DỰ BÁO SẢN LƯỢNG LÚA VIỆT NAM BẰNG CÁC MÔ HÌNH TOÁN HỌC ppt

Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

125
DỰ BÁO SẢN LƯỢNG LÚA VIỆT NAM
BẰNG CÁC MÔ HÌNH TOÁN HỌC
Võ Văn Tài
1

ABSTRACT
The article uses different models of regression and time series to forecast Vietnam's
paddy output based on past data. Using statistical criterions in making model to find the
most appropriate model, from there forcasting paddy output for the next five years by
this model.
Keywords: Regression, time series, forecast, AIC criterion, paddy output
Title: Forecasting Vietnam's paddy output by mathematical models
TÓM TẮT
Bài báo sử dụng các mô hình khác nhau của hồi quy và chuỗi thời gian để dự báo sản
lượng lúa của Việt Nam dựa trên các số liệu của quá khứ. Sử dụng các tiêu chuẩn của
thống kê trong lựa chọn mô hình để tìm mô hình thích hợp nhất, từ đó tiến hành dự báo
sản lượng lúa cho 5 năm tiếp theo bằng mô hình này.
Từ khóa: Hồi quy, chuỗi thời gian, dự báo, tiêu chuẩn AIC, sản lượng lúa
1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình và ý nghĩa của việc dự báo sản lượng lúa của nước ta
Trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, nhu cầu về thông tin thị trường tại một
thời điểm nào đó trong tương lai là rất cần thiết. Nhà nước ta đã thấy rõ ý nghĩa to
lớn của dự báo đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, do đó
đã có nhiều
quan tâm đến công tác này trong những năm gần đây. Nhiều cơ quan chuyên trách
và bán chuyên trách về dự báo đã được thành lập ở cấp Bộ, tỉnh và thành phố. Tuy
nhiên, theo đánh giá công tác dự báo của nước ta còn rất non kém và hạn chế nhiều
mặt, chưa đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển kinh tế của đất nước hiện nay.
Nguyên nhân của thực trạng này thì nhiều, nhưng có thể chỉ ra m
ột số nguyên nhân
chính sau: Sự thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực trong lĩnh vực dự báo; các số liệu
tổng hợp cho dự báo không đầy đủ và không chính xác; các cơ quan đơn vị ở địa
phương còn xem nhẹ công tác dự báo; thiếu phương tiện kỹ thuật, kinh phí cho
dự báo; …
Dự báo sản lượng lúa là một trong những việc cần thiết cho việc phát triển ngành
kinh tế nông nghiệp hàng đầu của nước ta. Khi chúng ta dự đ
oán được sản lượng
lúa ở tương lai tăng hay giảm so với hiện tại, khi đó chúng ta sẽ có các chính sách
tác động một cách kịp thời và đúng lúc đến các bộ phận liên quan. Đó là các chính
sách liên quan đến đất trồng lúa, thủy lợi, nông dân, từ đó ảnh hưởng đến việc quy
hoạch cụm công nghiệp, dân cư và nhiều vấn đề kinh tế xã hội khác. Dự báo được
sản lượng lúa sẽ giúp cho hiệp hộ
i lương thực (VFA) tham mưu cho nhà nước
trong việc đảm bảo an ninh lương thực trong nước, điều hành kế hoạch xuất khẩu
mang lại lơi ích cao nhất cho người nông dân và doanh nghiệp. Hiện nay Bộ nông

1
Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Cần Thơ
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

126
nghiệp & Phát triển Nông thôn đang chỉ đạo các cơ quan chuyên trách lập kế
hoạch tổng thể phát triển các loại cây trồng chính của nước ta, trong đó lúa được
xem là cây quan trọng nhất. Để lập được kế hoạch này, điều cần thiết là phải có
được dự báo cho sản lượng lúa. Dự báo sản lượng lúa càng có ý nghĩa quan trọng
trong điều kiện nước ta nằm trong vùng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng củ
a biến đổi
khí hậu.
1.2 Nguồn số liệu
Để dự báo sản lượng lúa của nước ta, chúng tôi sử dụng dữ liệu của quá khứ từ
năm 1990 đến năm 2010 (21 năm). Số liệu này được lấy từ trang web của Tổng
cục Thống kê và Bộ nông nghiệp Phát triển Nông thôn ngày 1/1/2012. Cụ thể số
liệu được cho bởi bảng sau:
Bảng 1: Thống kê sản lượng lúa cả nước từ năm 1990-2010

