Nâng cao năng lực lãnh đạo & sức chiến đấu của cơ sở Đảng cơ quan thuộc Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh Thanh Hóa

Xem bản đầy đủ

LV0055
A: Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của chuyên đề
Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn
luyện, là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam.Trong
suốt trên 70 năm qua, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng
lợi khác. Đảng đă lãnh đạo nhân dân ta làm cuộc cánh mạng tháng tám năm 1945
thành công, đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc đưa cả
nuớc đi lên chủ ngiã xã hội với mục tiêu dân giàu nuớc mạnh, xã hội công bằng
văn minh.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ Đảng ta là một tổ chức chính
trị chân chính duy nhất đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Mặc dù có sai
lầm, khuyết điểm nhưng Đảng ta biết sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, tự phê bình
và phê bình để vuơn lên, tự hoàn thiện mình bằng thực tiễn lãnh đạo cách mạng,
đổi mới tư duy, nâng cao trình độ và năng lực lãnh đạo để đáp ứng với yêu cầu
ngày một cao qua các giai đoạn lịch sử. Chính vì vậy, trải qua bao khó khăn, phức
tạp của các giai đoạn cách mạng, Đảng ta không những đứng vững mà còn khẳng
định ngày càng vững chắc vai trò lãnh đạo toàn xã hội, đuợc nhân dân tin yêu và
thừa nhận vị trí độc tôn là người lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam.
Để xứng đáng với niềm tin của nhân dân, Đảng phải luôn luôn tự hoàn
thiện; phải biết học tập, chỉnh đốn và rèn luyện: phải biết nghe tiếng nói của nhân
dân, tiếng nói của các tổ chức chính trị – xã hội khác trong và ngoài nước; biết tiếp
thu những bài học thành công và thất bại của các đảng anh em và ngay của chính
mình, những bài học trên cả ba phương diện: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Với
tinh thần đó, Đảng ta luôn luôn coi công tác xây dựng Đảng có vai trò cực kỳ quan
1
trọng trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào. Hơn thế, công tác xây dựng Đảng
không chỉ được coi là vấn đề thường xuyên mà còn có ý nghĩa cấp bách trong giai
đoạn cách mạng hiện nay, khi đất nước chuyển sang giai đoạn đổi mới, thực hiện
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp đổi mới của Đảng ta trong
những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng mừng về kinh tế – xã hội và
nhiều mặt khác. Song, mặt trái của cơ chế thị trường cũng đã tạo ra những tiêu cực
khó khăn không nhỏ, đang đặt ra những vấn đề bức xúc ở mọi lĩnh vực, ngay cả
trong bản thân tổ chức của đảng và trước hết là ở các tổ chức cơ sở Đảng. ở đó,
một bộphận đảng viên thoái hoá, biến chất, phai nhạt lý tưởng, vi phạm kỷ luật;
một số tổ chức cơ sở đảng không phát huy được vai trò lãnh đạo của mình; mối
quan hệ giữa đảng uỷ cơ sở với lãnh đạo chuyên môn với ban cán sự, đảng đoàn ở
các cơ quan không rõ ràng, nhiệm vụ chồng chéo, khó xác định; sinh hoạt đảng bộ,
chi bộ thiếu nội dung, xơ cứng với và hình thức; vai trò là hạt nhân chính trị của
cấp uỷ bị lu mờ, thiếu sức chiến đấu. Công tác quản lý đảng viên bị buông lỏng; tư
tưởng trung bình chủ nghĩa tương đối phổ biến; công tác giáo dục, vận động quần
chúng chậm được đổi mới; đội ngũ làm công tác Đảng ở cơ sở chưa được chăm lo
đúng mức, trình độ năng lực chưa đáp ứng được với yêu cầu của nhiệm vu.Do đó,
việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng
không chỉ là vấn đề có ý nghĩa thường xuyên, lâu dài mà còn mang tính cấp bách
trong giai đoạn hiện nay.
Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá là một Đảng bộ có số Đảng viên tương đối lớn.
Đảng bộ Cơ quan cấp tỉnh Thanh Hoá trực thuộc Tỉnh uỷ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp
của Tỉnh uỷ với chức năng, nhiệm vụ tương đối đặc thù do cơ cấu mô hình cụ thể
của các cơ quan, đơn vị, ban, nghành, công ty, xí nghiệp thuộc tỉnh quản lý. Đảng
bộ Cơ quan Cấp tỉnh có ba loại hình tổ chức cơ sở đảng là cơ quan sự nghiệp và
doanh nghiệp. Các tổ chức cơ sở đảng cơ quan trong điều kiện hiện giữ một vai trò
2
đặc biệt quan trọng trong việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị cuả các
nghành cấp tỉnh.
Với lý do đó, là một cán bộ công tác tại Đảng uỷ Cơ quan Cấp tỉnh
Thanh Hoá, tôi nhận thức về sự cần thiết cấp bách phải nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu, nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng cơ quan,
cho nên tôi chọn chuyên đề :
“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cơ
quan thuộc Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn hiện nay “.
2. Tình hình nghiên cứu chuyên đề:
Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh Thanh Hoá thành lập ngày 3-11-1988 theo quyết
định của Ban Thường Vụ tỉnh uỷ Thanh Hoá ; là Đảng bộ đượcthành lập hơn 10
năm, mô hình tổ chức còn mới và có những đặc thù rất riêng về choc năng và
nhiệm vụ. Vì vậy, việc nghiên cứu của chuyên đề về tổ chức cơ sở đảng cơ quan
thuộc Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh cũng là vấn đề còn mới mẻ.Nhiều vấn đề công tác
xây dựng Đảng ở loại hình tổ chức cơ sở đảng này còn vừa làm vừa rút kinh
nghiệm trong thực tiễn.Do đó chuyên đề này chỉ nêu ra những nội dung chủ yếu,
bước đầu tìm ra giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng cơ quan thuộc Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh Thanh Hoá.
3. Mục đích nhiệm vụ chuyên đề :
Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng của tổ chức cơ sở đảng cơ
quan thuộc Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh, chuyên đề góp phần tạo ra sự thống nhất
trong nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng , nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng cơ
quan nói riêng và của Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh nói chung. Từ đó tìm ra giải
pháp nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cơ quan. Đồng thời qua nghiên cứu
chuyên đề sẽ giúp cho bản thân phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn, từ đó
nâng cao chất lượng, hiệu suất công tác của bản thân.
3
Nhiệm vụ của chuyên đề là nêu ra những cơ sở lý luận và thực tiễn về
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cơ quan, đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng cơ quan thuộc Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn
hiện nay.
4. Cơ sở lý luận,thực tiễn và phương pháp nghiên cứu :
Các nội dung của chuyên đề được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác –Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về xây dựng
Đảng. Đồng thời xuất phát từ tình hình cụ thể của các tổ chức cơ sở đảng thuộc
Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh Thanh Hoá, chuyên đề đánh giá thực trạng và nêu ra
một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng cơ quan. Các nội dung nêu trên của đề tài được trình bày dựa vào
phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây
dựng Đảng với phương pháp nghiên cứu là kết hợp cả phân tích và tổng hợp, khảo
sát thực tế, trao đổi kinh nghiệm, thu thập tài liệu, kết hợp lý luận với thực tiễn,
trao đổi kinh nghiệm, thu thập tài liệu, kết hợp lý luận với thực tiễn để làm sáng tỏ
những vấn đề mà nội dung và yêu cầu của chuyên đề đặt ra.
