Xem bản đẹp trên 123doc.vn

Hiệp định về trị giá hải quan (ACV) và Hiệp định về kiểm định hàng hóa trước khi xếp hàng (PSI)

Khoa Kinh Tế - ĐHQG Tp.HCM
Bộ môn Kinh Tế Đối Ngoại – Lớp K07402A

Đề tài:
Hiệp định về trị giá hải quan (ACV) và
Hiệp định về kiểm định hàng hóa trước khi xếp hàng (PSI)
Nhóm thực hiện: CMCB
Danh sách thành viên:
Trần Thị Minh An K074020148
Trương Thị Ngọc Ánh K074020156
Trần Dương Huy Bình K074020157
Hồ Thị Thanh Hảo K074020174
Nguyễn Thị Hiển K074020177
Nguyễn Thị Thu Hoàn K074020180
Nguyễn Thị Như Huệ K074020182
Trương Tiến Hùng K074020185
Lưu Thị Hằng Nga K074020211
Lê Thị Hà Quyên K074020227
Phạm Ngọc Thanh Tùng K074020265
-Tháng 12/2009-
2
3
CHƯƠNG I: HIỆP ĐỊNH VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN (ACV)
1.1 Lý do ra đời
Xác định trị giá để tính thuế hải quan là một vấn đề dễ gây mâu thuẫn giữa Nhà nước và doanh
nghiệp. Cơ quan hải quan (thay mặt Nhà nước) luôn muốn thu được nhiều tiền thuế cho ngân
sách. Trong khi đó, doanh nghiệp lại luôn muốn phải trả tiền thuế ở mức thấp nhất để khỏi phải
tăng chi phí cho sản phẩm xuất/nhập khẩu.
Chính sự mâu thuẫn này đã trở thành một chướng ngại cho lưu thông hàng hoá quốc tế. Vì vậy,
WTO cũng như WCO (Tổ chức Hải quan Thế giới) đều coi đây là một vấn đề ưu tiên giải
quyết.
Ta đã biết số thuế quan phải trả bằng thuế suất nhân với trị giá hàng hóa, hay nói cách khác, số
thuế quan phải trả phụ thuộc vào sự biến thiên của cả hai yếu tố kia. Trong khi thuế suất đã
công bố rõ ràng và ít thay đổi thì trị giá hàng hóa lại có thể khác nhau do biến động giá trên thị
trường và đặc biệt là do căn cứ vào đâu để xác định trị giá. Nếu trị giá hàng bị tính cao hơn giá
trị thực thì số thuế quan phải nộp tăng lên, tức là hàng hóa khó xâm nhập thị trường hơn. Như
vậy thì ý nghĩa của việc đàm phán cắt giảm thuế quan sẽ không còn nữa. Vì vậy cần phải có uy
định về phương pháp xác định trị giá hàng hóa để tính thuế quan. Đó chính là mục đích của
Hiệp định Trị giá Hải quan (viết tắt là ACV) mà tên gọi đầy đủ là Hiệp định Thực hiện Điều VII
của GATT 1994.
Mục đích chính của Hiệp định là bảo vệ lợi ích của những nhà kinh doanh trung thực bằng việc
yêu cầu hải quan phải chấp nhận xác định trị giá tính thuế là giá mà người nhập khẩu thực sự
phải trả trong giao dịch kinh doanh cụ thể. Việc xác định này được áp dụng đối với các giao
dịch giữa các bên độc lập với nhau và giao dịch giữa những bên mua bán có quan hệ với nhau.
1.2 Khái niệm
Hiệp định Ðịnh giá hải quan quy định hải quan xác định mức thuế trên cơ sở giá cả giao dịch
mà người nhập khẩu mua hàng. Hiệp định Trị giá Hải quan GATT/WTO đã xác lập một hệ
thống đầy đủ các phương pháp xác định trị giá hải quan nhằm đảm bảo xác định được trị giá
của hàng hoá gần sát nhất với giá trị thực của chính hàng hoá đó xét trong điều kiện nhập khẩu
thông thường.
1.3 Nội dung
 Các quy định của Hiệp định Định giá hải quan
Những quy định chi tiết của GATT về định giá hàng hoá cho mục đích thông qua được nêu
trong Hiệp định Ðịnh giá hải quan ACV (tên đầy đủ là Hiệp định về thực hiện Ðiều VII của
GATT 1994). Hệ thống định giá của Hiệp định dựa trên các tiêu chuẩn đơn giản và công bằng
có xem xét tới các tập quán thương mại. Bằng việc yêu cầu tất cả các nước thành viên hài hoà
hoá hệ thống luật trong lãnh thổ của mình trên cơ sở các quy tắc của Hiệp định, Hiệp định này
4
đảm bảo tính thống nhất cho việc áp dụng các quy tắc để người nhập khẩu có thể tính trước một
cách chắc chắn khoản thuế phải trả đối với một lượng nhập khẩu nhất định.
 Tiêu chuẩn chính : Trị giá giao dịch
a. Ðịnh giá hải quan: những điều chỉnh được phép đối với giá cả hàng hoá (Hiệp
định Ðịnh giá hải quan, Ðiều 8)
Ðể đạt tới giá trị giao dịch, những chi phí sau có thể tính vào giá mà người nhập khẩu thực trả
hoặc phải trả để nhập khẩu hàng hoá:
• Phí hoa hồng và môi giới, trừ phí hoa hồng trả cho đại lý bán hàng;
• Chi phí bao bì đóng gói, container;
• Ðầu vào do người mua cung cấp miễn phí hoặc với giá ưu đãi để sản xuất hàng nhập
nhẩu như nguyên vật liệu, dụng cụ, v.v. hoặc các dịch vụ như bản thiết kế, bản kế
hoạch…;
• Phí bản quyền và giấy phép;
• Khoản tiền của người bán có được do bán lại hoặc sử dụng hàng nhập khẩu;
• Chi phí vận tải, bảo hiểm và những chi phí liên quan khác để chuyên chở hàng hoá tới
nơi nhập khẩu nếu giá cả tính là giá CIF.
Ðiều 8 cũng nêu rõ, chỉ có những chi phí kể trên mới được tính vào giá cả giao dịch, ngoài ra
không có ngoại lệ nào khác và liệt kê những chi phí không được tính vào trị giá hải quan, nếu nó
tách biệt với giá hàng hoá thực trả hoặc phải trả. Các phí đó là:
• Chi phí vận tải sau khi đã tới địa điểm thông quan ở nước nhập khẩu;
• Chi phí xây dựng, lắp đặt, bảo dưỡng, trợ giúp kỹ thuật sau khi nhập khẩu hàng hoá;
• Thuế quan và thuế ở nước nhập khẩu.
Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định là giá trị hàng hoá để thông quan sẽ được tính dựa trên giá cả
thực trả hoặc phải trả khi hàng hoá được xuất khẩu sang nước nhập khẩu (chẳng hạn theo giá
hoá đơn), bao gồm một số khoản thanh toán mà người mua phải trả như chi phí bao bì và
container, phí bản quyền, giấy phép (xem Hộp 1). Nguyên tắc này không bao gồm những chi phí
hoa hồng và chiết khấu đặc biệt cho đại lý độc quyền và người được chuyển nhượng độc quyền
bán hàng.
Vòng đàm phán Tokyo đã giới hạn nghiêm ngặt những tiêu chuẩn khác nhau mà trên cơ sở đó
hải quan có thể không chấp nhận trị giá giao dịch của người nhập khẩu. Ðây là vấn đề mà nhiều
5
nước đang phát triển quan tâm. Họ cho rằng nguyên tắc này đã hạn chế quá mức khả năng của
hải quan trong việc đối phó với việc khai giảm giá trị hàng hoá của các thương nhân để trốn
tránh nộp thuế. Ðó là một trong những lý do vì sao một loạt các nước đang phát triển ngần ngại
không tham gia vào Hiệp định này trong giai đoạn trước khi Tổ chức WTO ra đời.