Năm
Sản lượng
Cả năm Đông xuân Hè thu Lúa mùa
1990 19225.1 7865.6 4090.5 7269.0
1991 19621.9 6788.3 4715.8 8117.8
1992 21590.4 9156.3 4907.2 7526.9
1993 22836.5 9035.6 5633.1 8167.8
1994 23528.2 10508.5 5679.4 7340.3
1995 24963.7 10736.6 6500.8 7726.3
1996 26396.7 12209.5 6878.5 7308.7
1997 27523.9 13310.3 6637.8 7575.8
1998 29145.5 13559.5 7522.6 8063.4
1999 31393.8 14103.0 8758.3 8532.5
2000 32529.5 15571.2 8625.0 8333.3
2001 32108.4 15474.4 8328.4 8305.6
2002 34447.2 16719.6 9188.7 8538.9
2003 34568.8 16822.7 9400.8 8345.3
2004 36148.9 17078.0 10430.9 8640.0
2005 35832.9 17331.6 10436.2 8065.1
2006 35849.5 17588.2 9693.9 8567.4
2007 35942.7 17024.1 10140.8 8777.8
2008 38729.8 18326.9 11395.7 9007.2
2009 38950.2 18695.8 11212.2 9042.2
2010 39988.9 19218.1 11595.7 9175.1
Số liệu của bảng 1 được vẽ thành biểu đồ cột như sau:

Hình 1: Biểu đồ cột sản lượng lúa các vụ và cả năm của Việt Nam từ 1990 - 2010
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

127
1.3 Phương pháp thực hiện
Sử dụng số liệu từ bảng 1, chúng tôi tiến hành dự báo sản lượng lúa nước ta bằng
hai phương pháp: Mô hình hồi quy và chuỗi thời gian.
Mô hình hồi quy: Sử dụng các mô hình hồi quy đã biết cho việc dự báo như: đa
thức (với nhiều bậc khác nhau), cấp số cộng, cấp số nhân và hàm mũ biến dạng.
Dự báo sản lượng lúa cho vụ mùa, đông xuân, hè thu và c
ả năm với tất cả các mô
hình này, sau đó dựa vào một số tiêu chuẩn của thống kê như hệ số xác định R
2
,
thông tin Akaiken (AIC), thông tin Schwarzn (SIC), sai số trung bình (ME), đồ thị
phân tán để đánh giá sự phù hợp của mô hình, từ đó lựa chọn đường hồi quy phù
hợp nhất. Mô hình hồi quy đa thức được khảo sát, nhưng với dữ liệu thu được các
mô hình này không phù hợp, do đó chúng tôi không trình bày trong bài viết này.
Mô hình chuỗi thời gian: Sử dụng các mô hình dự báo trong chuỗi thời gian như:
Mô hình tự hồi qui (AR), mô hình trung bình di động (MA), mô hình tự
hồi qui và
trung bình di động (ARMA), mô hình trung bình di động tổng hợp với tự hồi qui
(ARIMA). Dự báo sản lượng lúa cho các vụ và cả năm, sau đó ta dùng tiêu chuẩn
(AIC) để đánh giá mô hình nào phù hợp nhất.
Sau khi lựa chọn được 2 mô hình phù hợp nhất từ hai phương pháp trên, chúng ta
tiếp tục sử dụng tiêu chuẩn AIC để có được mô hình phù hợp hơn. Sử dụng mô
hình này để dự báo cho sản lượng lúa từng n
ăm từ 2011 – 2015.
Việc phân tích và xây dựng các mô hình hồi quy va chuỗi thời gian được thực hiện
trên phần mềm thống kê R.
2 CÁC MÔ HÌNH DỰ BÁO SẢN LƯỢNG LÚA
2.1 Mô hình hồi quy
Gọi t là năm ứng với sản lượng lúa dự báo y
t
, các mô hình hồi quy được sử
dụng trong nghiên cứu này là
- Hồi quy tuyến tính:

btay
t


(1)
- Hồi quy đa thức bậc n:

n
nt
tatataay 
2
210
(2)
- Hàm cấp số cộng:

).1(
12010
tryy
t



(3)
- Hàm cấp số nhân:

t
t
ryy

 )1(
22010
(4)
Trong mô hình (3) và (4) thì
t

là khoảng thời gian từ năm dự báo đến năm được
chọn làm gốc (2010); r
1
, r
2
lần lượt là tốc độ tăng sản lượng lúa hằng năm của mô
hình (3) và (4). Cụ thể



,
19902010
ln)ln(
19902010
1



yy
r
21
1990
2010
2
y
y
r 
.
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

128
- Hàm mũ biến dạng: ,
t
t
bcay

 (5)
Trong đó

, , abc là các tham số được ước lượng từ các số liệu đã biết,

)2010(
5
1
 tt

với
t
là thời gian cần dự báo.
2.2 Mô hình chuỗi thời gian
a) Mô hình tự hồi qui bậc p (AR(p)) dạng:

t
p
i
ittt
uyy 



1
0

(6)
Trong đó
i

là các hệ số ước lượng của mô hình,
u
t

là số hạng đảm bảo tính nhiễu trắng.
b) Mô hình trung bình di động bậc q (MA(q)) dạng:





q
i
itit
uy
1
0

(7)
Trong đó
i

cũng là các hệ số ước lượng của mô hình và
i
u giống như trong (6).
c) Mô hình tự hồi qui và trung bình di động (ARMA(p,q))
Kết hợp mô hình AR(p) với mô hình MA(q) ta có mô hình ARMA(p,q). Mô hình
này có dạng như sau:

qqtttptpttt
uuuuyyyy







1221122110








. (8)
Một quá trình ARMA(p,q) sẽ có quá trình tự hồi quy bậc p và quá trình trung bình
di động bậc q.
d) Mô hình trung bình di động tổng hợp với tự hồi qui ARIMA(p,d,q)
Phương trình khái quát của mô hình ARIMA(p,d,q) được trình bày dưới dạng sau:

tqtqtptpttt
eyyyy

















112211
(9)
Trong đó

là tham số tự hồi quy;

là tham số trung bình di động;
q





 (
21
);

là giá trị trung bình của chuỗi thời gian; e
t
là sai số dự
báo (
ttt
yye 

= số liệu dự báo - số liệu thực tế).
2.3 Tiêu chuẩn đánh giá mô hình
Hiện nay có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ phù hợp của các
mô hình hồi quy và chuỗi thời gian đã xây dựng. Có nhiều nghiên cứu về vấn đề
này, nhưng không thể khẳng định được tiêu chuẩn nào tốt hơn. Trong bài viết này
chúng tôi sử dụng các tiêu chuẩn sau để so sánh các mô hình với nhau. Đây là
những tiêu chuẩn ph
ổ biến, được tính trong hầu hết trong các phần mềm thống kê.
a) Hệ số xác định:








n
i
i
n
i
ii
yy
yy
R
1
2
1
2
2
)(
)(

, (10)
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

129
trong đó
i
y và
i
y

lần lượt là giá trị thực tế và giá trị dự báo của mô hình hồi quy
khi biến x nhận giá trị x
i
;
y
là trung bình của các ., ,2,1, niy
i


R
2
là một tham số đo sự phù hợp của mô hình hồi quy. Ta có 0
2
R  1,
2
R càng
lớn thì mô hình hồi quy đã xây dựng được xem là càng phù hợp, càng có ý nghĩa
trong việc giải thích sự biến thiên của y thông qua sự biến thiên của x.
b) Tiêu chuẩn thông tin Akaiken (AIC):

n
SSE
eAIC
nk /2

, (11)
Trong đó k là số biến ước lượng (bao gồm cả hệ số chặn), n là số mẫu quan sát,




n
i
ii
yySSE
1
2
ˆ
với
i
y và
i
y
ˆ
giống trong công thức (10).
AIC là công cụ phát hiện sai sót khắt khe hơn R
2
khi tăng thêm biến độc lập. Khi so
sánh hai hay nhiều mô hình, mô hình nào có AIC thấp nhất thì mô hình đó sẽ
tốt hơn.
c) Tiêu chuẩn thông tin Schwarzn (SIC):