5. Kết thúc của chuyên đề :
Gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, tổ chức thực hiện, danh mục tài
liệu tham khảo, phụ lục.
4
B. nội dung
I/ nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cơ quan cấp
tỉnh thanh hoá là nhu cầu cần thiết cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
1/Khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của tổ chức cơ sở đảng.
Trong lịch sử nhân loại các tổ chức chính trị, các Đảng chính trị ra đời từ
khi có giai cấp, đấu tranh giữa giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ và
lực lượng kìm hãm sự tiến bộ. Giai cấp nào cũng phải xây dựng cho mình một tổ
chức chính trị, thể hiện sứ mệnh là tham mưu chỉ huy cuộc chiến tranh giành
quyền lãnh đạo xã hội, giai cấp công nhân cũng không ngoài quy luật đó.
C.Mac và Ph.Ăng ghen đã chỉ ra giai cấp vô sản các nước phải đoàn kết
lại, lật đổ chế độ cũ, lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền của mình, xây
dựng chũ nghĩa xã hội, tiến lên chũ nghĩa cộng sản. Sứ mệnh lịch sử đó là tất yếu
khách quan, vì trong nền sản xuất đại công nghiệp chỉ có giai cấp công nhân đại
diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến nhất, mới có đủ khả năng lãnh đạo giai cấp
khác, đưa xã hội tiến lên trình độ văn minh hơn. Muốn thực hiện được sứ mệnh
lịch sử đó, giai cấp công nhân không chỉ đoàn kết lại mà còn phải xây dựng được
chính đảng của mình, đó là đội tiên phong được tổ chức chặt chẽ gồm những người
ưu tú, là bộ tham mưu vạch ra đường lối, chiến lược, sách lược, vạch ra các mục
tiêu cho giai cấp và cho toàn xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của C.Mác và Ph.Ăng ghen, tổ chức cộng sản đầu tiên.
Liên đoàn những người cộng sản đã được thành lập, và hai ông đã khẳng định
trong bức thư gửi những nhà lãnh đạo của liên đoàn :”Đảng công nhân phải hoạt
động sao cho có tổ chức nhất, thống nhất, độc lập nhất [13,168] biến mỗi chi bộ
thành trung tâm và hạt nhân của các hiệp hội công nhân [13,173].
5
Các lãnh đạo đầu tiên của giai cấp công nhân đã chỉ ra vị trí, vai trò đặc
biệt quan trọng của tổ chức cơ sở đảng ngay từ những năm tháng đầu tiên khi mới
hình thành tổ các chức cộng sản. Sau này trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ
hội trên lĩnh vực tổ chức và tiến hành xây dựng một đảng kiểu mới của giai cấp
công nhân V.I Lê nin đã phát triển tư tưởng đó, chăm lo xây dựng nhằm xác lập
vai trò lãnh đạo của các tiểu tổ công nhân dân chủ –xã hội, phát triển các tiểu tổ đó
trở thành chi bộ cơ sở trong các nhà máy, công xưởng, những khu dân cư … của
Đảng bôn sê vích Nga. Khi cách mạng chuyển sang giai đoạn chuyên chính vô sản,
Đảng trở thành lãnh đạo chính trị của toàn xã hội. Xuất phát từ vai trò đó, các tổ
chức cơ sở đảng đã tăng lên về số lượng và phong phú về nội dung, phương thức
hoạt động. V.I Lê nin viết : “ Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với
Trung ương Đảng, phải trao đổi kinh nghiệm lẫn cho nhau, phải làm công tác cổ
động, tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi đời sống xã hội, với tất
cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao động, những chi bộ ấy phải thông qua
công tác muôn hình muôn vẻ đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện đảng, giai
cấp, quần chúng một cách có hệ thống [11,233]. Vai trò của các tổ chức cơ sở đảng
ngày càng quan trọng ở thời kỳ Đảng tập trung sự lãnh đạo của mình vào lĩnh vực
kinh tế. Khi chuyển sang lãnh đạo thực hiện chính sách kinh tế mới, V.I Lê nin cho
rằng, để giành được thắng lợi trong bứơc chuyển biến chiến lược này, các tổ chức
cơ sở đảng có vai trò hết sức to lớn. Do vậy, Người đặt ra vân đề, các tổ chức
đảng, các tổ chức Xô Viết “ phải đem hết sức lực, đem hết chú ý để tạo ra, để phát
huy một tính chủ động lớn hơn ở cơ sở [11,279]
Kế thừa tư tưởng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã vận dụng vào
thực tiễn xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam. Xác định tổ chức cơ sở đảng là cấp tổ
chức nền tảng của Đảng, là nơi xuất phát, hình thành cơ sở thực tiễn và lý luận cho
những chủ chương, đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và cũng là nơi tổ
chức thực hiện, đưa đường lối của Đảng vào thực tiễn sinh động của cuộc sống, vật
6
chất hoá nó bằng các mục tiêu cụ thể phục vụ cho đời sống con người, nó là nơi
mở đầu cũng là nơi kết thúc: từ thực tiễn cách mạng đặt ra và mục tiêu cách mạng
giải quyết. Với ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng :” Muốn làm nhà cho
tốt phải xay dựng nền cho vững “ [16,114] ; ”nền” ở đây theo tư tưởng của người
là các chi bộ, đảng cơ sở. Chi bộ, đảng bộ cơ sở vững mạnh trong sạch là yếu tố
quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Tổ chức cơ sở đảng không phải là một kháI niệm trùi tượng, nó là một
cấp trong hệ thống tổ chức chặt chẽ của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, nó chụi sự
chi phối, lãnh đạo của cấp trên; nó phục tùng nguyên tắc tổ chức của Đảng nhưng
có vai trò to lớn đối với quá trình hoạt động của Đảng. Tổ chức cơ sở đảng là nơi
kiểm nghiệm, đáng giá thực chất sự đúng, sai, thành, bại của phong trào, của
đường lối, chính sách của Đảng; tổ chức cơ sở là nơi cơ quan các đảng viên thi
hành nhiệm vụ của mình, từ khâu phản ánh hiện thực, yêu cầu của cuộc sống và
lãnh đạo giải quyết các yêu cầu đó bằng phương thức, phương pháp lãnh đạo của
Đảng. Xét cho đến cùng, tổ chức cơ sở đảng là nơi kiểm chứng các tiêu chuẩn
chân lý. Với vị trí quan trọng như vậy nên chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết luận:” Chi
bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt “ [16,149].
Quan điểm, tư tưởng đó đẵ xuyên suốt quá trình phát triển của Đảng, được
đại hội toàn quốc lần thứ IV khẳng định và rút ra bàI học kinh nghiệm về xây dựng
tổ chức cơ sở đảng trong điều kiện cách mạnh xã hội chủ nghĩa ; các đại hội tiếp
theo đã làm phong phú, sâu sắc thêm tư tưởng này. Đại hội Vicủa Đảng nêu rõ :
“Những thành tựu đẵ đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh
nghiệm có gí trị đều bắt nguồn từ từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà
hạt nhân lãnh đạo là tổ chức đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng “
[5,114].