Quyết định về các trường hợp khi cơ quan hải quan có lý do để nghi ngờ sự thực hoặc tính
chính xác của giá trị hàng hoá khai báo (được gọi là Quyết định chuyển trách nhiệm dẫn chứng)
được thông qua theo sáng kiến của các nước đang phát triển tại Vòng đàm phán Uruguay, đã
khắc phục khiếm khuyết này. Hiệp định ở vòng đàm phán Tokyo đặt trách nhiệm dẫn chứng vào
hải quan khi hải quan từ chối không chấp nhận giá trị hàng hoá do người nhập khẩu khai báo
(xem Hộp 2). Vòng đàm phán Uruguay chuyển trách nhiệm dẫn chứng sang người nhập khẩu
khi hải quan, trên cơ sở các thông tin về giá cả và các dữ liệu khác, ''có lý do để nghi ngờ sự
thực hoặc tính chính xác của các chi tiết hay của những chứng từ bổ sung'' do người nhập khẩu
khai báo.

b. Những trường hợp cho phép hải quan có thể không chấp nhận giá trị hàng hóa
do người nhập khẩu khai báo
1. Khi việc bán hàng không xảy ra;
2. Khi người mua hạn chế bán hoặc sử dụng hàng hoá đó. Giá trị giao dịch không được
chấp nhận khi hợp đồng bán hàng áp đặt một số hạn chế bán hoặc sử dụng hàng hóa đó,
trừ khi:
- Hạn chế đó là do luật định (chẳng hạn do yêu cầu bao bì đóng gói),
- Hạn chế do giới hạn khu vực địa lý mà ở đó có thể không bán loại hàng đó (ví dụ
hợp đồng phân phối giới hạn việc bán hàng cho các nước châu Âu),
- Hạn chế không ảnh hưởng tới giá trị của hàng hoá (chẳng hạn mẫu mã mới được
nhập khẩu không nên báo trước một ngày cụ thể nào đó).
3. Khi việc bán hàng hoặc giá cả hàng hoá phải chịu một số điều kiện do đó không thể xác
định được giá trị (chẳng hạn người bán xác định giá cả hàng hoá với điều kiện người
mua cũng sẽ mua các hàng hoá khác với một số lượng nhất định);
4. Khi một phần tiền bán lại hàng hoá của người mua chuyển cho người bán;
5. Khi người mua và người bán có mối quan hệ thân quen với nhau và giá cả được xác
định trên cơ sở mối quan hệ đó;