,ln. k
n
SSR
nSIC 







(12)
Trong đó




n
i
i
yySSR
1
2
ˆ
với
y

i
y
ˆ
giống trong công thức (10). Giá trị SIC
càng nhỏ thì mô hình càng tốt.
d) Đồ thị phân tán:
Đồ thị phân tán chỉ được áp dụng trong trường hợp hai biến. Từ số liệu thực tế
chúng ta vẽ đồ thị phân tán, từ số liệu dự báo chúng ta vẽ được các đường dự báo.
Các chấm đại diện cho các cặp quan sát được phân tán ngẫu nhiên, nếu các chấm
gần như tập trung quanh đường thẳng tức mối liên hệ
này gần như tuyến tính. Nhìn
vào đồ thị, quan sát thấy đường dự báo nào gần với số liệu thực tế thì chúng ta có
thể chọn mô hình đó để dự báo.
e) Sai số trung bình:

,
1
1



n
i
ii
yy
n
ME

(13)
Trong đó
i
y và
i
y

được xác định giống như (10). ME càng nhỏ thì mô hình xây
dựng càng phù hợp.
3 KẾT QUẢ DỰ BÁO TỔNG SẢN LƯỢNG LÚA CỦA CẢ NĂM
3.1 Sử dụng các mô hình hồi quy
a) Đường hồi quy tìm được
Từ số liệu bảng 1, chúng ta tính được các đường hồi quy dự báo theo (1), (2), (3),
(4) và (5) cho sản lượng lúa cả năm cụ thể như sau:
- Hồi quy tuyến tính: y
t
= -2073842 + 1052.20t.
Trong đó t là năm cần dự báo.
- Hàm cấp số cộng: y
t
= 39988.9[(1 + 0.036619(t - 2010)].
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

130
- Hàm cấp số nhân: y
t
= 39988.9(1 + 0.037298)
t-2010
.
- Hàm mũ biến dạng: y
t
= 34788.92837 + 154.89497(1.598242)
t


Trong đó )2010(
5
1
 tt

với t là năm cần dự báo,
b) Lựa chọn đường hồi quy
i) Đồ thị phân tán của số liệu và đồ thị của các mô hình hồi quy dự báo được
xác định bởi các hàm trên, được vẽ như sau:


Hình 2: Đồ thị phân tán giá trị thực tế và 4 mô hình hồi quy dự báo sản lượng lúa
Hình 2 cho ta thấy mô hình hồi quy tuyến tính có các giá trị dự báo gần đúng với
giá trị thực tế nhất.
ii) Chúng ta cũng có các tiêu chuẩn đánh giá mô hình hồi quy đã xây dựng cụ
thể như sau:
Bảng 2: Tổng hợp các tiêu chuẩn đánh giá mô hình cho sản lượng lúa cả năm
Mô hình AIC SIC ME
Tuyến tính
371.9016 369.9016 899.2762
Cấp số cộng 391.9792 389.9792 5193.9059
Cấp số nhân 373.5087 372.5087 2155.9093
Hàm mũ biến dạng 399.0357 397.0357 5707.8057
Bảng 2 cho ta thấy tất các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến
tính tốt hơn các mô hình còn lại.
Từ các phân tích trên ta thấy trong các mô hình hồi quy dự báo sản lượng lúa cả
năm, hồi quy tuyến tính là phù hợp nhất.
3.2 Phương pháp chuỗi thời gian
Với số liệu bảng 1, kiểm tra tính dừng ta thấy nó được thể hiện rõ nhất ở sai phân
bậc 2.
Năm
Sản lượng lúa cả năm
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

131

Hình 3: Sai phân bậc 2 của sản lượng lúa
Ta cũng có hàm tự tương quan (ACF) và tự tương quan riêng (PACF) được cho
bởi các hình vẽ sau:

Hình 4: Hàm ACF sai phân bậc 2 của sản lượng lúa cả nước


Hình 5: Hàm PACF sai phân bậc 2 của sản lượng lúa cả nước
a) Các mô hình dự báo theo dãy số thời gian
Qua phân tích từ số liệu, kiểm tra tính dừng, đồ thị ACF và PACF, ta có các mô
hình dự báo có thể như sau:
 Dự báo bằng mô hình bình quân di động (MA): Kết quả phân tích cho ta
thấy có một MA cấp 1, hay tồn tại MA(1).
 Dự báo với mô hình tự hồi quy (AR): Sự phân tích cũng cho ta thấy tồn tại
mô hình cấp 1 của
mô hình này (AR(1)).
 Dự báo với mô hình ARIMA bằng phương pháp Box-Jenkins:
Các mô hình có thể có là: ARIMA(1,2,1), ARIMA(2,2,1), ARIMA(1,2,2),
ARIMA(1,2,3), ARIMA(2,2,2), ARIMA(2,2,3), ARIMA(3,2,1), ARIMA(3,2,2).
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

132
b) Lựa chọn mô hình
Dùng tham số AIC để tìm mô hình thích hợp nhất từ các mô hình tồn tại trên, ta có
bảng tổng hợp như sau:
Bảng 3: Giá trị AIC của 10 mô hình dự báo
Mô hình AIC
MA(1) 372.8700
AR(1) 414.1900
ARIMA(1,2,1) 320.7702
ARIMA(2,2,1) 322.7702
ARIMA(1,2,2) 321.9521
ARIMA(1,2,3) 323.6193
ARIMA(2,2,2) 323.7266
ARIMA(2,2,3) 325.5603
ARIMA(3,2,1) 324.1348
ARIMA(3,2,2) 325.2461
So sánh AIC của các mô hình trên ta thấy AIC của mô hình ARIMA(1,2,1) nhỏ
nhất. Vậy mô hình chuỗi thời gian thích hợp nhất để dự đoán sản lượng lúa cả năm
là mô hình ARIMA(1,2,1).
3.3 Dự báo sản lượng lúa giai đoạn 2011 – 2015
Từ các phân tích trên, ta thấy khi sử dụng mô hình hồi quy thì mô hình hồi quy
tuyến tính là phù hợp nhất. Nếu sử dụng mô hình chuỗi thời gian thì mô hình phù
hợp nhất là mô hình ARIMA(1,2,1). Kết quả dự báo b
ằng hai mô hình này cho giai
đoạn 2011 – 2015 cụ thể trong bảng sau:
Bảng 4: Dự báo sản lượng lúa cả nước giai đoạn 2021-2015 bằng hồi quy tuyến tính và
ARIMA(1,2,1)
Năm
Sản lượng (nghìn tấn)
Tuyến tính ARIMA(1,2,1)
2011 42112.09 40893.40
2012 43164.28 41838.30
2013 44216.47 42771.04
2014 45268.66 43707.45
2015 46320.85 44642.75
Trong 2 mô hình trên, AIC của hồi quy tuyến tính (371.9016) cao hơn AIC của mô
hình ARIMA(1,2,1) (320.7702). Như vậy sử dụng ARIMA(1,2,1) để dự báo cho sản
lượng lúa cả nước sẽ cho kết quả phù hợp hơn.

Hình 6: Đồ thị dự báo sản lượng lúa cả nước bằng mô hình ARIMA(1,2,1)
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

133
4 KẾT QUẢ DỰ BÁO CHO TỪNG VỤ LÚA TRONG NĂM
Thực hiện việc dự báo sản lượng lúa vụ đông xuân, hè thu và lúa mùa theo hai mô
hình hồi quy và chuỗi thời gian theo cách làm tương tự như dự báo sản lượng lúa
cả năm đã trình bày ở trên, ta có kết quả được cho bởi bảng tổng hợp sau:
Bảng 5: Các mô hình hồi quy và chuỗi thời gian dự báo cùng các giá trị AIC cho 3 vụ lúa
trong năm