7
Đại hội toàn quốc lần thứ Vi mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện của
Đảng, của,của đất nước dến nay đẵ giành được những thành tựu đáng kể, đồng thời
quá trình đó cũng bộc lộ ra những khuyết điểm, yếu kém của Đảng ta,trong đó có
trách nhiệm của các tổ chức cơ sở đảng. Chính vì vậy, công cuộc đổi mới toàn diện
đang đặt ra những yêu cầu chất lượng ngày càng cao đối với các tổ chưc cơ sở
đảng. Những quan điểm, chính sách của đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trên các
lĩnh vực chính trị, kinh tế xã hội theo hướng dân chủ hoá, phát huy vai trò chủ
động,sáng tạo của đơn vị cơ sở, khai thác tốt tiềm năng lao động, tài nguyên cơ
vật chất – kỹ thuật … nhằm phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân ; đồng
thời tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đoạ của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn. Sự nghiệp đó càng đề cao vị trí nền tảng của
các đảng bộ cơ sở trong hệ thống tổ chức và trong hoạt động lãnh đạo của Đảng.
Nghị quyết lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khoá VI ) đã nêu
:”Trong điều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế quản lý mới, phát huy vai trò chủ
động, sáng tạo của các đơn vị kinh tế cơ sở, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, các
tổ chức cơ sở đảng phải thật sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị trong các tập thể lao
động …”.Với vai trò đó,các đảng bộ cơ sở phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu, bảo đảm công cuộc đổi mới được thực hiện trên thực tế ở đơn vị cơ sở ;
đồng thời, từ thực tiễn cuộc sống, đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước để hoàn
chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật.
Lý luận và thực tiễn chứng minh, dù ở giai đoạn nào trên con đường phát
triển của cách mạng do Đảng lãnh đạo, với vị trí nền tảng của mình, các đảng bộ cơ
sở luôn có vai trò là hạt nhân lãnh đạo chính trị, là người đảm bảo cho đường lối,
chính sách của Đảng được tổ chức thực có kết quả ở đơn vị cơ sở và là cấp tổ chức
trực tiếp tiến hành xây dựng nội bộ Đảng. Đất nước đang đứng trước thời cơ và
vận hội lớn nhưng đồng thời cũng đang gặp khó khăn, thác thức không nhỏ, vì vậy
tình hình đặt ra cho toàn Đảng,toàn dân phải vượt qua những khó khăn và thách
8
thức để chip lấy thời cơ giành lấy vận hội. Đảng phải kiên trì mục tiêu cách mạng,
khắc phục khó khăn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, và trước hết là ở
các tổ chức cơ sở đảng để xứng đáng với vị trí, vai trò là hạt nhân chính trỉ các đơn
vị cơ sở trong hệ thống tổ chức xã hôI nước ta.Vị trí, vai trò hạt nhân chính trị thực
chất là sự lãnh đạo toàn diện, là bằng thực tiễn của mình lãnh đạo mọi tổ chức
đoàn thể, lãnh đạo mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của
Đảng, đảm bảo cho đường lối đổi mới trở thành thực tiễn sinh động trong đời
sống ; và đồng thời, từ thực tiễn cuồc sống đóng góp vào quá trình hoàn thiện đứng
đắn, đầy đủ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mac –Lê nin, hơn 70 năm qua,thực tiễn sinh
đông trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng ta, cả lúc chưa giành
chính quyền cho đến khi trở thành một Đảng cầm duy nhất như ngày nay, đã chỉ ra
rắng :Trong bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, ở đâu và mục tiêu cụ thể gì, các tổ
chức cơ sở đảng luôn luôn là hạt nhân chính trị, giữ vai trò toán diện, đảm bảo cho
đường lối chính sách của Đảng được thực hiện cí kết quả, đảm bào cho mối quan
hệ giữa Đảng và nhân dân luôn luôn gắn bó mau sthịt với nhau, đảm bảo cho Đảng
luôn luôn khẳng định vị tri lãnh đạo toàn xã hội.
2/ Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
*Năng lực lãnh đạo :
Năng lực trước hết là khả năng hiện thực, sẵn có của chủ thể thể thực hiện
mặt hoạt động nào đó, khả năng hoàn thành một công việc hay khả năng biến các
yếu tố, các điều kiện đã có của tư duy trở thành hiện thực ( lời nói hay việc làm ).
Năng lực tư duy hay năng lực hành động đều là một khả năng có thật, có thể
trở thành hiện htực nếu con người “ vật chất hoá ” bắng các thao tác quy luaatj của
tư duy, ý thức hay thực tiễn.
9
Năng lực lãnh đạo của Đảng cũng xuất phát từ khẳ năng thực tế đó, nó bao
hàm “ khả năng “ và “ thực hiện “. Năng lực lãnh đạo của Đảng bao gồm nhiều nội
dung : năng lực lãng đạo, chỉ đạo thực hiện đướng lối, chủ trương, chỉ thị, nghị
quyết và chỉ đạo thực hiện nó.
Năng lực đề ra đương lối, chủ trương của Đảng :Đó là một khả năng thực tế
được cụ thể hoá bằng việc xây dựng các cương lĩnh, đường lối, chủ trương chiến
lược.Cương lĩnh, đường lối, chủ trương chiến lược bao quóat, định hướng cho cả
một thời kỳ lịch sở tương đồi dài ; đòi hỏi phải nghiên cứu, am hiểu rất nhiều lĩnh
vực để tổng kết, kháI quóat, đưa ra các vấn đề và giải đáp nó với quan điểm lớn,
tổng thể ; nó không chỉ trong phạm vi hẹp mà rất rộng lớn về không gian, về thời
gian - đó là không gian quốc gia, và quốc tế và thì gian thường là một giai đoạn
hay một thời kỳ lịch sử ; quy mô và nội dung bao gômg tất cả các lĩnh vực liên
quan đến đời sống kinh tế xã hội, dân tộc trong và ngoài nước, đướng lối, cương
lĩnh chi phối cả dân tộc, và cao hơ, ảnh hưởng đến dân tộc khác.
Trong lịch sử hơn 70 năm xây dựng và phát triển, Đảng cộng sản Việt Nam
đã chứng tỏ được năng lực đè ra đường lối đúng đằn, lãnh đạo nhân dân ta đứng
lên lật đổ chế độ cũ, đánh dưởi bọn xâm lược, giành độc lập dân tộc, đưa đất nước
đi lên chũ nghĩa xã hội vứi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bắng văn
minh.
Năng lực xây dựng nghị quyết của Đảng : Đó là những vấn đề đã được
nghiên cứu, xem xét, thảo luận của một tập thể ( tổ chức đảng,Ban chấp
hành các cấp ) và đi đến quyết định thực hiện.