Ðể bảo đảm tính khách quan của việc hải quan không chấp nhận trị giá giao dịch, Hiệp định mới
quy định rằng luật pháp các nước phải dành cho người nhập khẩu một số quyền nhất định.
Trước hết, khi hải quan tỏ ra nghi ngờ về sự thực hoặc tính chính xác cửa giá trị hàng hóa đã
khai báo, người nhập khẩu phải được quyền giải thích, kể cả quyền cung cấp các chứng từ hoặc
những bằng chứng khác để chứng minh rằng giá trị hàng hoá mà họ khai báo là giá trị thực của
6
hàng nhập khẩu. Thứ hai, khi hải quan không thoả mãn với những lời giải thích đó thì người
nhập khẩu có quyền đề nghị hải quan cung cấp cho họ bằng văn bản lý do nghi ngờ tính chính
xác của giá trị hàng hoá mà họ khai báo. Ðiều khoản này bảo vệ lợi ích của người nhập khẩu
bằng cách cho họ có quyền khiếu nại quyết định đó của hải quan lên cấp cao hơn và nếu có thể
lên toà án hoặc một cơ quan độc lập trong hệ thống hải quan.
Nguyên tắc lấy trị giá giao dịch của hàng hoá do người nhập khẩu khai báo làm cơ sở để định
giá hải quan không chỉ được áp dụng với những giao dịch sải tay (giao dịch giữa các công ty
độc lập) mà còn với cả những giao dịch giữa các bên liên quan, thường là giao dịch giữa các
công ty xuyên quốc gia và công ty con, các chải nhánh của công ty xuyên quốc gia đó. Giá cả
trong trường hợp này được tính trên cơ sở giá chuyển giao là giá giao dịch trong nội bộ công ty
hoặc giữa các bên có quan hệ thân thích nên có thể trị giá giao dịch đó không phản ánh đúng trị
giá thực của hàng nhập khẩu. Ngay cả trong những trường hợp như vậy, Hiệp định cũng yêu cầu
hải quan phải trao đổi với người nhập khẩu để xác định bản chất mối quan hệ, hoàn cảnh của
giao dịch đó và liệu mối quan hệ đó có ảnh hưởng tới giá cả không. Nếu hải quan sau khi xem
xét đánh giá và thấy rằng mối quan hệ đó không ảnh hưởng tới giá cả đã khai báo thì trị giá giao
dịch sẽ được xác định trên cơ sở những giá cả đó.
Ngoài ra, để đảm bảo rằng trên thực tế, hải quan không chấp nhận trị giá giao dịch không chỉ
đơn giản là do các bên có quan hệ với nhau, Hiệp định quy định người nhập khẩu có quyền yêu
cầu trị giá giao dịch phải được chấp nhận khi người nhập khẩu chứng minh được rằng trị giá đó
xấp xỉ với những trị giá giao dịch đã được kiểm tra ở địa điểm thông quan trên cơ sở;
• Trị giá hải quan được xác định trong những giao dịch nhập khẩu trước đây, xảy ra cùng
thời điểm với giao dịch này giữa những người mua bán không có quan hệ thân quen với
nhau về những hàng hóa tương tự hay những hàng hoá đồng nhất, hoặc;
• Trị giá theo tính toán hay trị giá quy nạp của những hàng hồi tương tự hay đồng nhất
(xem phần dưới).

 Năm tiêu chuẩn khác
Hải quan sẽ phải xác định trị giá tính thuế như thế nào khi họ quyết định không chấp nhận trị
giá giao dịch do người nhập khẩu khai báo? Ðể bảo vệ lợi ích cho người nhập khẩu và để đảm
bảo rằng trong những trường hợp đó trị giá được xác định trên cơ sở công bằng, Hiệp định giới
hạn sự khác biệt bữa hải quan các nước trong việc định giá hải quan bằng cách đưa ra 5 tiêu
chuẩn. Hiệp định cũng quy định rằng những tiêu chuẩn này phải được áp dụng theo một trật tự
hợp lý như đã quy định trong Hiệp định và chỉ trong trường hợp hải quan thấy không thể áp
dụng được tiêu chuẩn thứ nhất thì trị giá sẽ được xác đinh trên cơ sở các tiêu chuẩn sau.
Các tiêu chuẩn được sử dụng theo thứ tự như sau:
7