộ, công nhân viên;
Các trường hợp khác theo Quy định của SGDCK TP.HCM.
Căn cứ đề nghị của thành viên, SGDCK TP.HCM sẽ xem
xét và cấp trạm đầu cuối cho thành viên để nhập lệnh vào hệ
thống giao dịch. SGDCK TP.HCM có thể thu hồi trạm đầu cuối đã
cấp cho thành viên hoặc yêu cầu thành viên ngừng sử dụng trạm
đầu cuối. Các trường hợp thu hồi hoặc yêu cầu thành viên ngừng
sử dụng trạm đầu cuối do SGDCK TP.HCM quy định.
Chỉ đại diện giao dịch của thành viên mới được nhập lệnh
vào hệ thống giao dịch. Hoạt động của đại diện giao dịch phải
tuân thủ Quy chế giao dịch này và các quy định liên quan của
SGDCK TP.HCM về đại diện giao dịch. Thành viên chịu trách
nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ của các đại diện giao dịch của
mình.
5.Cơ chế về thời gian giao dịch
SGDCK TP.HCM tổ chức giao dịch chứng khoán từ thứ Hai
đến thứ Sáu hàng tuần, trừ các ngày nghỉ theo quy định trong Bộ
luật Lao động.
-Thời gian giao dịch cụ thể do SGDCK TP.HCM quyết định
sau khi có sự chấp thuận của UBCKNN.
- SGDCK TP.HCM có thể thay đổi thời gian giao dịch trong
trường hợp cần thiết.
6.Cơ chế về tạm ngừng giao dịch chứng khoán
SGDCK TP.HCM tạm ngừng hoạt động giao dịch chứng
khoán trong trường hợp:
- Hệ thống giao dịch của SGDCK TP.HCM gặp sự cố;
- Khi xảy ra những sự kiện làm ảnh hưởng đến hoạt động
giao dịch bình thường của thị trường như thiên tai, hỏa hoạn
v.v…;
- UBCKNN yêu cầu ngừng giao dịch để bảo vệ thị trường.
- Các trường hợp SGDCK TP.HCM thấy cần thiết để bảo vệ
lợi ích nhà đầu tư.
- SGDCK TP.HCM có thể căn cứ vào tình hình cụ thể để
quyết định thay đổi thời gian giao dịch.
- SGDCK TP.HCM lập tức phải báo cáo UBCKNN việc tạm
ngừng và thay đổi thời giao dịch trên.
7. Cơ chế về phương thức giao dịch
SGDCK TP.HCM tổ chức giao dịch chứng khoán thông
qua hệ thống giao dịch theo 2 phương thức sau:
7.1 Phương thức khớp lệnh:
Phương thức khớp lệnh bao gồm: Khớp lệnh định kỳ và khớp
lệnh liên tục.
7.1.1 Khớp lệnh định kỳ: Là phương thức giao dịch được hệ thống
giao dịch thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán
chứng khoán của khách hàng tại một thời điểm xác định. Nguyên
tắc xác định giá thực hiện trong phương thức khớp lệnh định kỳ
như sau:
- Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn
nhất;
- Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn tiết i nêu trên thì mức giá
trùng hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ
được chọn;
Phương thức khớp lệnh định kỳ được sử dụng để xác định
giá mở cửa và giá đóng cửa của chứng khoán trong phiên giao
dịch.
7.1.2 Khớp lệnh liên tục: Là phương thức giao dịch được hệ thống
giao dịch thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán
chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch.
Nguyên tắc xác định giá thực hiện trong phương thức khớp lệnh
liên tục là mức giá của các lệnh giới hạn đối ứng đang nằm chờ
trên sổ lệnh.
7.2 Phương thức thoả thuận: Là phương thức giao dịch trong
đó các thành viên tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao
dịch và được đại diện giao dịch của thành viên nhập thông tin vào
hệ thống giao dịch để ghi nhận.
Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư được giao dịch theo
phương thức khớp lệnh và thoả thuận.
Trái phiếu được giao dịch theo phương thức thoả thuận.
SGDCK TP.HCM quyết định thay đổi phương thức giao dịch
đối với từng loại chứng khoán sau khi có sự chấp thuận của
UBCKNN.
8.Cơ chế về khớp lệnh giao dịch
Hệ thống giao dịch thực hiện so khớp các lệnh mua và lệnh
bán chứng khoán theo nguyên tắc ưu tiên về giá và thời gian như
sau:
Ưu tiên về giá:
- Lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện
trước;
- Lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện
trước;
Ưu tiên về thời gian
-Trường hợp các lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng mức giá
thì lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực
hiện trước.
9.Cơ chế đơn vị giao dịch và đơn vị yết giá
Đơn vị giao dịch được quy định như sau:
- SGDCK TP. HCM quy định đơn vị giao dịch lô chẵn, khối
lượng giao dịch lô lớn sau khi có sự chấp thuận của UBCKNN.
Đơn vị yết giá được quy định như sau:
- Giao dịch theo phương thức khớp lệnh:
Mức giá Đơn vị yết giá
≤ 49.900 100 đồng
50.000 - 99.500 500 đồng
≥ 100.000 1.0 ng
- Không quy định đơn vị yết giá đối với phương thức giao
dịch thoả thuận.