Nghị quyết gồm nhiều loại và có các mức khác nhau : Từ cấp chi bộ đến cấp
trung ương ; các loại nghị quyết đều mang dấu ấn của trí tuệ, ý chí của tập thể, dù
trực tiếp hay gián tiếp đều tham gia vào quá trình ra quyết định thực hiện, giải
quyết những vấn đề đặt ra trong quà trình lãnh đạo của Đảng. Có nghị quyết lớn
10
của Trung ương phải giải quyết những vấn đề trọng của đất nước trong một giai
đoạn lịch sử quan trọng ; cũng có nghị quyết chỉ giải quyết một việc của một người
(khai trừ hay kết nạp ).Dù nghị quyết ở trong phạm vi, mức độ nào cũng đòi hỏi
kiến thức, trình độ, tư duy, lý luận và thực tiễn cao của tập thể lãnh đạo từ chi bộ
đến Ban chấp hành Trung ương.
- Năng lực tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của
Đảng là khả năng nắm bắt, am hiểu các vấn đề thuộc phạm vi đường lối, chủ
trương, chỉ thị, nghị quyết đề ra, đồng thời biết cách tổ chức, xây dựng điều kiện,
huy động và bố trí lực lượng có biện pháp đúng để triển khai thực hiện có kết quả
những chương trình, kế hoạch đặt ra của nghị quyết.
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng hơn 70 năm qua, Đảng ta đã trưởng
thành lớn mạnh. Thắng lợi của sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
những thành tựu của cách mạng xã hội chủ nghĩa là kết quả của việc đề ra cương
lĩnh chính trị, đường lối và các nghị quyết ấy.
Năng lực tổ chức thực hiện gồm nhiều vấn đề, trong đó có năng lực đề ra và
tiến hành phương pháp cách mạng, phương phap tổ chức thực hiện thắng lợi các
kế hoạch, mục tiêu đề án ; trong đó các vấn đề tổ chức huy dộng lực lượng, tạo
dộng lực cách mạng và các biện pháp cách mạng.
Những vấn đề chủ yếu nêu trên đều thuộc phạm trù năng lực lãnh đạo của
Đảng, trong đó có các năng lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng.
*Sức chiến đấu :
Sức chiến đấu của Đảng là sức mạnh thực tế của tổ chức Đảng, bao gồm cả
“ nội lực” và “ngoại lực” mà tổ chức Đảng huy động được ; là khử năng phát huy
tính tiền phong để tiến công ; là khả năng đề kháng có hiệu quả mọi nguy cơ trái với
tôn chỉ mục đích của Đảng, là khả năng chống lại có hiệu quả mọi sự tấn công của
kẻ thù nhằm mục đích bảo vệ tổ chức Đảng , bảo vệ mọi vai trò lãnh đạo, uy tín,
thanh danh, đường lối, chủ trương, bảo vệ đảng viên của Đảng ; bảo vệ thành tranh
11
trên moị mặt trận, trên mọi lĩnh vực tí qủ cách mạng mà Đãng đã lãnh đạo nhân
dân giành được qua các cuộc đấu. Sức chiến đấu của Đảng được thể hiện ở mọi cấp
từ Trung ương đến các chi bộ và đảng viên, được thể hiện ở trí tuệ, bản lĩnh chính
trị, lập trường tư tưởng, ở ý thức tự giác, tính tiền phong, tính kỷ luật,đức hy sinh
v.v…
Sức chiến đấu của Đảng được thể hiện ở mọi lĩnh vực, trên các mặt trận
kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, tư tưởng,văn hoá v.v…
nó diễn ra không chỉ ở bên ngoài mà còn diễn ra ngay trong nội bộ Đảng. Bởi vì,là
một tổ chức chính trị hoạt động trong xã hội nên tổ chức Đảng cũng tất yếu phản
ánh vào trong bản thân nó những mâu thuẫn của xã hội, những đặc điểm của các
giai đoạn lịch sử mà nó đã trảI qua nhất lả những mâu thuẫn, những đặc điểm xã
hộitừ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền.
Cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng là tất yếu khách quan, vì cũng như mọi
đảng chính trị xã hội khác, Đảng ta là một cơ thể chính trị xã hội sống động không
ngừng vận động phát triển, không ngừng phải đấu tranh giữa cái tiên tiến và lạc
hậu, giữa tích cực và tiêu cực …để vươn lên. chỉ có khác là, đối với Đảng ta, đấu
tranh nội bộ không phải cuộc dấu tranh nhằm giải quyết những vấn đề nội bộ.Đấu
tranh để đi đếnthồng nhất và đoàn kết nội bộ. Đấu tranh để loại trừ những tư tưởng,
hành động phi cộng sản.Đấu tranh để chống lại những hành vi, những biểu hiện vô
tổ chức, vô kỷ luận. Đấu tranh để loại trừ những biểu hiện thoáI hoá, biến chất,
những biểu hiện tiêu cực khác.
Tất cả các cuộc đấu tranh trên mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn, bất cứ phạm vi
nào đều thể hiện sức chiến đấu của Đảng. Thông thường, cuộc đấu tranh thắng lợi
giòn giã, to lớn là biểu hiện sức chiến đấu cao, sức mạnh lớn. Song, cũng có thể
sức chiến đấu cao nhưng không giành được thắng lợi thì đó lại phải hiểu rằng : Lực
lượng, năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng chưa đủ để đi đến thắng lợi.
12
Vì vậy, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là hai phạm trù, hai
nội dung có quan hệ biện chứng, qui định lẫn nhau. Mối quan hệ này liên quan chặt
chẽ với nhau tạo nên sức mạnh của Đảng. Có thể nói năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng như là tài và đức của con người, không thể thiếu mặt nào nếu
con người muốn làm nên sự nghiệp lớn. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là hai
mặt chủ yếu tạo nên sức mạnh của Đảng. Sức mạnh này được hội tụ từ mỗi đảng
viên, từ mỗi chi bộ, từ tổ chức cơ sở đảng, từ các cấp đảng hợp lại ở Ban chấp hành
Trung ương, toàn Đảng thành sức mạnh lớn làm nên sự nghiệp cách mạng lớn
trong hơn 70 năm qua của Đảng ta.
Với ý nghĩa đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sứ chiến đấu của các tổ chức
cơ sở đảng có tầm quan trọng đặc biệt đối với toàn Đảng cũng như đối với các tổ
cơ sở đảng thuộc Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh Thanh Hoá.
3. Vị trí, vai trò, đặc điểm của tổ chức cơ sở đảng cơ quan thuộc đảng bộ
cơ quan cấp tỉnh thanh hoá.
* Vị trí,vai trò của các cơ quan cấp tỉnh ( các sở, ban, nghành ):
Các cơ quan cấp tỉnh ( các sở, ban, nghành cấp tỉnh ) là đầu mối trung tâm
lãnh đạo của một nghành địa phương ( cấp tỉnh) thực hiện chức năng quản lý nhà
nước đối với các nghành ở địa phương ; đồng thời dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ
ban nhân dân cấp trên theo nghành dọc của Trung ương ( các bộ, cơ quan ngang bộ
và Chính phủ …). Nó giữ mối liên hệ trực hiện trực tiếp và đảm bảo sự lãnh đạo
của Trung ương, của tỉnh đối với toàn bộ hoạt động của nghành đó tại địa phương ;
chụi trách nhiệm tham mưu cho Trung ương, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh về các
chủ trương, biên pháp lãnh đạo của hoạt động của nghành.
