TÔi yêu em

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu TÔi yêu em

Soạn giảng:
Tôi yêu em
A. X. Pu – skin
I. Mục tiêu cần đạt.
1. Kiến thức.
- Giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp trong sáng của bài thơ cả về nội dung tâm
tình lẫn ngôn từ nghệ thuật.
2. Kĩ năng.
- Học sinh có thể phân tích được bài thơ
3. Thái độ.
- Học sinh tích cực lắng nghe, phát biểu xây dựng bài.
II. Nội dung bài học.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của
học sinh
Nội dung cần đạt
Hoạt động 1:
Giáo viên yêu cầu học sinh
đọc phần tiểu dẫn và phần
chuẩn bị bài ở nhà, trả lời
câu hỏi.
- Nêu những đặc điểm
chính về cuộc đời Pu –
skin?
- Nêu những nét chính về
sự nghiệp thơ ca của Pu –
skin?
- Học sinh đọc và
trả lời câu hỏi.
- Học sinh trả lời.
I. Tìm hiểu chung.
1. Tác giả.
1.1. Cuộc đời.
- A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin
(1799 – 1837), xuất thân trong một gia đình
quý tộc tại Moskva nhưng cuộc đời ông gắn
bó với số phận của nhân dân, đất nước.
- Ông sáng tác từ năm lên 8, 9 tuổi qua việc
học tập sáng tác của các nhà văn, nhà thơ
khác.
- 1826 – 1828: Ông bị đày lên phương Bắc
do sáng tácnh ững tác phẩm kêu gọi nhân
dân đấu tranh đòi tự do, chống lại chính
quyền nông nô chuyên chế.
- 1837: Ông mất do một cuốc đấu súng.
1.2. Sự nghiệp.
Pu – skin là “khởi đầu của mọi sự khởi đầu”
trong văn học Nga (M. Gorky).
- Ông là một thi sĩ lừng danh, được coi là
“Mặt trời của thi ca Nga”, có hơn 800 bài thơ
trữ tình.
- Nêu những hiểu biết của
em về xuất xứ của bài thơ
“Tôi yêu em”? (Giáo viên
có thể chủ động mở rộng
cho học sinh).
- Em hãy nêu bố cục của
bài thơ? Nêu ý chính của
các phần?
- Học sinh trả lời.
- Hóc sinh trả lời.
- Người đa tài trên các lĩnh vực: kịch, trường
ca, truyện ngắn,…
- Các sáng tác của Pu – skin thể hiện tuyệt
đẹp tâm hồn nhân dân Nga khát khao tự do
và tình yêu. Văn chương của ông luôn là một
tiếng nói Nga trong sáng, thuần khiết, thể
hiện cuộc sống một cách giản dị, chân thực.
2. Tác phẩm.
2.1. Xuất xứ.
- Bài thơ “Tôi yêu em” được sáng tác năm
1829, được in lần đầu tiên trên “ Những bông
hoa phương bắc” năm 1830.
- Bài thơ có hai phương án xuất xứ:
+ Cách 1: Bài thơ được khơi nguồn từ mối
tình của nhà thơ với A.A. Ô – lê – nhi – a
( người không chấp nhận lời cầu hôn của Pu
– skin vào tháng 11/ 1828). Vào năm 1829,
ông đã chép bài thơ và tặng cho bà.
=> Có thể hiểu bài thơ theo hướng nhân vật
trữ tình yêu mà không được đáp lại.
+ Cách 2: Bài thơ được viết tặng cho “người
đàn bà mê hồn thật sự” là Sobanskaya, người
gốc BaLan trong thời gian gặp lại.
=> Bài thơ nói về motip “tình yêu hồi sinh
trog lần gặp lại” rất phổ biến trong thơ tình
yêu của Puskin.
2.2. Bố cục:
Bài thơ được chia làm 2 phần.
- Khổ 1: Những mâu thuẫn giằng xé trong
tâm trạng nhân vật trữ tình.
- Khổ 2: Sự chân thành, vị tha, cao thượng và
lời khẳng định một tình yêu đằm thắm của
nhân vật trữ tình.
2.3. Nhan đề.
- Bài thơ vốn không đề, đối với những
trường hợp như vậy người ta sẽ ước định gọi
tên bằng dòng thơ đầu tiên.
- Dịch giả Thúy Toàn dịch điệp ngữ mở đầu
là “Tôi yêu em”.
Nếu dịch chính xác theo nguyên tác là “Tôi
Hoạt động 2:
Giáo viên mời 1 học sinh
đọc bài thơ. Sau đó nhận
xét.
- Em hãy nêu nội dung
chính trong hai câu đầu?
Tình yêu của nhân vật trữ
tình được thể hiện như thế
nào?
- Tình yêu say đắm đó liệu
có đến được bến bờ hạnh
phúc không? Hay tình yêu
đó sẽ có kết quả khác?
- Sự mâu thuẫn, giằng xé
giữa trái tim và lí trí được
- Học sinh đọc.
- Học sinh trả lời.
- Học sinh trả lời.
- Học sinh trả lời.
đã yêu cô”
=> Cách dịch của dịch giả Thúy Toàn vừa
gợi sự gần gũi lại xa cách, trang trọng.
II. Đọc – hiểu văn bản.
1. Đọc.
2. Phân tích tác phẩm.