10.Cơ chế về biên độ dao động giá
SGDCK TP.HCM quy định biên độ dao động giá đối với cổ
phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư trong ngày giao dịch sau khi có sự
chấp thuận của UBCKNN.
- Không áp dụng biên độ dao động giá đối với giao dịch trái
phiếu.
- Biên độ dao động giá đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư được xác định như sau:
-Giá tối đa (Giá trần) = Giá tham chiếu + (Giá tham chiếu x Biên
độ dao động giá)
- Giá tối thiểu (Giá sàn) = Giá tham chiếu – (Giá tham chiếu
xBiên độ dao động giá)
Biên độ dao động giá quy định tại Khoản 9.1 điều này không
áp dụng đối với chứng khoán trong một số trường hợp sau:
- Ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư mới niêm yết;
- Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư được giao dịch trở lại sau
khi bị tạm ngừng giao dịch trên 30 ngày;
- Các trường hợp khác theo quyết định của SGDCK
TP.HCM.
11.Cơ chế về giá tham chiếu
- Giá tham chiếu của cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư đang
giao dịch là giá đóng cửa của ngày giao dịch gần nhất trước đó.
- Trường hợp giao dịch chứng khoán không được hưởng cổ
tức và các quyền kèm theo, giá tham chiếu tại ngày không hưởng
quyền được xác định theo nguyên tắc lấy giá đóng cửa của ngày
giao dịch gần nhất điều chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận hoặc
giá trị các quyền kèm theo.
- Trường hợp tách hoặc gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại
ngày giao dịch trở lại được xác định theo nguyên tắc lấy giá đóng
cửa của ngày giao dịch trước ngày tách, gộp điều chỉnh theo tỷ lệ
tách, gộp cổ phiếu.
- Trong một số trường hợp cần thiết, SGDCK TP.HCM có
thể áp dụng phương thức xác định giá tham chiếu khác sau khi có
sự chấp thuận của UBCKNN.
12. Cơ chế lệnh giao dịch
io
12.1.1Lệnh giới hạn:
- Là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một
mức giá xác định hoặc tốt hơn.
- Lệnh giới hạn có hiệu lực kể từ khi lệnh được
nhập vào hệ thống giao dịch cho đến lúc kết thúc ngày giao dịch
hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ.
12.1.2 Lệnh thị trường (viết tắt là MP):
-Là lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh
bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị
trường.
-Nếu sau khi so khớp lệnh theo nguyên tắc ở điểm 12.1.1 mà khối
lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn chưa được thực hiện hết
thì lệnh thị trường sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá bán cao
hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo hiện có
trên thị trường.
-Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn còn sau khi giao
dịch theo nguyên tắc tại điểm 12.1.2 và không thể tiếp tục khớp
được nữa thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn
mua tại mức giá cao hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối
cùng trước đó hoặc lệnh giới hạn bán tại mức giá thấp hơn một
bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó.Trường hợp giá
thực hiện cuối cùng là giá trần đối với lệnh thị trường mua hoặc
giá sàn đối với lệnh thị trường bán thì lệnh thị trường sẽ được
chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn
bán tại giá sàn.
Các thành viên không được nhập lệnh thị trường vào hệ thống
giao dịch khi chưa có lệnh giới hạn đối ứng đối với chứng khoán
đó.
Lệnh thị trường được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian
khớp lệnh liên tục.
12.1.3 Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa
(viết tắt là ATO):
-Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa.
-Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp
lệnh.
-Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian
khớp lệnh định kỳ để xác định giá mở cửa và sẽ tự động bị hủy bỏ
sau thời điểm xác định giá mở cửa nếu lệnh không được thực
hiện hoặc không được thực hiện hết.
12.1.4 Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng
cửa (viết tắt là ATC):
-Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá đóng
cửa.
-Lệnh ATC được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp
lệnh.
-Lệnh ATC được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian
khớp lệnh định kỳ để xác định giá đóng cửa và sẽ tự động bị hủy
bỏ sau thời điểm xác định giá đóng cửa nếu lệnh không được
thực hiện hoặc không được thực hiện hết.
12.2. Cơ chế về ký hiệu lệnh giao dịch
Các ký hiệu lệnh giao dịch đối với lệnh nhập vào hệ thống giao
dịch bao gồm:
Loại khách hàng Ký hiệu
lệnh
Thành viên giao dịch tự doanh P
Nhà đầu tư trong nước lưu ký tại thành viên
giao dịch
C
Nhà đầu tư nước ngoài lưu ký tại thành viên
giao dịch, tổ chức lưu ký trong nước hoặc tổ
chức lưu ký nước ngoài; Tổ chức lưu ký nước
ngoài tự doanh
F
Nhà đầu tư trong nước lưu ký tại tổ chức lưu ký
trong nước hoặc tại tổ chức lưu ký nước ngoài;
Tổ chức lưu ký trong nước tự doanh
M

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu Cơ chế giao dịch của sở giao dịch CK tp hồ chí minh và so sánh với trung tâm giao dịch CK Hà Nội