Trong quá trình phát triển, trưởng thành của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, cũng như các cơ quan, ở các cấp, các cơ quan tỉnh được hoàn thiện dần về tổ
chức và biên chế, được tăng cường, nâng cao về chât lượng – bao gồm một đội ngũ
13
cán bộ có năng lực chuyên môn cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng và phẩm chất
đạo đức tốt, được đào tạo cơ bản và hiểu biết thực tiễn phong phú.
Với vị trí, vai trò, chức năng như vậy, thì hoạt động của bất kỳ một cơ quan
cấp tỉnh nào cũng đều có tác động không nhỏ đến nhiệm vụ của toàn tỉnh, nhất là
đối với các nghành then chốt.
Xuất phát từ đặc điểm đó, tổ chức cơ sở đảng ở các cơ quan lại càng có vai
trò quan trọng trong việc lãnh đạo cán bộ, đảng viên thực hiện nhiệm vụ chính trị.
*Vị trí,vai trò của các tổ chức cơ sở đảng cơ quan thuộc Đảng bộ Cơ quan
Cấp tỉnh.
Tổ chức cơ sở đảng cơ quan là hạt nhân chính trị lãnh đạo, đảm bảo cho các
quan điểm, đường lối, chính sách, các chủ trương kế hoạch công tác của Trung
ương, của tỉnh, của nghành được nhận thức đúng và cụ thể hoá phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ của cơ quan.
Vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở đảng còn thể hiện ở những nét đặc
trưng của cơ quan :là nơi tập trung nhiều cán bộ, đảng viên có chất lượng cao ; nơi
tập trung tư duy trí tuệ của mỗi nghành, nhất là cơ quan chủ chốt của Đảng, Nhà
nước và các tập thể chính trị xã hội. Mọi tư duy, hành động đúng, sai,tốt, xấu đều
từ hạt nhân chính trị này xuất phát, lan tỏa đến mọi nơi của địa phương, tác động
vào thực tiễn cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư trên toàn tỉnh ; đôi khi còn ảnh
hưởng ở phạm vi rộng lớn hơn trên địa bàn cả nước.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, tổ chức cơ sở đảng với vai trò
hạt nhân chính trị không chỉ phát huy tính chủ động sáng tạo của tập thể cán bộ
công nhân viên, làm tốt chức năng tham mưu cho lãnh đạo của Đảng, Nhà nước,
đoàn thể nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ công nhân viên
ma còn đóng vai trò hạt nhân trong việc giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên ;
kiểm tra đảng viên chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng ; kiểm tra đảng
viên là thủ trưởng cơ quan trong phạm vi chấp hành đường lối, chính sách của đảng
14
và nhà nước, làm công tác tổ chức và cán bộ trong phạm vi cơ quan ; đấu tranh
chống mọi quan điểm, tư tưởng và hành vi sai trái đi ngược lại với đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước, chống các tệ nạn quan liêu, cửa quyền, tham nhũng
dưới mọi hình thức.
*Đặc điểm của tổ chức cơ sở đảng cơ quan thuôc Đảng bộ Cơ quan Cấp
tỉnh Thanh Hoá.
Vào những năm cuối của thập kỉ 80, tình hình thế giới diễn ra vô cùng phức
tạp : Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đang đứng trước nguy cơ sụp
đổ không thể tránh khỏi, phong trào cộng sản lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng,
các thế lực phản động nhân cơ hội này tiếp tục thổi bùng lên ngọn lửa thù địch,
điên cuồng chống phá chủ nghia xã hội là các Đảng Cộng Sản.
Ơ trong nước sau đại hội toàn quốc lân thứ VI ( 1986) Đảng ta băt đầu sự
nghiệp đổi mới toàn diện với khâu đột phá là đổi mới tư duy kinh tế, xác định con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhằm mục tiêu trước mắt là đưa đất nước thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế, ổn định tình hình chính trị – xã hội giữ vững vai trò lãnh đạo
của Đảng.
Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, kiên định lập trường chủ nghĩa Mác
- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh , Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương
lần thứ năm ( khoá VI ), về công tác xây đựng Đảng đã nêu lên những yêu cầu cấp
bách về kiện toàn tổ chức Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, tập trung, thống
nhất ở mọi nghành , mọi cấp, mọi địa bàn hoạt động.
Thực hiện tinh thần Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI, Ban Thường vụ
Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã quyết định giải thể 4 Đảng bộ khối : khối dan chính đảng,
khối kinh tế, khối nông nghiệp, khối văn xã, ra quyết định số 225 QĐ/TCTU, ngày
3/11/1988, thành lập Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh Thanh Hoá.
+Về tổ chức:
15
Qua hơn 10 năm hoạt động và phát triển, đến nay Đảng bộ Cơ quan Cấp
tỉnh Thanh Hoá có 72 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 45 tổ chức cơ sở đảng là
đảng bộ và 27 chi bộ ; khối cơ quan có 57 tổ chức cơ sở đảng, khối sự nghiệp có 5
tổ chức cơ sở đảng và khối doanh nghiẹp có 10 tổ chưc cơ sơ đảng. Tổng số đảng
viên trong toàn Đảng bộ là 4.038. Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh ra đời trên cơ sở vận
dụng những quy định của Điều lệ Đảng ; là Đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ, chịu trách
nhiệm trước Tỉnh uỷ về công tác xây dựng Đảng ở các đảng bộ, chi bộ thuộc các
cơ quan, đơn vị cấp tỉnh. Từ thực tế, Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh có những đặc điểm
chủ yếu sau :
-Một là : Đảng bộ không có hệ thống tổ chức nhà nước ( chính quyền )
cùng cấp.Đặc điểm nổi bật này đã tác động có tính chất chi phối chức năng, nhiệm
vụ và phương thức hoạt động của Đảng bộ.
-Hai là: Là một Đảng bộ bao gồm các tổ chức cơ sở đảng nằm trong đơn
vị cơ quan cấp tỉnh, nhiều dơn vị giữ vai trò trọng yếu trên các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật, đoàn thể và nội chính ; những cơ quan
đơn vị này có nhiệm vụ vừa là tham mưu cho Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, vừa
tổ chức chỉ đạo thực hiện những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trên
địa bàn toàn tỉnh. Do vậy, tổ chức cơ sở Đảng bộ có vai trò quan trọng ; mọi hoạt
động đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp trên phạm vi toàn tỉnh.
- Ba là: Về cán bộ đảng viên ; Đảng bộ có nhiều đồng chí lãnh đạo các
nghành, nhiều đồng chí tỉnh uỷ viên tham gia sinh hoạt trong Đảng bộ. Đội ngũ cán
bộ đảng viên nói chung có trình độ học vấn, chuyên môn,chính trị tương đối cao so
với mặt bằng trong tỉnh. Đặc điểm này đòi hỏi cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ phải
không ngừng nâng cao trình độ, năng lực và phương pháp công tác thì mới đáp ứng
dược yêu cầu nhiệm vụ.