2.1. Bốn câu thơ đầu: Những mâu thuẫn
giằng xé trong tâm trạng nhân vật trữ tình.
a. Hai câu thơ đầu: Lịch sử tình yêu trong
mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại.
- Mở đầu là lời khẳng định: “Tôi yêu em” –
lời nói ngắn gọn, giản dị nhưng chân thành,
thật lòng.
- “Đến nay”: Đẩy tình yêu vào quá khứ, đó là
tình yêu đã tồn tại từ trước.
- Ngọn lửa tình – chưa hẳn đã tàn phai.
+ Tình yêu đã tàn nhưng chưa lụi tắt -> Tình
yêu say mê, âm thầm và dai dẳng.
+ Đó là tình yêu vững bền xuất từ con tim,
không phải là sự bột phát.
=> Lời khẳng định tình yêu chân thành, say
mê. Một tình yêu xuất phát từ con tim nồng
nàn, say đắm.
b. Hai câu sau: Lời tuyên bố chấm dứt tình
yêu.
+ “Nhưng không để em”: thể hiện sự rút lui.
+ Thái độ của cô gái đối với tình yêu của
chàng trai là sự “bận lòng, u hoài”.
=> Chàng trai không phải chán nản vì tình
yêu của mình mà không muốn người mình
yêu phải suy nghĩ và không được hạnh phúc.
Từ “nhưng” kết hợp với những từ mạnh thể
hiện sự quyêt tâm như “không để, phải” thể
hiện sự gồng lên của lí trí để thoát ra, đoạn
tuyệt với tình trạng lưỡng phân ở hai câu
đầu.
- Đó là lí lẽ của lí trí còn sâu thẳm bên trong
thể hiện như thế nào?
Hoạt động 3:
Giáo viên hướng dẫn học
sinh phân tích khổ 2.
- Em có cảm nhận gì về ba
câu đầu của khổ hai?
- Tình yêu ở đây có kết
thúc như lí trí mách bảo
không?
- Vậy tình yêu lúc này như
thế nào?
- Em có dự đoàn gì về kết
quả của tình yêu này?
- Em có nhận xét gì về câu
cuối của bài thơ? Câu thơ
có hợp lí hay không?
- Tình yêu của chàng trai
như thế nào?
- Học sinh trả lời.
- Học sinh trả lời.
- Học sinh trả lời.
- Học sinh trả lời.
thì tình yêu ấy vẫn như những đợt sóng xô
cuồn cuộn chảy về, bất chấp logic, bất chấp
lí trí.
=> Sự mâu thuẫn hiện lên rõ nét, lí trí thì
không muốn người mình yêu phiền lòng, trái
tim thì day dứt, trăn trở về tình yêu ấy.
2.2. Bốn câu thơ sau: Sự chân thành, vị tha,
cao thượng và lời khẳng định một tình yêu
đằm thắm của nhân vật trữ tình.
a. Ba câu đầu
- Điệp từ “Tôi yêu em” nhấn mạnh tình yêu
mãnh liệt, tha thiết, không che dấu của nhân
vật trữ tình.
- Tình yêu đơn phương chân thành và đáng
yêu: Một tình yêu trong sáng, theo đúng quy
luật của trái tim.
+Âm thầm, không hi vọng
+ Rụt rè, hậm hực lòng ghen.
=> Tình yêu ở đây càng mãnh liệt, tha thiết,
chất chứa đầy đủ những cung bậc cảm xúc
của tình yêu.
- Câu thứ 7, một lần nữa điệp lại “tôi yêu
em” và nhấn mạnh hai sắc thái kết tinh bản
chất của tình yêu: “chân thành”, “đằm thắm”.
=> Tình yêu ở đây dường như lại bùng cháy,
nó trở nên mãnh liệt và dữ dội hơn. Tình yêu
càng bị kìm nén thì càng dễ bùng nổ.
b. Câu cuối
“ Cầu em được người tình như tôi đã yêu
em”.
- Bất chấp nguyên tắc logic và cú pháp, câu
thơ cuối đột ngột trở thành một lời chúc.
- Lời chúc thay thế cho một lời nguyền : Nó
khẳng định một tương lai hạnh phúc chứ
không phải hủy diệt tương lai.
- Nhân vật trữ tình đã quên đi cái “tôi” để
nghĩ đến người mình yêu. Ông không hề hận
thù mà trái lại luôn mong muốn người yêu
được yêu thương, được hạnh phúc mãi mãi.
=> Một tình yêu cao thượng, thủy chung,
Hoạt động 4: Giáo viên
kết luận lại cho học sinh.
- Học sinh nghe và
ghi chép.
đằm thắm. Câu cuối như một nốt nhạc vút
cao trong bản thanh âm buồn man mác, nó
khiến bản nhạc trở nên trong trẻo, tình yêu
trở nên “sáng trong” một cách diệu kì.
III. Kết luận:
1. Nội dung.
Bài thơ thể hiện nỗi buồn của một mối tình
đơn phương vô vọng nhưng không bi lụy mà
trong sáng. Một tình yêu chân thành, mãnh
liệt và cao thượng, vị tha.
2. Nghệ thuật.
- Lời thơ giản dị, trong sáng.
- Kêt cấu vòng sóng: 2/2/3/1

Đây là phiên bản tài liệu đơn giản

Xem phiên bản đầy đủ của tài liệu TÔi yêu em