Vụ lúa
Mô hình dự báo phù hợp nhất
Hồi quy Chuỗi thời gian
Mô hình AIC Mô hình AIC
Đông xuân Tuyến tính 348.410 ARIMA(1,2,1) 307.398
Hè thu Tuyến tính 328.190 ARIMA(1,1,3) 314.150
Lúa mùa Tuyến tính 263.201
ARIMA(1,1,1) 295.719
Sử dụng mô hình phù hợp nhất từ bảng 5 (mô hình ARIMA(1,2,1) cho vụ đông
xuân, mô hình ARIMA(1,1,3) cho vụ hè thu, mô hình ARIMA(1,1,1) cho vụ mùa)
để dự báo sản lượng lúa giai đoạn 2011 – 2015 cho từng vụ ta có kết quả cụ thể
được tổng hợp như sau:
Bảng 5: Kết quả dự báo sản lượng lúa giai đoạn 2011-2015 cho 3 vụ lúa
Vụ lúa 2011 2012 2013 2014 2015
Đông xuân 19605.34 20100.73 20509.52 20987.66 21410.27
Hè thu 11806.08 11862.65 12076.37 12285.50 12490.14
Lúa mùa 9092.86 9167.61 9099.67 9161.41 9105.29
5 MỘT SỐ NHẬN XÉT
Trong hai phương pháp dự báo cho sản lượng lúa của vụ đông xuân, hè thu, lúa
mùa và cả năm, phương pháp chuỗi thời gian luôn có kết quả dự báo phù hợp hơn.
Trong các mô hình chuỗi thời gian thì mô hình ARIMA luôn là sự lựa chọn
tốt nhất.
Trong các dự báo sản lượng lúa của các vụ mùa và cả năm, vụ đông xuân được
đánh giá sẽ cho có kết quả phù hợp nhất, vụ hè thu sẽ cho kế
t quả thiếu chắc chắn
nhất. Điều này có thể được giải thích bởi vụ đông xuân ít chịu ảnh hưởng của thời
tiết, sâu hại, diện tích gieo xạ luôn ở mức ổn định, trong khi vụ hè thu thì những
yếu tố này thì ngược lại. Hiện tại trên trang web của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn chưa có số liệu chính thức về sản lượng lúa năm 2011, nhưng theo đánh
giá sơ bộ tại cuộc họp tháng 2/2012 sản lượng này ước khoảng 41 nghìn tấn, trong
đó vụ đông xuân khoảng 19.6 triệu tấn, hè thu khoảng 12.3 triệu tấn và vụ mùa
khoảng 9.1 triệu tấn. Các kết quả dự báo năm 2011 từ bảng 4 và 5 chứng minh
những nhận xét trên và cũng cho thấy kết quả dự báo ngắn hạn ở trên có thể chấp
nhận được.
Dự báo sản lượng lúa thật r
ất khó để có được kết quả chính xác cao bởi vì nó
không những phụ thuộc vào thời tiết, thủy văn, dịch hại mà còn phụ thuộc vào các
chính sách về cây lúa, tốc độ công nghiệp, đô thị hóa của địa phương và chính phủ,
phụ thuộc vào kỹ thuật canh tác, sự phát triển của các tiến bộ của khoa học kỹ
thuật phục vụ nông nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, sử dụng mô hình hồi quy,
chuỗi th
ời gian trong dự báo sản lượng lúa là một kênh dự báo quan trọng để tham
Tạp chí Khoa học 2012:23b 125-134 Trường Đại học Cần Thơ

134
khảo trong các quy hoạch phát triển. Đối với phương pháp hồi quy, nếu có thêm
được dữ liệu cho các biến khác ảnh hưởng đến sản lượng lúa thì việc dự báo sẽ cho
kết quả chính xác hơn. Hiện tại, hai phương pháp này cũng được sử dụng phổ biến
để dự báo ngắn hạn cho nhiều lĩnh vực khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đặng Hùng Thắng (1999). Thống kê và ứng dụng, Nxb Giáo dục.
Hamparsum Bozdogan, 2000. Akaike's Information Criterion and Recent Developments in
Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Hùng, 2008. Thống kê ứng dụng trong kinh tế xã hội, Nxb
Information Complexity, Journal of mathematical psychology, 44, pp. 62-91.
Nguyễn Quang Đông, Nguyễn Khắc Minh, 1998. Kinh tế lượng, Nxb Khoa học Kỹ thuật.
Nguyễn Văn Tuấn, 2002. Phần mềm R, Nxb Khoa học Kỹ thuật.
Thống kê.
Tô Văn Ban, 2010. Xác suất thống kê, Nxb Giáo dục.