Tỉnh uỷ Thanh Hoá có 27 huyện, thị, thành và 11 đảng uỷ trực thuộc, có
1.628 tổ chức cơ sở đảng và 144.093 đảng viên trong đó Đảng bộ Cơ quan Cấp
16
tỉnh được xác định có vai trò quan trọng nổi bật với nhiệm vụ bao quóat là lãnh đạo
và trực tiếp quản lý các tổ chức cơ sở đảng ban, nghành cấp tỉnh. Mặc dù không
quản lý hệ thống chính quyền cùng cấp nhưng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ được giao. Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh đẵ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong
hơn 10 năm qua ; góp phần không nhỏ vaòa thành tựu kinh tế, chính trị,xã hội,
quốc phòng –an ninh của tỉnh trong đó có sự đóng góp quan trọng của các tổ chức
cơ sở đảng cơ quan của Đảng bộ.
Tổ chức cơ sở đảng cơ quan thuộc Đảng bộ cơ quan Cấp tỉnh cỏ 57 đợn
vị gồm 33 đảng bộ và 24 chi bộ cơ sở với 2.913 đảng viên chiếm 72% số đảng viên
trong toàn Đảng bộ ; khác với một số tỉnh, thành là Đảng bộ cơ quan Tỉnh uỷ và
Uỷ ban nhân dân tỉnh không trực thuộc Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh và cũng khác
với Đảng bộ dân chính đảng trước đây.
Cơ quan Đảng uỷ Cơ quan Cấp tỉnh được tổ chức tương đối hoàn chỉnh,
gọn và đủ, đáp ứng với yêu cầu hoạt động gồm ba ban chuyên môn là : Ban tổ
chức,Ban tuyên giáo,Uỷ ban kiểm tra và Văn phòng Đảng uỷ với 21 biên chế chính
thức (và 3 biên chế làm cán bộ chuyên trách đảng ở Đảng bộ cơ sở lớn ).
+ Về cán bộ:
Cán bộ là đảng viên của Đảng bộ cơ quan cấp tỉnh nói chung có trình độ
chuyên môn, lý luận tương đối cao và cán bộ làm công tác Đảng nói riêng trong
những năm gần đay cũng được nâng lên rõ rệt ; xu hướng bố trí, bầu chọn cán bộ
vào Ban chấp hành các tổ chức cơ sở đảng cũng được nâng cao dần về chất lượng.
Đại hội nhiệm kỳ các tổ chức cơ sở đảng năm 1998 cho they xu hướng bầu chọn
các đồng trí vừa có năng lực, trình độ vừa đảm nhiệm các trọng trách về chuyên
môn, chính quyền ; thông thường các đồng chí Phó giám đốc sở, ban, nghành làm
bí thư ; hạn hữu có đồng chí trưởng phòng làm bí thư nhưng là những đồng chí
thừc sự có năng lực và uy tín.Đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng của Đảng bộ Cơ
quan Cấp tỉnh còn phải kể đến 22 đồng chí là Tỉnh uỷ viên sinh hoạt trong Đảng bộ
17
(trong tổng số 51 đồng chí uỷ viên Ban chấp hành Tỉnh ) ;50 đồng chí vừa làm
trưởng nghành vừa làm Bí thư Ban cán sự, đảng đoàn và 100 đồng chí là phó
nghành, đây là đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh.
+ Về Đảng viên:
Đặc điểm nổi bật của đảng viên khối cơ quan là trình độ, năng lực cao
hẳn so với mặt bằng chung của toàn tỉnh ; và ngay cả trong Đảng bộ Cơ quan Cấp
tỉnh, đảng viên khối cơ quan cũng cao hơn các khối khác về trình độ năng lực nói
chung. Số đảng viên khối cơ quan là 2913 đồng chí chiếm 55,8% cán bộ công nhân
viên của khối cơ quan ; số đông có trình độ chuyên môn đại học, trình độ trung cấp
lý luận trở lên ; cơ cấu cán bộ dần đáp ứng theo tinh thần đổi mới công tác cán bộ
mà Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba ( khoá VIII ) đặt ra
về các mặt : trình độ, năng lực, phẩm chất, độ tuổi, giới tính …
Do tính chất nhiệm vụ, đảng viên khối cơ quan thường ổn định vế mặt tổ
chức, do vậy tuổi đời trung bình thường cao hơn các khối doanh nghiệp và sự
nghiệp ; một ssó tổ chức cơ sở đảng có hiện tượng “ lão hoá” về tuổi bình quân
mặc dù số đảng viên kết nạp hàng năm có tăng lên.
II/ thực trạng năng lực lãng đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cơ quan
thuộc đảng bộ cơ quan cấp tỉnh thanh hoá.
1/ Thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng cơ quan thuộc đảng bộ cơ quan cấp tỉnh thanh hoá.
Việc thành lập Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh nhằm mục đích nâng cao chất
lượng công tác xây dựng Đảng của của các nghành cấp tỉnh, phát huy khả năng
lãnh đạo chính trị, chuyên môn và sức chiến đấu của cán Đảng Bộ chi bộ cơ sở,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Để htực hiện nhiệm vụ
tỉnh giao cho, Ban Chấp hành Đảng bộ khoá II đã xây dựng chức năng, nhiệm vụ
của đảng bộ trình ban thường vụ tỉnh uỷ phê duyệt để thực hiện gồm những nội
dung sau :
18
- Chụi trách nhiệm trước Tỉnh uỷ về công tác xây dựng Đảng, bồi dưỡng
đường lối chính sách của Đảng cho đội ngũ cán bộ đảng viên, thương
xuyên kiểm tra đảng viên thực hiện nhiẹm vụ và điều lệ Đảng.
- Xây dựng các đảng bộ, chi bộ và các tổ chức quần chúng trong sạch
vững mạnh, thực sự là người lãnh đạo về chính trị, chuyên môn có hiệu
quả, chất lượng cao, thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị tong
đơn vị.
- Đề xuất với Tỉnh uỷ những chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế –xã
hội, về công tác xây dựng đảng : chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm
công tác xây dựng Đảng.Đề xuất với Tỉnh uỷ về lập cán bộ kế cận, về bố,
đề bạt, thực hiện chính sách, xử lý cán bộ thuộc diện cán bộ Tỉnh uỷ
quản lý.
Chức năng nhiệm vụ của Đảng bộ Cơ quan Cấp gồm ba nội dung cơ bản
như trên, quy định vị trí, vai trò quan trọng của Đảng bộ, đảm bảo cho Đảng bộ
lãnh đạo toàn diện các mặt công tác thông qua hệ thống tổ chức đảng các cấp,
thông qua đội ngũ cán bộ đảng viên của mình trên tổng vị trí công tác. Vấn đề quan
trọng nhất trong quá trình thực hiện vai trò,thực hiện nhiệm vụ là Đảng uỷ đã cuj
thể hoá được chức năng, nhiệm vụ thành các nghị quyết đứng đắn, sát hợp với thực
tiễn của Đảng bộ và nhiệm vụ Tỉnh uỷ giao cho.
Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh luôn coi trọng cả ba mặt công tác về chính, tư
tưởng và tổ chức đối với tổ chức cơ sở đảng, nên đã xây dựng thành các mục tiêu
chủ yếu sau đây :
- Đảng bộ, chi bộ lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn.
- Quán triệt, làm cho đảng viên và quần chúng thông suốt, chấp hành tốt
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
19
- Chấp hành nghiêm túc nguyên tác tổ chức và sinh hoạt Đảng, lấy nhiệm
vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh là công tác trọng
tâm trong quá trình hoạt động.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ, Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh đã luôn
luôn chủ động nắm bắt tình hình các tổ chức cơ sở đảng, trong đó có các tổ chức cơ
sở đảng cơ quan, đề ra các chủ trương biện pháp, kế hoạch, hướng dẫn các tổ chức
cơ sở đảng liên tục đẩy mạnh các hoạt động xây đảng thông qua các đợt sinh hoạt
chính trị lớn như học tập, quná triệt và thực hiện bàI nói : “ Giữ nghiêm kỷ luật của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiên quyết ngăn chặn vô tổ chức, vô kỷ luật “ của
đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười tại hội nghị cán bộ toàn quốc họp ngày
16/4/1992,các nghị quyết Trung ương ba ( khoá VII ) về đổi mới và chỉnh đồn
đảng, chỉ thị số 14 của Ban bí thư Trung ương Đảng ( khoá VII ) về tự phê bình
đối với cán bộ chủ chôts ( từ cấp huyện, thị trở lên ), nghị quyết Trung ương sáu,
lần 2 ( khoá VIII ) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong conog tác xây dựng
đảng, …
Đảng uỷ Cơ quan Cấp tỉnh đã chỉ đạo cho các tổ chức cơ sở đảng xây
dựng Quy chế hoạt động trong đó bao gồm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối
quan hệ cụ thể giữa lãnh đạo chuyên môn, Ban cán sự, đảng đoàn và các tổ chức
đoàn thể với cấp uỷ cơ sở. Với cơ chế đó, Đảng uỷ Cơ quan Cấp tỉnh đã tham gia
bằng nhiều hình thức vào quá trình nắm bắt, theo dõi, kiểm tra việc xây dựngvà
lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các đơn vị. Cơ chế đó là thực tiễn
phản ánh qúa trình đảng bộ lãnh đạo thực hiện nhiêm vụ chuyên môn, góp phần
vào việc thực hiện thắng lợi các chương trình, thắng lợi của tỉnh nhà.
Quá trình hoạt động của các tổ chức cơ sỏ đảng những năm qua đẵ phát
huy những mặt mạnh, tích cực nhưng đồng thời cũng bộc lộ những thiếu sót, yếu
kếm cần được khắc phục. Cụ thể là :
a. Những ưu điểm và nguyên nhân :
20
+ Về lãnh đạo công nhân viên chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ
quan :
Các,sở,ban, nghành cấp tỉnh có chức năng tham mưu giúp việc cho Tỉnh
uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, trực tiếp tiến hành hoạt động nghiên cứu, đề xuất các
vấn đề thuộc nhiệm vụ của nghành, để Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh, Uỷ ban
nhân dân tỉnh ra các quyết định đứng đắn, lãnh đạo cán bộ, nhân dân toàn tỉnh thực
hiện các chương trình phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh. Trên
cơ sở chức năng nhiệm vụ của cơ quan các tổ chức cơ sở đảng cơ quan đã xây
dựng nghị quyết cụ thể hoá chủ trương thành chương trình hoạt động cụ thể của
mình để lãnh đạo cán bộ công nhân viên chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của
cơ quan, huy động được trí tuệ của tập thể, phát huy dân chủ, tham gia thảo luận
đóng góp có ý kiến và thực hiện có kết quả mục tiêu mà cơ quan đề ra.
Các chi bộ, đảng bộ cơ sở đã phát huy vai trò hạt nhân chính trị, phối hợp
với thủ trưởng cơ quan lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của tong cơ quan
chuyên môn ; các cấp uỷ cơ sở, ở các mức độ khác nhau đã có chưong trình, kế
hoạc chủ động đề xuất với ý thức trách nhiệm trong vai trò lãnh đạo xây dựng và
thực hiệ nhiệm vụ chuyên môn theo cơ chế Đảng lãnh đạo – kiểm tra, cá nhân phụ
trách – tổ chức thực hiện. Cũng trên tinh thần đó, các cấp uỷ đảng đã tăng cường
lãnh đạo các tổ chức đoàn thể, phối hợp với ban chấp hành đoàn thể quần chúng tổ
chức các phong trào hoạt động nhằm mục tiêu trọng tâm là hoàn thành nhiệm vụ
chuyên môn của cơ quan đơn vị.
+Về tiến hành công tác xây dựng Đảng.
- Lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ của cơ quan.
Lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ là một nhiệm vụ quan trọng trong
nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng. Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, công tác tổ
chức của Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh, bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây :
21
Một là : Chỉ đạo các đảng bộ, chi bộ xây dựng cơ chế tổ chức, quy chế
hoạt động, đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, chấp hành nguyên
tắc và tổ chức sinh hoạt đảng
Hai là : Lãnh đạo việc phát triển đảng viên, quản lý đảng viên và cán bộ
theo ĐIều lệ Đảng và phân cấp cụ thể theo tổ chức xơ sở đảng.
Ba là : Lãnh đạo xây dựn tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, đây
là nhiệm vụ trọng tâm bao trim nhiệm vụ của Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh.
Vào những năm mới thành lập Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh ( 1988), nhiều
cơ sở yếu kém có nguyên nhân do cơ chế tổ chưc buông lỏng. Ban chấp hành các
khoá sau này đă có những giải pháp khắc phịc. Giải pháp về tổ chức bao gồm việc
chỉ đạo chấn chỉnh cơ chế tổ chức, xây dựng quy chế hoạt động. Thông qua quy
chế hoạt động, trách nhiệm được phân công rõ ràng, các mối quan hệ giữa lãnh đạo
chuyên môn, Ban cán sự đảng, đoàn, các đoàn thể với cấp uỷ cơ sở được quy định
cụ thể ; tạo ra nề nếp, phương pháp làm việc khoa học, đảm bào nguyên tắc tổ chức
và sinh hoạt đảng.Đến nay 2003 có 90 % đơn vị xây dựng được quy chế hoạt động.
Việc xây dựng quy chế hoạt động trở thành tiêu chuẩn bắt buộc có tính nguyên tắc
đối với các cơ sở đảng trong nhiều năm qua.Chăm lo đào tạo bồi dưỡng, xây dựng
đội ngũ cấp uỷ cơ sở là nhiệm vụ quan trọng của Đảng bộ. Thông qua đào tạo bồi
dưỡng, tạo nguồn bằng nhiều hình thức, nhất là qua mỗi kỳ đại hội, đảng bộ đã xây
dựng được đội ngũ cấp tỉnh cơ sở có trách nhiệm cao có trình độ năng lực, đảm
nhiệm vai trò lãnh đạo, là hạt nhân chính trị cơ sở. ĐI đôi với khâu xây dựng cấp
uỷ cơ sở là công tác chi bộ và quản lý đảng viên. Công tác chi bộ và quản lý đảng
viên là nội dung trọng tâm của nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch
vững mạnh. Trong những năm gần đây số tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững
mạnh tăng lên đáng kể, năm sau thường cao hơn năm trước. Năm 1999 có 35/49
Đảng bộ, chi bộ cơ quan đạt trong sạch vững mạnh ( chiếm 1% ) đến năm 2003 có
44/57 Đảng bộ, chi bộ cơ quan đạt trong sạch vững mạnh (chiếm 77%).
22
Những năm qua, nhất là từ Đại hội VII, Đại hội VIII và Đại hội IX, dưới
ánh sáng của các quan điểm mới về công tác cán bộ đã được các tổ chức cơ sở
đảng quan tâm, chú trọng thực hiện. Cấp uỷ cơ sở đã thống nhất được với thủ
trưởng cơ quan một quy trình về công tác cán bộ trong cơ quan, quy trình này vừa
đảm bảo tính dân chủ công khai ở tất cả các khâu chủ yếu, đảm bảo sự lãnh đạo
của tổ chức Đảng,và vừa đảm bảo quyền quyết định cuối cùng thuộc về thủ trưởng.
Đa số các tổ chức cơ sở đảng đã làm tôt các mặt : đề xuất với lãnh đạo cấp trên về
củng cố tổ chức, về công tác càn bộ của cơ quan theo theo quyền. Xây dựng và
thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ thuộc cơ quan quản lý, cùng
với thủ trưởng, Ban cán sự, Đảng đoàn thực hiện chính sách cán bộ theo chức
năng, quyền hạn quy định. Nhiều tổ chức cơ sở đảng đã thể hiện được vai trò của
mình trong công tác tổ chức và cán bộ lãnh đạo chặt chẽ và quan tâm đúng lúc đến
việc xây dựng tổ chức bộ máy đảng, chính quyền, đoàn thể cơ quan, ban nghành,
đoàn thể của mình, lựa chọn và đào tạo một đội ngũ cán bộ, tong bước nâng cao về
trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực thực tiễn và phẩm chất đạo đức.
Thông qua lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ, các tổ chức cơ sở đảng
đã làm tốt công tác xây dựng nội bộ Đảng, giáo dục và rèn luyện đội ngũ đảng
viên. Thông qua lãnh đạo và kiểm tra đường lối chính sách của Đảng, phát hiện
những đảng viên và cán bộ ngoài Đảng có năng lực và phảm chất giới thiệu với thủ
trưởng cơ quan để bồi dưỡng, sử dụng. Đồng thời kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị,nhiều tổ chức cơ sở đảng đã kiến nghị phối hợp với thủ trưởng cơ quan
kiểm tra những vấn đề nghiêpf vụ liên quan đến công tác cán bộ, đảm bảo cho
chính sách cán được thực hiện dân chủ, công khai, nghiêm túc, đúng với quy định.
Những hoạt động lãnh đạo của các chi bộ, đảng bộ cơ quan trong lĩnh
vực tổ chức và cán bộ đã góp phần quan trọng trong việc kiện toàn tổ chức bộ máy
theo quan điểm nghị quyết Trung ương ba ( khoả VIII ), xây dựng đội ngũ công
23
chức, viên chức có đủ phẩm chất và năng lực góp phần quyết định vào thành tựu
chung về kinh tế,chính trị, xã hội … của tỉnh trong những năm vừa qua.
- Lãnh đạo công tác giáo dục,chính trị, tư tưởng trong cơ quan.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được coi là nhiệm vụ hàng đầu trong
công tác xay dựng Đảng ở Đảng bộ Cơ quan Cấp tỉnh và ở các tổ chức cơ sở đảng
cơ quan. Với đội ngũ cán bộ đảng viên có trình độ cao, đảm nhiệm các lĩnh vực
công tác quan trọng của tỉnh, được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin từ Trung
ương đến cơ sở, có nhiều mối quan hệ trong công tác, do đó rất nhạy cảm với các
vấn đề kinh tế, chính tri – xã hội …của quốc tế, trong nước và trong tỉnh.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được xác định là nhiệm vụ của toàn
đảng bộ, chi bộ mà trước hết là của các cấp uỷ. Việc giáo dục chính trị tư tưởng
bao gồm tổng thể những phương thức, phương pháp, hoạt động của đảng ( có cả
công tác tổ chức và công tác kiểm tra ) nhằm giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-
Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, giáo dục lòng
yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và truyền thống cách mạng, giáo dục ý thức trách
nhiệm, ý thức tổ chức kỷ kuật, ý thức xây dựng và bảo vệ Đảng cho đảng viên và
quần chúng. Đấu tranh với những biểu hiện sa sút về phẩm chất chính trị, thoáI hoá
về đạo đức và lối sống.
Dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ cấp trên trực tiếp là Đảng uỷ Cơ quan Cấp
tỉnh, các đảng bộ, chi bộ cơ quan đã hướng trọng tâm công tác giáo dục chính trị tư
tưởng vào việc giáo dục cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng vai trò lãnh đạo
chính trị của Đảng cầm quyền, và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, vào mục tiêu
xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
văn minh, mục tiêu đó đang phấn đấu thực hiện trong điều kiện có thuận lợi và
cũng vô vàn khó khăn thách thức đặt ra.
Việc đầu tiên trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng là thường xuyên
nắm bắt tư tưởng, tâm tư,tình cảm của cán bộ, công nhân viên,đảng viên trong cơ
24
quan, đồng thời phân tích những nguyên nhân làm nảy sinh ra chúng, từ đó các cấp
uỷ cơ sở đã có những biện pháp hợp lý. Đa số các cấp uỷ cơ sở thường xuyên nắm
bắt kịp thời quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm của cán bộ đảng viên và đưa vào
nội dung các kỳ sinh hoạt chi bộ. Lviệc thực hiện nhiệm vụ chi bộ, lấy những vấn
đề cụ thể của cơ quan, đơn vị và thực tiễn cuộc sống đang diễn ra để giáo dục
chính trị tư tưởng. Thông qua việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường công tác giáo dục tuyên
truyền, đường lối, quan điểm, tong bước nâng cao trình độ nhận thức, năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu, ý thức trách nhiệm của đảng viên trng đảng bộ. Đồng thời
các cấp uỷ đã quan tâm đến việc bồi dưỡng kiến thức mới cho đảng viên, cán bộ
công nhân viên chức trong cơ quan nhằm đáp ứng những yêu cầu trong tình hình
nhiệm vụ mới là đất nước đổi mới, phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, tong bước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
-Công tác kiểm tra:
Kiểm tra là một trong những năng lực lãnh đạo của Đảng. Một bộ phận
quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Lãnh đạo mà không kiểm tra coi như
không lãnh đạo. Quán triệt tinh thần đó, trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình,
công tác kiểm tra ở các đảng bộ, chi bộ cơ sở đặt trọng tâm vào kiểm tra việc thực
hiện chỉ thị, nghị quyết của các cấp uỷ đảng ; kiểm tra thực hiện ĐIều lệ Đảng,
chấp hành nguyên tác và tổ chức sinh hoạt đảng ; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ
của tổ chức và đảng viên ; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ Cơ quan Cấp tỉnh, các đảng bộ, chi bộ cơ
quan đã thực hiện nghiêm túc và có kết qủa các nhiệm vụ kiểm tra, giải quyết
nhanh các đơn thư tố cáo, khiếu nại, không thể để tồn đọng các đơn thư, giải quyết
đảm bảo đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc thủ tục của Đảng.
25